|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 05 tháng 02, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 369. HỆ LỤY NỘI TẠI- Kinh Từ Bỏ Kiết Sử (saṃyojanapahānasuttaṃ), Kinh Nhổ Tận Kiết Sử (saṃyojanasamugghātasuttaṃ), Kinh Từ Bỏ Lậu Hoặc (āsavapahānasuttaṃ), Kinh Nhổ Tận Lậu Hoặc (āsavasamugghātasuttaṃ), Kinh Từ Bỏ Tuỳ Miên (anusayapahānasuttaṃ), Kinh Nhổ Tận Tuỳ Miên (anusayasamugghātasuttaṃ). .. ******
Phật học có sự trình bày đa dạng và phong phú về
phiền não nội tại. Mỗi bảng liệt
kê mang ý nghĩa khác nhau. Thắng
Pháp Abhidhamma đặc biệt phân
tích rõ ràng về phương diện nầy
qua sự phân tích hành uẩn với
các thuộc tánh của tâm
(cetasika). Trên phương diện tu
tập thì sự quán chiếu vô thường,
vô ngã đối với sáu nội xứ và sáu
nội xứ mang lại hiệu ứng khác
biệt đối với phiền não. Nói cho
cùng, dù có sự tương đồng nhất
định, thế như do căn tánh sai
biệt nên sự tu tập cũng có phần
khác nhau.
Kinh Từ Bỏ Kiết Sử
(saṃyojanapahānasuttaṃ)
54. “kathaṃ nu kho, bhante, jānato, kathaṃ passato,
saṃyojanā pahīyantī”ti? “cakkhuṃ
kho, bhikkhu, aniccato jānato
passato saṃyojanā pahīyanti.
rūpe... cakkhuviññāṇaṃ...
cakkhusamphassaṃ... yampidaṃ
cakkhusamphassapaccayā uppajjati
vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā
adukkhamasukhaṃ vā tampi
aniccato jānato passato
saṃyojanā pahīyanti. sotaṃ...
ghānaṃ... jivhaṃ... kāyaṃ...
manaṃ... dhamme...
manoviññāṇaṃ...
manosamphassaṃ... yampidaṃ
manosamphassapaccayā uppajjati
vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā
adukkhamasukhaṃ vā tampi
aniccato jānato passato
saṃyojanā pahīyanti. evaṃ kho,
bhikkhu, jānato evaṃ passato
saṃyojanā pahīyantī”ti. dutiyaṃ.
54. Tại Sāvatthī. Khi ấy, một vị tỳ khưu đi đến gần Đức Thế Tôn, đảnh lễ
Ngài, ngồi xuống một bên, và
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người biết rõ, thấy rõ để kiết sử được
từ bỏ?”
[Đức Phật dạy:]
“Này Tỳ khưu, khi một người biết và thấy rằng mắt là vô
thường, thì kiết sử được từ bỏ.
Khi một người biết và thấy rằng
sắc là vô thường, thì kiết sử
được từ bỏ. Khi một người biết
và thấy rằng nhãn thức là vô
thường... khi biết và thấy rằng
nhãn xúc là vô thường...Khi biết
và thấy rằng bất cứ cảm thọ nào
khởi sinh do duyên nhãn xúc—dù
là lạc thọ, khổ thọ hay thọ
không khổ không lạc—là vô
thường, thì kiết sử được từ bỏ.
(Tương tự), khi biết và thấy rằng
tai,,,, mũi,,,, lưỡi,,,,
thân,,,, ý là vô thường, thì
kiết sử được từ bỏ. Khi biết và
thấy rằng các pháp là vô
thường... khi biết và thấy rằng
ý thức là vô thường... khi biết
và thấy rằng ý xúc là vô
thường...Khi biết và thấy rằng
bất cứ cảm thọ nào khởi sinh do
duyên ý xúc—dù là lạc thọ, khổ
thọ hay thọ không khổ không
lạc—là vô thường, thì kiết sử
được từ bỏ .
Này tỳ khưu, khi một người biết rõ,
thấy rõ như vậy thì kiết sử được
từ bỏ.”
Kinh Nhổ Tận Kiết Sử
(saṃyojanasamugghātasuttaṃ)
55. “kathaṃ nu kho, bhante, jānato, kathaṃ passato saṃyojanā
samugghātaṃ gacchantī”ti?
“cakkhuṃ kho, bhikkhu, anattato
jānato passato saṃyojanā
samugghātaṃ gacchanti. rūpe
anattato... cakkhuviññāṇaṃ...
cakkhusamphassaṃ... yampidaṃ
cakkhusamphassapaccayā uppajjati
vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā
adukkhamasukhaṃ vā tampi
anattato jānato passato
saṃyojanā samugghātaṃ gacchanti.
sotaṃ... ghānaṃ... jivhaṃ...
kāyaṃ... manaṃ... dhamme...
manoviññāṇaṃ...
manosamphassaṃ... yampidaṃ
manosamphassapaccayā uppajjati
vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā
adukkhamasukhaṃ vā tampi
anattato jānato passato
saṃyojanā samugghātaṃ gacchanti.
evaṃ kho, bhikkhu, jānato evaṃ
passato saṃyojanā samugghātaṃ
gacchantī”ti. tatiyaṃ.
55. Tại Sāvatthī. Khi ấy, một vị tỳ khưu đi đến gần Đức Thế Tôn, đảnh lễ
Ngài, ngồi xuống một bên, và
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người biết rõ, thấy rõ để kiết sử được
nhổ tận?”
[Đức Phật dạy:]
“Này Tỳ khưu, khi một người biết và thấy rằng mắt là vô ngã, thì kiết sử
được nhổ tận. Khi một người biết
và thấy rằng sắc là vô ngã, thì
kiết sử được nhổ tận. Khi một
người biết và thấy rằng nhãn
thức là vô ngã... khi biết và
thấy rằng nhãn xúc là vô
ngã...Khi biết và thấy rằng bất
cứ cảm thọ nào khởi sinh do
duyên nhãn xúc—dù là lạc thọ,
khổ thọ hay thọ không khổ không
lạc—là vô ngã, thì kiết sử được
nhổ tận.
(Tương tự), khi biết và thấy rằng tai,,,, mũi,,,, lưỡi,,,, thân,,,, ý là
vô ngã, thì kiết sử được nhổ
tận. Khi biết và thấy rằng các
pháp là vô ngã... khi biết và
thấy rằng ý thức là vô ngã...
khi biết và thấy rằng ý xúc là
vô ngã...Khi biết và thấy rằng
bất cứ cảm thọ nào khởi sinh do
duyên ý xúc—dù là lạc thọ, khổ
thọ hay thọ không khổ không
lạc—là vô ngã, thì kiết sử được
nhổ tận .
Này tỳ khưu, khi một người biết rõ, thấy rõ như vậy thì kiết sử được nhổ
tận.”
Kinh Từ Bỏ Lậu Hoặc
(āsavapahānasuttaṃ)
56. “kathaṃ nu kho, bhante, jānato, kathaṃ passato āsavā
pahīyantī”ti ... pe ....
catutthaṃ.
[nội dung giống như kinh số
54, nhưng thay vì kiết sử thì là
lậu hoặc]
Kinh Nhổ Tận Lậu
Hoặc (āsavasamugghātasuttaṃ)
57. “kathaṃ nu kho, bhante, jānato, kathaṃ passato āsavā
samugghātaṃ gacchantī”ti ... pe
.... pañcamaṃ.
[nội dung giống như kinh số 55, nhưng thay vì kiết sử thì là
lậu hoặc]
Kinh Từ Bỏ Tuỳ Miên
(anusayapahānasuttaṃ)
58. “kathaṃ nu kho ... pe ... anusayā pahīyantī”ti ... pe
.... chaṭṭhaṃ.
[nội dung giống như kinh số 54, nhưng thay vì kiết sử thì là
tuỳ miên]
Kinh Nhổ Tận Tuỳ
Miên (anusayasamugghātasuttaṃ)
59. “kathaṃ nu kho ... pe ... anusayā samugghātaṃ
gacchantī”ti? “cakkhuṃ kho,
bhikkhu, anattato jānato passato
anusayā samugghātaṃ gacchanti
... pe ... sotaṃ... ghānaṃ...
jivhaṃ... kāyaṃ... manaṃ...
dhamme... manoviññāṇaṃ...
manosamphassaṃ... yampidaṃ
manosamphassapaccayā uppajjati
vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā
adukkhamasukhaṃ vā tampi
anattato jānato passato anusayā
samugghātaṃ gacchanti. evaṃ kho,
bhikkhu, jānato evaṃ passato
anusayā samugghātaṃ
gacchantī”ti. sattamaṃ.
[nội dung giống như kinh số 55, nhưng thay vì kiết sử thì là
tuỳ miên]
Chú Thích
6 bài kinh từ kinh số 54 tới 59 có bố cục giống nhau đề cập tới 3 liệt kê
phiền não nội tại trong hai
phương diện.
3 liệt kê là kiết sử, lậu hoặc, và tuỳ miên.
Kiết sử (saṃyojanā) là sự cột
trói đối lập với giải thoát.
Mười kiết sử bao gồm:
1.
Thân kiến (sakkāyadiṭṭhi)
2.
Hoài nghi (vicikicchā)
3.
Giới cấm thủ (sīlabbataparāmāsa)
4.
Dục tham (kāmarāga)
5.
Sân (paṭigha)
6.
Sắc ái (rūparāga)
7.
Vô sắc ái (arūparāga)
8.
Ngã mạn (māna)
9.
Trạo cử (uddhacca)
10.
Vô minh (avijjā) Lậu hoặc (āsavā) là pháp rò rĩ khiến chúng sanh luân hồi sanh tử. Bốn lậu hoặc bao gồm: 1. Dục lậu (kāmāsava) 2. Hữu lậu (bhavāsava) 3. Kiến lậu (diṭṭhāsava) 4. Vô minh lậu (avijjāsava) Tùy miên (anusayā) là phiền não ngủ ngầm, tiềm tàng, sanh khởi khi có điều kiện thích hợp. Bảy tuỳ miên gồm có: 1. Tham tùy miên (rāgānusaya) 2. Sân tùy miên (paṭighānusaya) 3. Tà kiến tùy miên (diṭṭhānusaya) 4. Nghi hoặc tùy miên (vicikicchānusaya) 5. Ngã mạn tùy miên (mānānusaya) 6. Hữu ái tùy miên (bhavarāgānusaya) 7. Vô minh tùy miên (avijjānusaya)
Sớ Giải
53-62. avijjāvagge avijjāti catūsu saccesu aññāṇaṃ. vijjāti
arahattamaggavijjā. aniccato
jānato passatoti
dukkhānattavasenāpi jānato
passato pahīyatiyeva, idaṃ pana
aniccavasena kathite
bujjhanakapuggalassa ajjhāsayena
vuttaṃ. eseva nayo sabbattha.
api cettha saṃyojanāti dasa
saṃyojanāni. āsavāti cattāro
āsavā. anusayāti satta anusayā.
sabbupādānapariññāyāti sabbesaṃ
catunnampi upādānānaṃ tīhi
pariññāhi parijānanatthāya.
pariyādānāyāti khepanatthāya.
sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
Chú thích các bài kinh từ số 53 đến 62
"Avijjā" (Vô minh) Là sự
không biết về bốn sự thật (catūsu
saccesu aññāṇaṃ), tức là
không hiểu rõ Tứ Diệu Đế (Khổ,
Tập, Diệt, Đạo).
"Vijjā" (Trí tuệ): Ở đây đề
cập đến trí tuệ của tứ đạo a la
hán (arahattamaggavijjā),
tức là sự giác ngộ hoàn toàn.
"Aniccato jānato passato" (Biết và thấy theo khía cạnh vô thường) Khi biết và thấy vô thường, thì vô minh được đoạn trừ
và trí tuệ sinh khởi. Mặc dù vô
minh cũng có thể được từ bỏ khi
thấy sự khổ (dukkha) và
vô ngã (anatta), nhưng ở
đây nhấn mạnh vào sự vô thường (anicca),
vì đó là cách dễ làm thức tỉnh
một người chưa giác ngộ (bujjhanakapuggala).
"Saṃyojanā" (Các kiết sử) Đây là mười kiết sử (dasa
saṃyojanāni), "Āsavā" (Các
lậu hoặc)
Gồm bốn loại lậu hoặc (cattāro
āsavā):"Anusayā" (Các tùy
miên – phiền não tiềm ẩn) Gồm
bảy loại tùy miên (satta
anusayā):Sabbupādānapariññāyā"
(Liễu tri các thủ) Gồm bốn loại
chấp thủ (catunnampi
upādānānaṃ):"Pariyādānāya" (Sự diệt tận hoàn toàn) có nghĩa là sự tiêu diệt hoàn toàn
(khepanatthāya), tức là
đoạn trừ tất cả các kiết sử và
lậu hoặc.
"Eseva nayo sabbattha" (Cũng theo cách này ở mọi chỗ khác) Điều này có
nghĩa là nguyên tắc này được áp
dụng cho tất cả các căn và pháp
khác.
"Sesaṃ sabbattha uttānameva" (Phần còn lại đều rõ ràng) Câu này có nghĩa
rằng các bài kinh còn lại đã quá
rõ ràng và không cần giải thích
thêm.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
I. Phẩm Vô Minh
54.II Kiết Sử(1)
(S.iv,31)
1) ...
3)-- Do biết như thế nào, bạch Thế Tôn, do thấy như thế nào, các
kiết sử được đoạn tận?
4-9) -- Này các Tỷ-kheo, do biết, do thấy mắt là vô thường, các
kiết sử được đoạn tận... Các sắc... Nhãn thức... Nhãn xúc... Do
duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì ; do biết, do thấy cảm thọ ấy là
vô thường, các kiết sử được đoạn tận.
10) Do biết như vậy, này các Tỷ-kheo, do thấy như vậy, các kiết
sử được đoạn tận.
55.III. Kiết Sử (2)
(S.iv,31)
1-2) ...
3) -- Do biết như thế nào, bạch Thế Tôn, do thấy như thế nào,
các kiết sử được nhổ sạch?
4-6) -- Này các Tỷ-kheo, do biết, do thấy mắt là vô ngã, các
kiết sử được nhổ sạch... Các sắc... Nhãn thức... Nhãn xúc... Do
duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc ;
do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô ngã, các kiết sử được nhổ
sạch.
10) Do biết như vậy, này các Tỷ-kheo, do thấy như vậy, các kiết
sử được nhổ sạch.
56-57.IV-V. Các Lậu Hoặc (1-2)
(S.iv,32)
(Như hai kinh trên, chỉ thế vào các lậu hoặc).
58-59.VI-VII. Các Tùy Miên (1-2)
(S.iv,32)
(Như hai kinh trên, chỉ thế vào các tùy miên).
60.VIII. Liễu Tri (Parijnnà)
(S.iv,32)
-ooOoo- |