|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 08 tháng 02, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 370. THẤY RÕ TOÀN BỘ SỰ BÁM VÍU- Kinh Liễu Tri Nhất Thiết Thủ Chấp (sabbupādānapariññāsuttaṃ). .. ******
Sự chấp thủ là phần tâm lý khó chuyển đổi của chúng
sanh. Thái độ khư khư chấp chặt
đối với thị hiếu, quan điểm, sự
hành trì, và “cái tôi” là những
điều rất khó gỡ. Phải thấy được
tất cả tuỳ thuộc vào nhiều nhân,
nhiều duyên không thật sự có cốt
lõi trường cữu thì mới tự mình
trờ về với tâm thái rỗng rang vô
chấp. Thấy được nhân duyên kết
hợp thì mới thấy sự mong manh.
Một bữa cơm ngon không phải chỉ
thức ăn ngon mà còn bụng có đói,
người cùng ăn có vui, thời điểm
có thích hợp… Thấy được
nhiều yếu
tố thì thấy được tính tương đối.
60. “sabbupādānapariññāya vo, bhikkhave, dhammaṃ desessāmi.
taṃ suṇātha. katamo ca,
bhikkhave, sabbupādānapariññāya
dhammo? cakkhuñca paṭicca rūpe
ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ.
tiṇṇaṃ saṅgati phasso.
phassapaccayā vedanā. evaṃ
passaṃ, bhikkhave, sutavā
ariyasāvako cakkhusmimpi
nibbindati, rūpesupi nibbindati,
cakkhuviññāṇepi nibbindati,
cakkhusamphassepi nibbindati,
vedanāyapi nibbindati. nibbindaṃ
virajjati; virāgā vimuccati;
vimokkhā {vimokkhaṃ (ka.),
vimokkha (syā. kaṃ.)}
‘pariññātaṃ me upādānan’ti
pajānāti. sotañca paṭicca sadde
ca uppajjati... ghānañca paṭicca
gandhe ca... jivhañca paṭicca
rase ca... kāyañca paṭicca
phoṭṭhabbe ca... manañca paṭicca
dhamme ca uppajjati
manoviññāṇaṃ. tiṇṇaṃ saṅgati
phasso. phassapaccayā vedanā.
evaṃ passaṃ, bhikkhave, sutavā
ariyasāvako manasmimpi
nibbindati, dhammesupi
nibbindati, manoviññāṇepi
nibbindati, manosamphassepi
nibbindati, vedanāyapi
nibbindati. nibbindaṃ virajjati;
virāgā vimuccati; vimokkhā
‘pariññātaṃ me upādānan’ti
pajānāti. ayaṃ kho, bhikkhave,
sabbupādānapariññāya dhammo”ti.
aṭṭhamaṃ.
60. “Này chư Tỳ khưu, Ta sẽ giảng Pháp cho các Thầy về sự liễu tri tất cả
chấp thủ.
“Này chư Tỳ khưu, thế nào là sự liễu tri tất cả chấp
thủ?.
Tuỳ thuộc vào mắt, cảnh sắc nên nhãn
thức sanh khởi. Sự hội tụ ba yếu
tố gọi là xúc. Với xúc là điều
kiện thọ sanh khởi. Vị thánh đệ
tử có học hiểu thấy vậy cảm nhận
sự nhàm chán đối với mắt, đối
với cảnh sắc, đối với nhãn xúc,
đới với cảm thọ. Do nhàm chán vị
ấy ly tham. Do ly tham tâm được
giải thoát. Với sự giải thoát vị
ấy biết rõ: “Chấp thủ đã được tự
thân liễu tri”.
Tuỳ thuộc vào tai, cảnh thinh….
Tuỳ thuộc vào ý, cảnh pháp nên ý thức
sanh khởi. Sự hội tụ ba yếu tố
gọi là xúc. Với xúc là điều kiện
thọ sanh khởi. Vị thánh đệ tử có
học hiểu thấy vậy cảm nhận sự
nhàm chán đối với ý, đối với
cảnh pháp, đối với ý xúc, đới
với cảm thọ. Do nhàm chán vị ấy
ly tham. Do ly tham tâm được
giải thoát. Với sự giải thoát vị
ấy biết rõ: “Chấp thủ đã được tự
thân liễu tri”.
“Này Tỳ khưu, khi một người biết và
thấy rằng mắt là vô thường, thì
kiết sử được từ bỏ. Khi một
người biết và thấy rằng sắc là
vô thường, thì kiết sử được từ
bỏ. Khi một người biết và thấy
rằng nhãn thức là vô thường...
khi biết và thấy rằng nhãn xúc
là vô thường...Khi biết và thấy
rằng bất cứ cảm thọ nào khởi
sinh do duyên nhãn xúc—dù là lạc
thọ, khổ thọ hay thọ không khổ
không lạc—là vô thường, thì kiết
sử được từ bỏ.
“Này chư Tỳ khưu, đây là sự liểu tri tất cả chấp thủ”.
Chú Thích
Có bốn loại chấp thủ (catunnampi upādānānaṃ):
1.
Dục thủ (kāmupādāna) là sự bám víu do
thị dục.
2.
Kiến thủ (diṭṭhupādāna) là sự bám víu
vào quan điểm hay cái nhìn.
3.
Giới cấm thủ (sīlabbatupādāna) là sự
bám víu vào những hành trì vô bổ
đặc biệt là mê tín dị đoan.
4.
Ngã luận
thủ (attavādupādāna) là
sự bám víu vào sự tự thị cả
nhân.
Sự hiểu biết này đạt được thông qua ba loại trí tuệ (tīhi pariññāhi):
1.
Ñāta-pariññā: Tri kiến tổng quan là sự
hiểu biết chung.
2.
Tīraṇa-pariññā: Trí tuệ phân tích là sự
hiểu biết những yếu tố kết hợp
3.
Pahāna-pariññā: Trí tuệ đoạn trừ (phiền
não liên hệ pháp ấy)
Chấp thủ là sự bám chấp rất khó buông bỏ. Sự từ bỏ chỉ đến từ sự hiểu biết
sâu sắc với đầy đủ ngọn ngành.
Khi nói “liễu tri tất cả” có nghĩa là sự thấy biết tường tận các phương
diện căn, cảnh, thức, xúc, thọ
theo duyên khởi “do cái nầy có
nên cái kia có” tạo thành tác
động dây chuyền. Như một người
vướng mắc vào hình ảnh nào đó do
mắt thấy cảnh sanh tâm ái chấp;
một khi không tiếp tục (với nhãn
xúc) thì cảm thọ cũng mờ nhạt
dần. Không có cái còn mãi mà tuỳ
thuộc ở nhiều nhân, nhiều duyên
để tồn tại. Nhân và duyên ở đây
có yếu tố bên trong lẫn bên
ngoài. Thấy được sự mong manh,
tụ tán giả hợp, biến đổi vô
chừng sẽ giúp hành giả bào mòn
sự chấp thú.
Sớ Giải
53-62. avijjāvagge avijjāti catūsu saccesu aññāṇaṃ. vijjāti
arahattamaggavijjā. aniccato
jānato passatoti
dukkhānattavasenāpi jānato
passato pahīyatiyeva, idaṃ pana
aniccavasena kathite
bujjhanakapuggalassa ajjhāsayena
vuttaṃ. eseva nayo sabbattha.
api cettha saṃyojanāti dasa
saṃyojanāni. āsavāti cattāro
āsavā. anusayāti satta anusayā.
sabbupādānapariññāyāti sabbesaṃ
catunnampi upādānānaṃ tīhi
pariññāhi parijānanatthāya.
pariyādānāyāti khepanatthāya.
sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
Chú thích các bài kinh từ số 53 đến 62
"Avijjā" (Vô minh) Là sự
không biết về bốn sự thật (catūsu
saccesu aññāṇaṃ), tức là
không hiểu rõ Tứ Diệu Đế (Khổ,
Tập, Diệt, Đạo).
"Vijjā" (Trí tuệ): Ở đây đề
cập đến trí tuệ của tứ đạo a la
hán (arahattamaggavijjā),
tức là sự giác ngộ hoàn toàn.
"Aniccato jānato passato" (Biết và thấy theo khía cạnh vô thường) Khi biết và thấy vô thường, thì vô minh được đoạn trừ
và trí tuệ sinh khởi. Mặc dù vô
minh cũng có thể được từ bỏ khi
thấy sự khổ (dukkha) và
vô ngã (anatta), nhưng ở
đây nhấn mạnh vào sự vô thường (anicca),
vì đó là cách dễ làm thức tỉnh
một người chưa giác ngộ (bujjhanakapuggala).
"Saṃyojanā" (Các kiết sử) Đây là mười kiết sử (dasa
saṃyojanāni), "Āsavā" (Các
lậu hoặc)
Gồm bốn loại lậu hoặc (cattāro
āsavā):"Anusayā" (Các tùy
miên – phiền não tiềm ẩn) Gồm
bảy loại tùy miên (satta
anusayā):Sabbupādānapariññāyā"
(Liễu tri các thủ) Gồm bốn loại
chấp thủ (catunnampi
upādānānaṃ):"Pariyādānāya" (Sự diệt tận hoàn toàn) có nghĩa là sự tiêu diệt hoàn toàn
(khepanatthāya), tức là
đoạn trừ tất cả các kiết sử và
lậu hoặc.
"Eseva nayo sabbattha" (Cũng theo cách này ở mọi chỗ khác) Điều này có
nghĩa là nguyên tắc này được áp
dụng cho tất cả các căn và pháp
khác.
"Sesaṃ sabbattha uttānameva" (Phần còn lại đều rõ ràng) Câu này có nghĩa
rằng các bài kinh còn lại đã quá
rõ ràng và không cần giải thích
thêm.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
I. Phẩm Vô Minh
60.VIII. Liễu Tri (Parijnnà)
(S.iv,32)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp đưa đến
liễu tri tất cả chấp thủ. Hãy lắng nghe.
3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp đưa đến liễu tri tất cả
chấp thủ?
4) Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này
hợp lại có xúc. Do duyên xúc có thọ. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo,
bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với
các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn
xúc, nhàm chán đối với với thọ. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do
ly tham, vị ấy được giải thoát. Nhờ giải thoát, vị ấy biết rõ:
"Ta đã liễu tri chấp thủ".
5-8) Do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức... Do duyên mũi
và các hương... Do duyên lưỡi và các vị... Do duyên thân và các
xúc...
9) Do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này hợp
lại có xúc. Do duyên xúc có thọ. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc
Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các
pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc, nhàm
chán đối với thọ. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy
được giải thoát. Nhờ giải thoát, vị ấy biết rõ: "Ta đã liễu tri
chấp thủ".
10) Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến liễu tri tất cả
chấp thủ.
-ooOoo- |