|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 11, tháng 02, 2025 Sinh hoạt đặc biệt-Huý Nhật Sư Trưởng Giác Chánh ...
1. Lời mở đầu 2. Đạo từ của Hoà thượng Tuệ Siêu 3. Sư Trưởng và sự phổ biến Tạng Vi Diệu Pháp (Thắng Pháp Tạng) 4. Sư Trưởng và nỗ lực đào tạo chư tăng 5. Sư Trưởng và những đóng góp về hoằng pháp 6. Sư Trưởng và quan niệm huân tu chánh tín, chánh kiến 7. Hoàn mãn
TIỂU SỬ TRƯỞNG LÃO HOÀ THƯỢNG GIÁC CHÁNH
Ngài sinh năm 1947 tại Vĩnh Long, thế danh là Phạm Văn
Chánh. Thân phụ ngài là cụ
ông Phạm Văn Trị
(1904-1996), thân mẫu là cụ
bà Nguyễn Thị Hai
(1910-1966). Thời tuổi trẻ
ngài sống chung với cha mẹ,
đến năm 20 tuổi lập gia
đình với cô Nguyễn Thị
Mười và có một cô con gái
duy nhất tên Phạm Thị Lý.
Năm 1967, chỉ vài tháng sau
khi cô con gái chào đời,
ngài bỏ nhà đi xuất gia với
Hòa thượng Tịnh Sự ở chùa
Viên Giác (Long Hồ, Vĩnh
Long) và theo chân thầy học
đạo, đặc biệt chuyên tâm
tạng A-Tỳ-Đàm suốt 5 năm.
Năm 1970, ngài tháp tùng Hòa thượng bổn sư tìm ra Hòn Nghệ
nằm ngoài khơi biển Kiên
Giang để tu tập thiền định
trong hoàn cảnh một thầy
một trò. Năm 1971, ngài
xin phép thầy ra chùa Tam
Bảo (Vũng Tàu) học thiền Tứ
Niệm Xứ với Hòa thượng
Giới Nghiêm trong một
năm. Năm 1973, ngài vào
tòng học ở Phật Học Viện
Phật Bảo cũng của Hòa
thượng Giới Nghiêm.
Trong khoảng thời gian từ 1970 đến 1975, ngài là một giảng
sư ở Sài Gòn và các tỉnh (
Vũng Tàu, Mỹ Tho, Vĩnh Long)
và đã dành thời giờ biên
soạn, ấn hành các đầu sách
như Pháp Âm (2 tập), Pháp
Thừa (2 tập), Chánh Đạo
Ngâm Khúc (Thi hóa nội
dung kinh Cát Tường –
Mangalasutta), Đạo Trường
Siêu Thanh (không xuất
bản), Vi Diệu Pháp Nhập
Môn (in sau 1975).
Năm 1976, ngài đã cùng Hòa thượng Thiện Pháp vào rừng Bình
Sơn (liền dãy với An Diễn,
Suối Trầu, Cẩm Đường bây
giờ) để xây dựng ngôi chùa
Thiền Quang mái tranh vách
đất và nuôi dạy gần mấy
mươi sa di cùng giới tử
(Soạn giả cũng có trong số
này). Đây chính là chỗ xuất
thân của một thế hệ vàng
gồm nhiều vị tăng thành tựu
đạo nghiệp sau này như
ngài Giác Giới – viện chủ
tổ đình Viên Giác hôm nay,
ngài Bửu Chánh – viện chủ
thiền viện Phước Sơn,
ngài Giác Đẳng – viện chủ
chùa Pháp Luân (Hoa Kỳ),
ngài Giác Trí – viện chủ
chùa Hộ Pháp (Vũng Tàu),
ngài Chánh Minh – viện chủ
chùa Bồ Đề (Vũng Tàu) lúc đó
là cư sĩ ngoại thiền cũng
biết đến A-Tỳ-Đàm vào thời
điểm này. Bên cạnh đó là
những vị đã hồi tục như sư
Giác Liêm, sư Giác Hải
(hiện ở Canada), sư Giác
Quang là dịch giả Luật Tạng
hiện ở Vũng Tàu, hoặc đã
viên tịch như ngài Giác
Lý, ngài Giác Niệm, ngài
Giác Tâm – viện chủ chùa
Tứ Phương Tăng ở Bình
Phước, sư Ngộ Đạo (vừa
viên tịch trước tết 2020).
Điều đáng nói là trong thời điểm 1977-1980 điều kiện sinh
hoạt cực kỳ khó khăn, cả
chùa phải ăn cơm độn
khoai mì, nhưng các lớp học
A-Tỳ-Đàm vẫn đều đặn. Có
vị, như Thượng tọa Giác
Đẳng, mỗi tuẩn từ chùa Thiền
Quang vào dạy ở Sài Gòn (ở
hai tư gia cư sĩ đường
Nguyễn Thiện Thuật và Trần
Hưng Đạo). Đặc biệt với
số lượng vừa giới hạnh vị
tăng trẻ, ngài Giác Chánh
và Hòa thường Thiện Pháp
(nay là viện chủ chùa Thiền
Quang I) đã thành lập Ban
Hoằng Pháp với các tiểu ban
Pháp Chế, Giảng Sư, Giám
Luật… Người ít nhưng làm
việc hiệu quả, với sự hỗ
trợ đắc lực của các cư sĩ
như cô Bảy Vĩnh Phúc (một
giáo thọ A-Tỳ-Đàm), gia đình
cô Song Ánh, cô Diệu Lạc
(nay đã xuất gia với thiền
sư Kim Triệu), cô Nguyễn
Thị Bền (nay đang ở Đức) và
cả cụ Đốc Hiểu (đã cúng
dường bộ Tam Tạng tiếng
Thái trước khi mất năm
1978). Chính ngài Sơ tổ Hộ
Tông và Đại lão Hòa thượng
Hộ Giác cũng từng vào tận
ngôi chùa rừng này để hỗ
trợ tinh thần nhóm tăng
trẻ. Xúc động nhất là ngài
Tăng thống đương nhiệm
của Nam Tông Việt Nam lúc
đó là Đại lão Ẩn Lâm ở trụ
sở Kỳ Viên đã tự tay phơi
khô từng ổ bánh mì khất
thực được ở Sài Gòn để gởi
người mang ra chùa rừng
Thiền Quang nuôi nhóm tăng
trẻ và tạo điều kiện cho
các vị vào dạy học tại chùa
Kỳ Viên là trụ sở giáo hội
thời đó.
Số lượng thành viên Ban Hoằng Pháp tuy không nhiều, nhưng
phần hành của mỗi tiểu ban
rất rõ ràng và làm việc
hiệu quả. Ban Giảng Sư đến
từ các tỉnh, mỗi ba tháng có
cuộc họp mặt tại chùa rừng
Thiền Quang để báo cáo những
việc đã làm được hay trình
bày những khó khăn đang
gặp phải. Ban Giám Luật có
trách nhiệm quan sát và
kiểm tra các giới tử trước
khi chư tăng bỏ phiếu
quyết định có đồng thuận
cho đắp y thọ giới hay
không. Tất cả đều là phiếu
kín. Các giới tử muốn thọ
giới sa di phải thuộc lòng
105 giới sa di bằng tiếng
Pāli và 14 phận sự tăng
sĩ bằng tiếng Việt, cùng
với phần hạnh kiểm được
chư tăng tại chùa nhận
xét.
Hoạt động của Ban Hoằng Pháp kéo dài đến cuối năm 1981 thì
vì nhiều chướng duyên đã
đình chỉ sau gần 20 phiên
họp tam cá nguyệt. Sau đó
ngài Giác Chánh đã rời khỏi
chùa Thiền Quang về an cư
một mùa mưa tại chùa Bửu
Long (khi đó ngài sơ tổ Hộ
Tông đã đi Pháp). Sau mùa
an cư này, ngài trở về Long
Thành nhận đất cúng dường
của bà Đại Tín để xây dựng
chùa Thiền Quang II. Và tất
cả chư tăng huynh đệ gọi
chùa Thiền Quang cũ trong
rừng là Thiền Quang I. Cả
hai Thiền Quang I và Thiền
Quang II tiếp tục tồn tại
cho đến bây giờ.
Đầu năm 1983, ngài Giác Chánh phát động phong trào học
thuộc Tam Tạng Pāli bằng
cách giao cho mỗi vị một
bộ kinh để học thuộc lòng,
đều bằng tiếng Pāli, và mỗi
3 tháng lại có một cuộc
thi trùng tụng. Bất cứ chư
tăng hay cư sĩ nào trong 3
tháng trước đó đã học xong
120 trang kinh tạng Pāli
thì được trao tặng một
phần thưởng có tên gọi là
Giải Nibbāna. Ba lần
Nibbāna thì được một lần
Saddhamma với phần thưởng
nhiều gấp đôi. Những người
nhận học và thi Tam Tạng
Pāli thời đó theo phát
động của ngài có khoảng 20
người, có thể kể lại đại
khái như sau: sư Giác Tấn
và cô Diệu Ngọc chịu trách
nhiệm bộ Paṭṭhāna, sư
Ngộ Giới chịu trách nhiệm
bộ Yamaka, sư Chánh Ngữ
chịu trách nhiệm bộ
Kathāvatthu, sư Chánh Pháp
chịu trách nhiệm bộ
Vibhaṅga, sư Toại Khanh và
sư Chánh Nghiệp chịu trách
nhiệm bộ Dhammasaṅganī,…
Bên cạnh phong trào học
thuộc Tam Tạng, các giảng
sư phải trải qua các buổi
khảo nghiệm trình độ
A-Tỳ-Đàm với chính ngài Giác
Chánh. Lúc này Hòa thượng
Tịnh Sự vẫn còn tại tiền. Và
nhân chứng cho các sự kiện
trên đây hiện vẫn còn
không ít người.
Cũng do nhân duyên, phong trào học thuộc lòng Tam Tạng cũng
chỉ kéo dài khoảng được 3
năm thì ngừng hẳn. Đến đầu
năm 1987, ngài Giác Chánh
lại tiếp tục phát động
phong trào phiên dịch kinh
điển từ các nguồn tiếng Anh
và tiếng Thái. Phần tiếng
Thái là do cư sĩ Ngô Văn
Kỷ đứng ra hướng dẫn tiếng
Thái cho chư tăng. Các
sách tiếng Thái được đặt
mua từ Thái Lan do cư sĩ
Trần Bá Thế mang về. Do xét
thấy phần Luật Tạng chưa
được phiên dịch ở Việt
Nam nên ngài đã ra phần
thưởng hậu hỷ cho những vị
nào dịch sách Luật. Chính
nhờ phong trào này mà toàn
bộ giáo trình A-Tỳ-Đàm của
đại học Rakhang của Thái
được dịch toàn bộ sang
tiếng Việt và phổ biến
rộng rãi trong chư tăng.
Chính ngài Giác Chánh là người đầu tiên mà cũng là duy nhất
tổ chức Pháp hội mỗi ba
tháng ở các chùa trong nhóm
đệ tử Hòa thượng Tịnh Sự.
Nội dung của các Pháp hội
này là những chư tăng hay
cư sĩ nào có viết bài
thuyết trình về các đề tài
giáo lý đều có thể ghi danh
và được sắp xếp thời gian
để thay phiên nhau lên
thuyết trình trong mỗi kỳ
Pháp hội với thời gian kéo
dài suốt đêm. Ở các chùa
ngoài nhóm thì mỗi năm chỉ
có nhiều lắm là 2 đêm Pháp
hội và nội dung không dày
đặc như vậy. Thường chỉ
là một hai thời pháp của
chư tăng rồi tiếp theo là
các tiết mục tụng kinh,
ngâm kệ Pāli, ngồi thiền
đại chúng và đố vui Phật
Pháp. Việc khích lệ chư
tăng và cư sĩ thuyết trình
Phật Pháp đã được ngài
đặc biệt quan tâm và tổ
chức từ trước năm 1980 cho
đến sau 1990.
Từ năm 1989, ngài rời khỏi Long Thành và về xây dựng chùa
Bửu Đức ở Biên Hòa trên
ngôi chùa cũ được gia đình
sư Pháp Bửu hiến cúng. Tại
đây mỗi chủ nhật chùa đều
có một buổi giảng pháp cho
Phật tử địa phương do
chính ngài hoặc chư tăng
trong chùa đảm nhiệm.
Theo thời gian, tuổi đời càng lớn, ngài từ chối dần công
việc của giáo hội, chỉ còn
giữ lại vai trò giảng sư
cho các trường hạ trong
tỉnh Đồng Nai, không còn
hoằng pháp nơi xa nữa.
Thời gian tịnh cư tại chùa Bửu Đức đã cho ngài cơ hội đọc
sách và biên soạn kinh điển
theo đúng ước mơ từ thời
trẻ. Năm 1991, theo lời
yêu cầu của một Phật tử
thân tín, ngài đã tra lục
kinh điển để thực hiện bộ
trường thi có tên là Phật
Sử Diễn Ca dài 10.000 câu,
gấp năm lần truyện Kiều.
Bộ này khi được tái bản
được đặt tựa mới là Đấng
Thiên Nhân Sư Gotama. Từ
sau năm 2000, ngài dành
nhiều thời gian để nghiên
cứu và thực tập pháp môn
Niệm Xứ.
Đương nhiên không ai ở Việt Nam có đủ thẩm quyền để đưa
ra một đánh giá so sánh là
vị nào hơn kém vị nào,
nhưng những ai đã từng đọc
và nghe ngài, chắc chắn đều
phải nhận rằng ngài là một
chuyên gia về A-Tỳ-Đàm của
Nam Truyền và Duy Thức Học
của Bắc phái. Ngài không sở
hữu bất cứ một bằng cấp học
vị nào mà mọi sở tri đều là
tự học, nhưng có nghe và
đọc ngài mới hiểu kiến văn
của ngài là không bờ mé.
Từ năm 2005, ngài đã dành trọn thời gian để đọc kỹ và san
định hai bộ Thanh Tịnh Đạo
và Vô Ngại Giải Đạo. Tiếc
là mãi cho đến lúc viên
tịch, công trình này dầu đã
hoàn tất, vẫn chưa được ấn
hành. Bên cạnh công việc
này ngài đã nhận lời thỉnh
cầu của chư tăng vào góp
mặt trong các buổi giảng
Paltalk. Ngài khiêm tốn nói
rằng chỉ đảm nhận vai trò
của một lão tướng thủ
thành, điền khuyết vào những
buổi giảng mà các giảng sư
trẻ tuổi vắng mặt. Sự có
mặt của ngài đã làm cho các
buổi giảng trở nên ấm cúng
và chắc chắn là có phần
thâm hậu hơn.
Song song theo đó, sau các buổi thiền tập một mình, ngài đã
viết lại tất cả kinh nghiệm
vào trong bộ Chiếu Kiến
Nghiệp Xứ dày khoảng 400
trang, tất cả chỉ được phát
hành nội bộ. Mong là chúng
ta có đủ nhân duyên để
phát hành bộ sách này và
những công trình khác của
ngài vào một ngày gần nhất.
Đời ngài chỉ vỏn vẹn 74 năm với 50 năm mặc áo tu nhưng
tâm nguyện của ngài không
biết cho đến thế hệ nào mới
có thể làm tròn được. Và
dấu ấn mà ngài để lại cho
Phật giáo Việt Nam biết
bao lâu mới có thể phai mờ.
Thậm chí nhiều người đã
nhận được nguồn ân trạch
của ngài qua các trung gian
cũng không hề biết đến điều
này. Đối với Hòa thượng
Tịnh Sự, ngài giống như
Khuy Cơ của ngài Huyền
Trang hay Tăng Triệu với
La Thập. Không có Hòa
thượng Tịnh Sự thì người
Việt không biết đến tạng
A-Tỳ-Đàm và ngài Giác Chánh
chính là người thay mặt
thầy giao phó viên ngọc báu
này đến tận tay nhiều
người, qua nhiều phương
tiện và nhiều trung gian.
Thậm chí có thể nói rằng
pháp môn Tứ Niệm Xứ và
giáo lý Duyên Khởi đã nhờ
hai ngài mà được xiển
dương và nhận thức đúng
đắn dù chỉ ở một số ít
người tại Việt Nam giữa
một thời buổi mà Phật giáo
hình thức đã đẩy lùi Phật
giáo nội dung.
Mối quan tâm lớn nhất thuở bình sinh của Hòa thượng không phải
là kiến tạo chùa chiền, mà
lại nhằm vào hai việc khác
là đào tạo các thế hệ tăng
tài và truyền bá giáo pháp,
đặc biệt giáo lý A Tỳ Đàm và
pháp môn Tứ Niệm Xứ. Hòa
thượng đã để lại những người
học trò có thể ít nhiều tiếp
nối được lý tưởng của ngài
và một số ngôi chùa do ngài
khai sơn hoặc tiếp nhận mà
mục đích vẫn là để hoằng
truyền Phật Pháp. Có thể kể
ra đây một số ngôi chùa do
ngài trực tiếp hoặc gián
tiếp xây dựng như Thiền
Quang II (Thượng tọa Chí Tâm
trụ trì), chùa Nguyên Thủy
(Cát Lái, Hoà thượng Pháp
Chất trụ trì), chùa Quảng
Nghiêm (Thượng tọa Tuệ Quyền
trụ trì), chùa Cồ Đàm
(Thượng tọa Chơn Thiện trụ
trì), chùa Siêu Lý (Vĩnh
Long), chùa Ngọc Đạt Phước
Tân (Hòa thượng Trí Đức trụ
trì)….chưa kể những ngôi
chùa có quan hệ đặc biệt như
Thiền Quang I, Siêu Lý (Phú
Định, Thượng tọa Pháp Nhiên
trụ trì), Viên Giác (Vĩnh
Long), Tứ Phương Tăng (Cần
Thơ).
Ngài không có nhiều đệ tử truyền giới, trước sau có lẽ không
hơn 20 vị. Hai vị đệ tử đầu
tiên của ngài là Thượng tọa
Trí Quảng (hiện là trụ trì
chùa Bửu Môn, Texas, Hoa
Kỳ), Thượng tọa Trí Tịnh
(trụ trì chùa Phật Pháp,
Florida, Hoa Kỳ) và người đệ
tử cuối cùng là Đại đức Pháp
Tín, người thị giả tận tụy
đã chăm sóc ngài trong những
năm tháng cuối đời cho đến
tận phút viên tịch và hiện
cũng đang là người kế thừa
tổ đình Bửu Đức (Biên Hòa),
đồng thời cũng là một giảng
sư trên Paltalk.
Ngài đã ra đi nhưng vẫn còn đó. Cho đến bao giờ còn có người
cần đến ánh nắng cho hơi ấm
và ánh sáng, còn cần đến
dưỡng khí để mà thở và còn
cần biết đến cái gì là biển
rộng trời cao giữa nhân
gian tù đọng này.
Tampa, mùa tang 2020
Pháp tử Toại Khanh kính ghi
o0o |