|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 12 tháng 02, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 371. THÂN VIỄN LY, TÂM VIỄN LY- Kinh Migajàla I ( paṭhamamigajālasuttaṃ). ******
Một trong những trọng điểm mà
người tu tập cần nhận thức là
vượt qua hình tướng để nắm bắt
được thực chất. Chiếc y ca sa,
bình bát độ nhật có thể là những
tư cụ thiết yếu để trở thành một
sa môn. Nhưng đời tu không phải
chỉ có vậy. Đi xa hơn là khả
năng sống một mình. Am thất
thanh vắng hay rừng sâu núi thẳm
có thể nói lên phần nào tâm lý
thoát trần nhưng phải rất cẩn
trọng vì đôi khi sống độc cư chỉ
là một sở thích các nhân. Tất cả
sự tham cầu những điều vừa lòng
toại ý đối với sắc, thinh,
hương, vị, xúc, pháp đều là thực
chất “chung sống với bạn đồng
hành” và làm hỏng giá trị thật
sự của đời sống độc cư.
63. sāvatthinidānaṃ. atha kho
āyasmā migajālo yena bhagavā ...
pe ... ekamantaṃ nisinno kho
āyasmā migajālo bhagavantaṃ
etadavoca — “‘ekavihārī,
ekavihārī’ti, bhante, vuccati.
kittāvatā nu kho, bhante,
ekavihārī hoti, kittāvatā ca
pana sadutiyavihārī hotī”ti?
“santi kho, migajāla,
cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā
manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā
rajanīyā. tañce bhikkhu
abhinandati abhivadati ajjhosāya
tiṭṭhati. tassa taṃ abhinandato
abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato
uppajjati nandī {nandi (sī. syā.
kaṃ. pī.)} . nandiyā sati sārāgo
hoti; sārāge sati saṃyogo hoti.
nandisaṃyojanasaṃyutto kho,
migajāla, bhikkhu
sadutiyavihārīti vuccati. santi
... pe ... santi kho, migajāla,
jivhāviññeyyā rasā iṭṭhā kantā
manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā
rajanīyā. tañce bhikkhu
abhinandati abhivadati ajjhosāya
tiṭṭhati. tassa taṃ abhinandato
abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato
uppajjati nandī. nandiyā sati
sārāgo hoti; sārāge sati saṃyogo
hoti. nandisaṃyojanasaṃyutto
kho, migajāla, bhikkhu
sadutiyavihārīti vuccati.
evaṃvihārī ca, migajāla, bhikkhu
kiñcāpi araññavanapatthāni
pantāni senāsanāni paṭisevati
appasaddāni appanigghosāni
vijanavātāni
manussarāhasseyyakāni
{manussarāhaseyyakāni (sī. syā.
kaṃ. pī.)} paṭisallānasāruppāni;
atha kho sadutiyavihārīti
vuccati. taṃ kissa hetu? taṇhā
hissa dutiyā, sāssa appahīnā.
tasmā sadutiyavihārī”ti vuccati.
“santi ca kho, migajāla,
cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā
manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā
rajanīyā. tañce bhikkhu
nābhinandati nābhivadati
nājjhosāya tiṭṭhati. tassa taṃ
anabhinandato anabhivadato
anajjhosāya tiṭṭhato nandī
nirujjhati. nandiyā asati sārāgo
na hoti; sārāge asati saṃyogo na
hoti. nandisaṃyojanavisaṃyutto
kho, migajāla, bhikkhu
ekavihārīti vuccati ... pe ...
santi ca kho, migajāla,
jivhāviññeyyā rasā ... pe ...
santi ca kho, migajāla,
manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā
manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā
rajanīyā. tañce bhikkhu
nābhinandati nābhivadati
nājjhosāya tiṭṭhati. tassa taṃ
anabhinandato anabhivadato
anajjhosāya tiṭṭhato nandī
nirujjhati. nandiyā asati sārāgo
na hoti; sārāge asati saṃyogo na
hoti. nandisaṃyojanavippayutto
kho, migajāla, bhikkhu
ekavihārīti vuccati. evaṃvihārī
ca, migajāla, bhikkhu kiñcāpi
gāmante viharati ākiṇṇo
bhikkhūhi bhikkhunīhi upāsakehi
upāsikāhi rājūhi rājamahāmattehi
titthiyehi titthiyasāvakehi.
atha kho ekavihārīti vuccati.
taṃ kissa hetu? taṇhā hissa
dutiyā, sāssa pahīnā. tasmā
ekavihārīti vuccatī”ti.
paṭhamaṃ.
Tại Sāvatthī. Bấy giờ Tôn giả
Migajāla đi đến Đức Thế Tôn,
đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên
và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, được nói rằng:
‘người sống một mình, người sống
một mình.’ Bạch Thế Tôn, như thế
nào là một người sống một mình,
và như thế nào là một người sống
cùng bạn đồng hành?”
“Này Migajāla, có những sắc được
nhận thức bởi mắt, đáng ưa, dễ
thương, khả ái, hấp dẫn, lôi
cuốn, kích thích dục vọng. Nếu
một tỳ-kheo tìm lạc thú trong
chúng, hoan hỷ với chúng, và
chấp thủ chúng, thì lạc hỷ khởi
lên. Khi có lạc hỷ thì có si mê.
Khi có si mê thì có trói buộc.
Bị trói buộc bởi xiềng xích của
lạc hỷ, này Migajāla, một tỳ
khưu được gọi là người sống cùng
bạn đồng hành.
“Cũng vậy, này Migajāla, có
những âm thanh được nhận thức
bởi tai… hương được nhận thức
bởi mũi… vị được nhận thức bởi
lưỡi… xúc được nhận thức bởi
thân… pháp được nhận thức bởi
tâm, đáng ưa, dễ thương, khả ái,
hấp dẫn, lôi cuốn, kích thích
dục vọng. Nếu một tỳ-kheo tìm
lạc thú trong chúng… thì vị ấy
được gọi là người sống cùng bạn
đồng hành.
“Này Migajāla, ngay cả khi một
tỳ khưu sống như vậy mà trú tại
rừng sâu, trong những chỗ ở xa
xôi, nơi có ít tiếng động và ít
ồn ào, hoang vắng, khuất xa mọi
người, thích hợp cho sự tĩnh
lặng, thì vị ấy vẫn được gọi là
người sống cùng bạn đồng hành.
Vì sao vậy? Vì tham ái là bạn
đồng hành của vị ấy, và vị ấy
chưa từ bỏ nó; do đó vị ấy được
gọi là người sống cùng bạn đồng
hành.
“Này Migajāla, có những sắc được
nhận thức bởi mắt, đáng ưa, dễ
thương, khả ái, hấp dẫn, lôi
cuốn, kích thích dục vọng. Nếu
một tỳ-kheo không tìm lạc thú
trong chúng, không hoan hỷ với
chúng, không chấp thủ chúng, thì
lạc hỷ chấm dứt. Khi không có
lạc hỷ thì không có si mê. Khi
không có si mê thì không có trói
buộc. Được giải thoát khỏi xiềng
xích của lạc hỷ, này Migajāla,
một tỳ khưu được gọi là người
sống một mình.
“Cũng vậy, này Migajāla, có
những âm thanh được nhận thức
bởi tai… hương được nhận thức
bởi mũi… vị được nhận thức bởi
lưỡi… xúc được nhận thức bởi
thân… pháp được nhận thức bởi
tâm, đáng ưa, dễ thương, khả ái,
hấp dẫn, lôi cuốn, kích thích
dục vọng. Nếu một tỳ khưu không
tìm lạc thú trong chúng… thì vị
ấy được gọi là người sống một
mình.
“Này Migajāla, ngay cả khi một
tỳ khưu sống như vậy mà ở gần
làng mạc, giao du với các tỳ
khưu và tỳ khưu ni, với nam cư
sĩ và nữ cư sĩ, với vua chúa và
đại thần, với các giáo chủ ngoại
đạo và đệ tử của họ, thì vị ấy
vẫn được gọi là người sống một
mình. Vì sao vậy? Vì tham ái vốn
là bạn đồng hành của vị ấy, và
vị ấy đã từ bỏ nó; do đó vị ấy
được gọi là người sống một
mình.”
Chú Thích
Tôn giả Migajāla là con trai của
bà Visākhā, đệ nhất nữ cư sĩ
trong giáo pháp của Đức Phật.
Ngài xuất gia do nghe Phật
thuyết pháp và chỉ một thời gian
ngắn chứng thánh quả a la hán.
Sống một mình hay sống viễn ly
là điểm nhấn quan trọng của hành
trình tu tập. Trong nhiều bài
kinh như trong Trung Bộ có ba
thứ viễn ly – viveka - được đề
cập:
Kàya viveka – thân viễn ly – là
nếp ẩn cư xa lánh những chỗ ồn
ào, đông người.
Citta viveka – tâm viễn ly – là
sự an tịnh nội tâm với sự không
truy cầu dục lạc.
Upadhi viveka - sở y viễn ly -
chỉ cho niết bàn vượt thoát tất
cả bám chấp và hệ luỵ.
Nội dung bài kinh nầy đặc biệt
nói tới tâm viễn ly (citta
viveka)
Sống ẩn dật nơi an tịnh là điều
tốt để tu tập nội tại nhưng
không nên quá tự tin là khi sống
trong chỗ thanh tịnh thì là
người biết sống độc cư. Đức Phật
dạy rõ cho đến khi nào một người
tu tập không tầm cầu những thứ
thoả mãn thị dục thì mới gọi là
thật sự sống một mình (không
đồng hành cùng tham ái)
Sớ Giải
63. migajālavaggassa
paṭhame cakkhuviññeyyāti
cakkhuviññāṇena passitabbā.
sotaviññeyyādīsupi eseva nayo.
iṭṭhāti pariyiṭṭhā vā hontu mā
vā, iṭṭhārammaṇabhūtāti attho.
kantāti kamanīyā. manāpāti
manavaḍḍhanakā. piyarūpāti
piyajātikā. kāmūpasaṃhitāti
ārammaṇaṃ katvā uppajjamānena
kāmena upasaṃhitā rajanīyāti
rañjanīyā,
rāguppattikāraṇabhūtāti attho.
nandīti taṇhānandī. saṃyogoti
saṃyojanaṃ.
nandisaṃyojanasaṃyuttoti
nandībandhanena baddho.
araññavanapatthānīti araññāni ca
vanapatthāni ca. tattha kiñcāpi
abhidhamme nippariyāyena
“nikkhamitvā bahi indakhīlā
sabbametaṃ araññan”ti (vibha.
529) vuttaṃ, tathāpi yaṃ taṃ
“pañcadhanusatikaṃ pacchiman”ti
(pārā. 654)
araññakaṅganipphādakaṃ senāsanaṃ
vuttaṃ, tadeva adhippetanti
veditabbaṃ. vanapatthanti
gāmantaṃ atikkamitvā manussānaṃ
anupacāraṭṭhānaṃ, yattha na
kasīyati na vapīyati. vuttampi
cetaṃ —
“vanapatthanti dūrānametaṃ
senāsanānaṃ adhivacanaṃ.
vanapatthanti vanasaṇḍānametaṃ,
vanapatthanti bhiṃsanakānametaṃ,
vanapatthanti
salomahaṃsānametaṃ,
vanapatthanti pariyantānametaṃ,
vanapatthanti amanussūpacārānaṃ
senāsanānametaṃ adhivacanan”ti
(vibha. 531).
ettha ca pariyantānanti imaṃ
ekaṃ pariyāyaṃ ṭhapetvā
sesapariyāyehi vanapatthāni
veditabbāni. pantānīti
pariyantāni atidūrāni.
appasaddānīti
udukkhalamusaladārakasaddādīnaṃ
abhāvena appasaddāni.
appanigghosānīti tesaṃ tesaṃ
ninnādamahānigghosassa abhāvena
appanigghosāni. vijanavātānīti
sañcaraṇajanassa
sarīravātavirahitāni.
manussarāhasseyyakānīti
manussānaṃ rahokammassa
anucchavikāni.
paṭisallānasāruppānīti
nilīyanasāruppāni.
63. Bài kinh đầu tiên trong phẩm
Migajāla
Cakkhuviññeyyā
có nghĩa là "được nhận thức bởi
nhãn thức" – tức là những gì có
thể được thấy bằng mắt. Tương tự
như vậy, sotaviññeyyā và
những trường hợp khác cũng mang
ý nghĩa tương tự, tức là những
gì có thể được nhận thức bởi nhĩ
thức, tỷ thức, thiệt thức, thân
thức và ý thức.
Iṭṭhā
có nghĩa là "đáng ưa thích," dù
nó có được mong cầu hay không,
nhưng ở đây nó có nghĩa là những
đối tượng đáng ưa thích.
Kantā có nghĩa là "đáng
yêu." Manāpā có nghĩa là
"làm cho tâm được vui thích, dễ
chịu." Piyarūpā có nghĩa
là "thuộc về điều đáng yêu."
Kāmūpasaṃhitā
có nghĩa là bị ràng buộc bởi dục
lạc, tức là những gì có thể kích
thích sự tham ái khi lấy nó làm
đối tượng. Rajanīyā có
nghĩa là những gì làm phát sinh
sự luyến ái.
Rāguppattikāraṇabhūtā có
nghĩa là nguyên nhân làm khởi
lên dục ái.
Nandi
có nghĩa là sự thích thúc.
Saṃyoga có nghĩa là sự trói
buộc. Nandisaṃyojanasaṃyutta
có nghĩa là bị ràng buộc bởi
xiềng xích của tham ái.
Arañña
có nghĩa là rừng hoang,
vanapattha có nghĩa là những
khu vực rừng núi xa xôi. Mặc dù
trong Thắng Pháp có nói một cách
rốt ráo rằng:
Vanapattha
có nghĩa là khu vực rừng núi xa
khu dân cư, nơi con người không
thường xuyên lui tới, không có
hoạt động canh tác như cày cấy
hay gieo trồng. Như trong Kinh
tạng có nói:
Ở đây, ngoại trừ nghĩa pariyanta
(rìa ngoài của khu rừng), các
nghĩa còn lại đều có thể hiểu là
vanapattha.
Pantāni
có nghĩa là những nơi ở xa xôi,
cách biệt. Appasaddāni có nghĩa
là những nơi ít âm thanh, tức là
không có tiếng ồn của cối giã
gạo, chày, trẻ em chơi đùa, v.v.
Appanigghosāni có nghĩa là không
có âm thanh vang vọng lớn.
Vijanavātāni
có nghĩa là không có những cơn
gió từ cơ thể của những người đi
lại, tức là ít có người qua lại.
Manussarāhasseyyakāni có nghĩa
là những nơi thích hợp để con
người thực hành những pháp môn
cần đến sự riêng tư.
Paṭisallānasāruppāni có nghĩa là
những nơi thích hợp cho sự tịnh
cư và ẩn dật
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
II. Phẩm Migajàla
63.I. Bởi Migajàla (S.iv,35)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi...
2) Tôn giả Migajàla đi đến Thế Tôn...
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Migajàla bạch Thế Tôn:
-- "Sống một mình! Sống một mình!", bạch Thế Tôn, được nói đến
như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là sống một mình? Và
cho đến như thế nào là sống có người thứ hai?
4) -- Này Migajàla, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả
hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan
hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy ; do vị ấy hoan
hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy nên hỷ (nandi)
khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham (sàràgo) có mặt. Do dục tham
có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược,
này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người sống có người thứ
hai.
5-8) ... có những tiếng do tai nhận thức... có những hương do
mũi nhận thức... có những vị do lưỡi nhận thức... có những xúc
do thân nhận thức...
9) Này Migajàla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ,
khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ,
tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy ; do vị ấy hoan hỷ,
tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy nên hỷ khởi lên. Do
hỷ có mặt nên dục tham có mặt. Do dục tham có mặt nên triền
phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên
Tỷ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.
10) Tỷ-kheo sống như vậy, này Migajàla, dầu cho đến ở các trú xứ
xa vắng, các khóm rừng, các khu rừng, ít tiếng động, ít ồn ào,
khỏi hơi thở quần chúng (vijanavàtàni), vắng người, thích hợp
với tịnh; dầu vậy, vẫn được gọi là sống với người thứ hai.
11) Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, chưa được đoạn tận cho
nên được gọi là sống có người thứ hai.
12-14) Và này Migajala, có các sắc do mắt nhận thức, khả lạc,
khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo
không hoan hỷ, không tán dương và trú với lòng không tham luyến
pháp ấy; thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương và trú với
lòng không tham luyến pháp ấy, nên hỷ đoạn diệt; thời do hỷ
không có mặt nên dục tham không có mặt. Do dục tham không có mặt
nên triền phược không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền
phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người trú một mình.
15-16) ...Này Migajàla, có những vị do lưỡi nhận thức...
17) Này Migajàla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ,
khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan
hỷ, không tán dương và trú với tâm không tham luyến pháp ấy;
thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương, trú với tâm không
tham luyến pháp ấy nên hỷ đoạn diệt. Do hỷ không có mặt nên dục
tham không có mặt. Do dục tham không có mặt nên triền phược
không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này
Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người trú một mình.
18) Tỷ-kheo sống như vậy, này Migajàla, dầu có ở giữa làng tràn
đầy những Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vua chúa,
đại thần của vua, các ngoại đạo và các đệ tử các ngoại đạo, vị
ấy vẫn được gọi là vị sống một mình.
19) Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, được đoạn tận, do vậy
được gọi là sống một mình.
-ooOoo- |