|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 16 tháng 02, 2025
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
Phần IV: ÔN CỐ TRI TÂN
- TÀM QUÝ LÀ NỀN TẢNG CỦA GIỚI HẠNH -
Kurudhammajātaka (jataka 276)
Annabhaccā cabhaccā ca,
Câu chuyện tiền
thân
Thuở xưa rất xưa vương quốc
Kāliṅga trải qua thời kỳ hạn hán dài khiến ruộng đồng
khô cạn, thực phẩm khan hiếm, người chết vì đói khắp
nơi. Nhà vua triệu tập quần thần để tìm phương cứu vãn.
Một đại thần tâu rằng: “Đuợc nghe xứ Kuru mưa thuận gió
hoà, bá tánh an cư lạc nghiệp do có được bảo vật là hắc
tượng Añjanavasabho. Nếu có thể. nên tìm cách mượn voi
báu ấy về sẽ giúp đất nước thoát nạn hạn hán.”.
Nghe vậy, nhà vua lập tức mời tám vị bà la môn tài ba trong vương quốc lập
thành đoàn khâm sứ, mang theo nhiều vàng bạc, đi đến
nước Kuru để tìm cách mượn voi báu.
Quan khâm sứ đến kinh đô xứ Kuru tìm hỏi tin tức được
biết là vào mỗi ngày trai giới trong tháng vua xứ nầy
cỡi voi báu tới đông môn khích lệ thần dân huân tu thiện
pháp. Phái đoàn đã đến diện kiến nhà vua rồi trao lễ
phẩm. Sau đó thỉnh cầu nhà vua cho mượn voi báu đem về
cứu khổ xứ Kuru. Nghe xong, nhà vua trả lời:
Cổ đức
đã dạy rằng
Rồi lập tức đồng ý cho mượn
hắc tượng Añjanavasabho. Voi
báu được mang về xứ Kaliṅga một thời gian, nhưng hạn hán
vẫn tiếp tục. Vua trong xứ triệu tập quần thần để hội ý.
Một thành viên của đoàn khâm sứ đã thưa rằng khi đến xứ
Kuru có cảm nhận là không phải nhờ voi báu mà mưa thuận
gió hoà mà chính ở sự tu tập giới hạnh của phần đông
người xứ ấy. Nhà vua hỏi vậy làm thế nào để trì giới.
Viên quan trả lời: Trước hết, xin nhà vua thọ giới rồi
hành trì. Sau đó truyền giới lại cho thần dân trong
nước. Càng nhiều người tu thì đại nạn càng sớm được giải
nguy. Nhà vua bảo rằng tự thân không thể rời vương quốc
lúc nầy thôi thì cử một đoàn khâm sứ khác đến xứ Kuru
xin được truyền giới. "Nhà vua sẽ cho mang theo những
tấm bảng bằng vàng. Khi được truyền giới, họ sẽ khắc các
học giới vào bảng vàng, rồi mang về nước. Sau đó, nhà
vua sẽ tụng giới và hành trì."
Đoàn khâm sứ lên đường, mang theo voi báu và lễ
phẩm, đến vương quốc Kuru để hoàn trả hắc tượng
Añjanavasabho, rồi dâng lễ phẩm lên vua Kuru. Sau đó
trình bày việc xin trao truyền giới pháp. Nghe xong, nhà
vua bảo: Trẩm là người trì giới nhưng không hoàn toàn
thanh tịnh vì trong lễ hạ nguyên Kattika theo phong tục
đã đến một hồ nước bắn bốn mũi tên về bốn hướng nhưng
sau đó chỉ tìm lại được ba. Mũi tên thứ tư có lẽ đã rơi
xuống hồ đâm phải một con cá nào đó. Sự hoài nghi nầy có
thể khiến giới bất tịnh. Ta sẽ
truyền giới nhưng để bảo đảm thì nên đến xin hoàng thái
hậu truyền giới vì đó là người chuyên tâm trì giới.
Nghe vậy đoàn khâm sứ khắc giới pháp lên một bảng
vàng rồi theo hướng dẫn tìm đến hoàng thái hậu để xin
truyền giới. Sau khi nghe trình bày, Hoàng Thái Hậu bảo
rằng: Ta sẽ truyền giới nhưng không chắc có hiệu ứng như
các người mong đợi vì bản thân cũng có chút hoài nghi.
Số là gần đây ta nhận được hai món quà sau đó đem cho
hai người con dâu. Xuyến vàng thì cho dâu lớn, còn lọ
hương trầm thì tặng dâu nhỏ. Nghĩ lại có chút thiên vị
vì phân biệt đối xử. Điều nầy có thể khiến giới hạnh
không hoàn toàn thanh tịnh. Ta sẽ truyền giới nhưng để
bảo đảm thì nên đến xin đương kim hoàng hậu truyền giới
vì đó là người năng hành trì giới.
Nghe vậy đoàn khâm sứ khắc giới pháp lên một bảng vàng
rồi theo hướng dẫn tìm đến hoàng hậu để xin truyền giới.
Nghe xong hoàng hậu ôn tồn bảo: Ta cũng có chút hoài
nghi về giới hạnh của mình vì một lần nhìn phó vương
diễn hành trên phố đã khởi tà tâm ước muốn người đó làm
chồng mình. Dù chỉ là ý nghĩ thoáng qua
có thể khiến giới
hạnh bất tịnh. Ta
sẽ truyền giới nhưng để bảo đảm thì nên đến xin phó vương truyền giới vì đó là người nghiêm trì giới hạnh.
Nghe vậy đoàn khâm sứ khắc giới pháp lên một bảng
vàng rồi theo hướng dẫn tìm đến phó vương để xin truyền
giới. Nghe xong phó vương
bảo rằng: Ta thật sự cũng không bảo đảm giới hạnh
của mình tinh nghiêm vì mới đây vào cung diện kiến nhà
vua. Bấy giờ trời mưa giông nhà vua giữ ta lại trong
cung nhưng vì mệt nên ngủ quên khiến cả đoàn tuỳ tùng
thức trắng trọn đêm chờ đợi bên ngoài. Ta sẽ truyền giới
nhưng để bảo đảm thì nên đến xin vị tế sư truyền giới vì
đó là người rất xem nặng giới hạnh.
Câu chuyện tiếp tục theo cách tương tự. Vị tế sư
đồng ý truyền giới nhưng cũng tự nghi ngờ vì có lần thấy
long xa đẹp khởi ý muốn được nhà vua ban tặng. Vị nầy
giới thiệu đoàn khâm sứ đến gặp người quản tượng.
Người quản tượng cũng có nghi hoặc vì mới đây đóng
cọc vào đất nhằm hang cua dường như vô tình giết hại
sinh vật.
Được giới thiệu sang người đánh xe đoàn khâm sứ
cũng được nghe về chút hoài nghi do đánh mạnh vào mông
ngựa để đi nhanh vì sợ nhà vua bị mưa giông.
Người tiếp theo đoàn khâm sứ tìm đến là vị trưởng
giả. Vị nầy cũng cho biết là vì gấp nên khi thăm ruộng
đã lấy vài cây lúa quấn vào gậy. Mà ruộng lúa đó vốn
dành để cho nhà vua nên e rằng giới bất tịnh.
Người giữ kho thóc là nhân vật được giới thiệu
tiếp theo. Vị nầy cũng không tự tin về giới hạnh thanh
tịnh vì đã dùng một số thóc đánh dấu sau đó quên không
tính vào số thóc sung công.
Đoàn khâm sứ lại được giới thiệu đến một người
giới hạnh thanh tịnh khác đó là viên chức giữ cổng
thành. Một lần nữa lại nghe chuyện giới bất tịnh hôm qua
đã quở trách cặp nam nữ vào thành lúc sắp đóng cửa. Vị
nghĩ rằng đôi nam nữ đó vì tình tứ mà vào sau chót. Khi
hỏi ra mới biết là hai anh em ruột đi nhặt củi ngoài
thành.
Người sau cùng được quan giữ cửa giới thiệu về trì
giới thanh tịnh là … một kỹ nữ. Cô gái nầy đã nhận một
khoản tiền lớn từ một người đang ông để qua đêm nhưng
sau đó người đàn ông không đến. Cô kỹ nữ chờ đợi ba năm
mòn mõi không tiếp khách khác và xoay xở suốt thời gian
đó với tiền dành dụm của mình. Sau ba năm, người đàn ông
xuất hiện thì hoá ra là thiên chủ Đế Thích thử lòng
người. Thiên chủ đã cho nàng số tài sản lớn an hưởng
phần đời còn lại.
Nàng kỹ nữ đã truyền giới cho đoàn khâm sứ. Học
giới được khắc lên bảng vàng sau cùng. Khi đoàn về lại
xứ Kaliṅga, nhà vua đã thọ trì ngũ giới cùng với thần
dân. Những hạt mưa rơi xuống. Cuộc sống bá tánh trở lại
bình thường sau cơn khổ nạn.
Câu chuyện thời Đức Phật
Có hai vị tỳ khưu, là bạn thân
từ thành Xá-vệ, sau khi xuất gia và thọ đại giới, thường
cùng nhau du hành. Một ngày nọ, họ đến dòng sông
Aciravatī. Sau khi tắm xong, họ đứng trên bờ cát, tận
hưởng ánh nắng mặt trời và trò chuyện vui vẻ.
Lúc ấy, hai con ngỗng trời bay
ngang qua đầu họ. Một trong hai người nhặt một viên đá
lên và nói: "Tôi sẽ ném trúng vào mắt con ngỗng kia!"
"Tôi làm được mà" – người thứ
nhất khẳng định – "Không những vậy, tôi có thể ném trúng
bất kỳ con mắt nào mà tôi muốn!"
"Vậy hãy nhìn đây!" – vị kia
ta nói, rồi nhặt một viên đá sắc cạnh và ném về phía con
ngỗng.
Nghe tiếng viên đá lao vút qua
không trung, con ngỗng quay đầu lại nhìn. Lập tức, người
kia nhặt một viên đá tròn và ném vào mắt gần nhất của
con chim, viên đá xuyên qua và trổ ra từ con mắt bên
kia. Con ngỗng kêu lên một tiếng thảm thiết, lộn nhào
giữa không trung rồi rơi xuống ngay dưới chân họ.
Những vị tỳ khưu chứng kiến
cảnh đó liền chạy đến, trách móc vị đã ném đá:
"Thật đáng xấu hổ! Ngươi đã
xuất gia trong giáo pháp cao quý này, tại sao lại sát
sinh hại vật?"
Ngay sau đó họ đến gặp Đức Thế
Tôn. Nghe xong câu chuyện, Đức Phật quở trách:
"Này tỳ khưu, làm sao ngươi có
thể hành động như vậy sau khi đã bước vào giáo pháp giải
thoát? Những bậc trí giả thuở xưa, dù không gặp thời
Phật ra đời, trong cuộc sống tại gia đầy ô nhiễm, vẫn
cảm thấy hối hận chỉ vì những lỗi lầm rất nhỏ. Còn
ngươi, đã đi theo con đường cao thượng này, lại chẳng có
chút tàm quý nào sao? Một vị tỳ khưu phải biết kiểm soát
hành động, lời nói và ý nghĩ của mình."
Rồi Đức Phật kể một câu chuyện
quá khứ về nạn hạn hán của xứ Kaliṅga.
Khi kể xong câu chuyện, bậc
Ðạo sư tuyên thuyết tứ đế và giải thích tiền thân. Thính
chúng có nhiều người chứng đắc đạo quả. Ở phần kết
bậc Ðạo Sư nhận diện như sau:
- Uppalavannà (Liên Hoa Sắc)
là nàng kỹ nữ, Punna là người gác cổng thành, người quản
tượng là Kuccàna,
người coi vựa thóc là Kolita, vị trưởng giả là
Sàriputta, người lái xe là Anuruddha (A-na-luật), vị tế
sư là trưởng lão Kassapa (Ðại Ca-diếp); Phó vương là
Nandapandita ; chánh hậu là mẹ của Rāhula (La-hầu-la),
hoàng thái hậu là bà Mayà, còn vị vua xứ Kuru là Ta.
Tỳ kheo Giác Đẳng phóng tác từ kinh Bổn Sanh. |