|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 25 tháng 02, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 376. CHÁNH NIỆM LÀ BIẾT RÕ HIỆN TẠI- Kinh Upavāṇa Và Pháp Thiết Thực Hiện Tiền (upavāṇasandiṭṭhikasuttaṃ). ******
Chánh niệm là sự tỉnh táo ghi nhận đối với những gì
đang xẩy ra đối với tâm, cảnh
trong hiện tại. Chính điều nầy
tạo nên hiệu ứng thấy biết trực
tiếp và thiết thực hiện tiền. Vì
chánh niệm là trọng điểm của
thiền quán (vipassana) nên được
gọi là trái tim của giáo pháp.
Không hiểu và huân tu chánh niệm
thì chưa thấy được giá trị đích
thực của Phật Pháp.
Kinh Văn
70.
atha kho āyasmā upavāṇo yena
bhagavā tenupasaṅkami ... pe ...
ekamantaṃ nisinno kho āyasmā
upavāṇo bhagavantaṃ etadavoca —
“‘sandiṭṭhiko dhammo,
sandiṭṭhiko dhammo’ti, bhante,
vuccati. kittāvatā nu kho,
bhante, sandiṭṭhiko dhammo hoti,
akāliko ehipassiko opaneyyiko
paccattaṃ veditabbo viññūhī”ti?
“idha
pana, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā
rūpaṃ disvā rūpappaṭisaṃvedī ca
hoti rūparāgappaṭisaṃvedī ca.
santañca ajjhattaṃ rūpesu rāgaṃ
‘atthi me ajjhattaṃ rūpesu
rāgo’ti pajānāti. yaṃ taṃ,
upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ
disvā rūpappaṭisaṃvedī ca hoti
rūparāgappaṭisaṃvedī ca.
santañca ajjhattaṃ rūpesu rāgaṃ
‘atthi me ajjhattaṃ rūpesu
rāgo’ti pajānāti. evampi kho,
upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti
akāliko ehipassiko opaneyyiko
paccattaṃ veditabbo viññūhī”ti
... pe ....
“puna
caparaṃ, upavāṇa, bhikkhu
jivhāya rasaṃ sāyitvā
rasappaṭisaṃvedī ca hoti
rasarāgappaṭisaṃvedī ca.
santañca ajjhattaṃ rasesu rāgaṃ
‘atthi me ajjhattaṃ rasesu
rāgo’ti pajānāti. yaṃ taṃ,
upavāṇa, bhikkhu jivhāya rasaṃ
sāyitvā rasappaṭisaṃvedī ca hoti
rasarāgappaṭisaṃvedī ca.
santañca ajjhattaṃ rasesu rāgaṃ
‘atthi me ajjhattaṃ rasesu
rāgo’ti pajānāti. evampi kho,
upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti
akāliko ehipassiko opaneyyiko
paccattaṃ veditabbo viññūhī”ti
... pe ....
“puna
caparaṃ, upavāṇa, bhikkhu manasā
dhammaṃ viññāya
dhammappaṭisaṃvedī ca hoti
dhammarāgappaṭisaṃvedī ca.
santañca ajjhattaṃ dhammesu
rāgaṃ ‘atthi me ajjhattaṃ
dhammesu rāgo’ti pajānāti. yaṃ
taṃ, upavāṇa, bhikkhu manasā
dhammaṃ viññāya
dhammappaṭisaṃvedī ca hoti
dhammarāgappaṭisaṃvedī ca.
santañca ajjhattaṃ dhammesu
rāgaṃ ‘atthi me ajjhattaṃ
dhammesu rāgo’ti pajānāti.
evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko
dhammo hoti ... pe ... paccattaṃ
veditabbo viññūhī”ti ... pe ....
“idha
pana, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā
rūpaṃ disvā rūpappaṭisaṃvedī ca
hoti, no ca
rūparāgappaṭisaṃvedī. asantañca
ajjhattaṃ rūpesu rāgaṃ ‘natthi
me ajjhattaṃ rūpesu rāgo’ti
pajānāti. yaṃ taṃ, upavāṇa,
bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā
rūpappaṭisaṃvedīhi kho hoti, no
ca rūparāgappaṭisaṃvedī.
asantañca ajjhattaṃ rūpesu rāgaṃ
‘natthi me ajjhattaṃ rūpesu
rāgo’ti pajānāti. evampi kho,
upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo
hoti, akāliko ehipassiko
opaneyyiko paccattaṃ veditabbo
viññūhī”ti ... pe ....
“puna
caparaṃ, upavāṇa, bhikkhu
jivhāya rasaṃ sāyitvā
rasappaṭisaṃvedīhi kho hoti, no
ca rasarāgappaṭisaṃvedī.
asantañca ajjhattaṃ rasesu rāgaṃ
‘natthi me ajjhattaṃ rasesu
rāgo’ti pajānāti ... pe ....
“puna
caparaṃ, upavāṇa, bhikkhu manasā
dhammaṃ viññāya
dhammappaṭisaṃvedīhi kho hoti,
no ca dhammarāgappaṭisaṃvedī.
asantañca ajjhattaṃ dhammesu
rāgaṃ ‘natthi me ajjhattaṃ
dhammesu rāgo’ti pajānāti. yaṃ
taṃ, upavāṇa, bhikkhu manasā
dhammaṃ viññāya
dhammappaṭisaṃvedīhi kho hoti,
no ca dhammarāgappaṭisaṃvedī.
asantañca ajjhattaṃ dhammesu
rāgaṃ ‘natthi me ajjhattaṃ
dhammesu rāgo’ti pajānāti.
evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko
dhammo hoti, akāliko ehipassiko
opaneyyiko paccattaṃ veditabbo
viññūhī”ti. aṭṭhamaṃ.
Bấy giờ Tôn giả Upavāṇa đi đến Đức
Thế Tôn... và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, được là nói: ‘Pháp thiết thực hiện
tiền, Pháp thiết thực hiện
tiền.’ Điều này có nghĩa là gì,
bạch Thế Tôn? Pháp như thế nào
là thiết thực hiện tiền, vượt
ngoài thời gian, đến để thấy
biết, hướng nội và hướng thượng,
thể nghiệm bởi người có trí?”
[Đức Phật đáp:]
“Này Upavāṇa, ở đây một tỳ khưu khi thấy sắc với mắt; trải nghiệm sắc ấy
cũng như tham dục đối với sắc.
Vị ấy biết rằng biết rõ sự
trạng: ‘nội tâm có tham dục đối
với sắc này.’. Này Upavāṇa, như
vậy là Pháp thiết thực hiện
tiền, vượt ngoài thời gian, đến
để thấy biết, hướng nội và hướng
thượng, thể nghiệm bởi người có
trí”.
“Này Upavāṇa, tương tự như vậy, khi nghe một âm thanh bằng tai... khi nhận
biết một pháp bằng ý; trải
nghiệm cảnh pháp ấy cũng như
tham dục đối với cảnh pháp ấy.
Vị ấy biết rằng biết rõ sự
trạng: ‘nội tâm có tham dục đối
với cảnh pháp này.’. Này
Upavāṇa, như vậy là Pháp thiết
thực hiện tiền, vượt ngoài thời
gian, đến để thấy biết, hướng
nội và hướng thượng, thể nghiệm
bởi người có trí.
“Này Upavāṇa, ở đây một tỳ khưu khi thấy sắc với mắt; trải nghiệm sắc ấy
mà không khởi lên tham dục đối
với sắc. Vị ấy biết rằng biết rõ
sự trạng: ‘nội tâm có không có
tham dục đối với sắc này.’. Này
Upavāṇa, như vậy là Pháp thiết
thực hiện tiền, vượt ngoài thời
gian, đến để thấy biết, hướng
nội và hướng thượng, thể nghiệm
bởi người có trí”.
“Này Upavāṇa, tương tự như vậy, khi nghe một âm thanh bằng tai... khi nhận
biết một pháp bằng ý; trải
nghiệm cảnh pháp ấy mà không có
tham dục đối với cảnh pháp ấy.
Vị ấy biết rằng biết rõ sự
trạng: ‘nội tâm không có tham
dục đối với cảnh pháp này.’. Này
Upavāṇa, như vậy là Pháp thiết
thực hiện tiền, vượt ngoài thời
gian, đến để thấy biết, hướng
nội và hướng thượng, thể nghiệm
bởi người có trí.
Chú Thích
Upavāṇa sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn giàu có tại thành Xá-vệ
(Sāvatthi). Mặc dù sống trong sự
sung túc, ngài đã vô cùng xúc
động khi chứng kiến vẻ uy nghiêm
của Đức Phật trong lễ cúng dường
tại Kỳ Viên Tịnh Xá (Jetavana
Monastery). Ngay sau đó Ngài,
xuất gia và không bao lâu đã
chứng đắc A-la-hán với lục
thông. Trước khi Tôn giả Ānanda
được chọn làm thị giả chính của
Đức Phật, Upavāṇa đã đảm nhận
nhiệm vụ này trong một thời
gian; được biết là tận tụy, chu
đáo đối với Đức Phật. Tôn giả
Upavāṇa là một tấm gương về lòng
tận tụy và sự phục vụ không mệt
mỏi đối với Đức Phật. Hành trình
từ một Bà-la-môn giàu có đến một
A-la-hán, vai trò thị giả của
ông, cùng với những công đức
trong tiền kiếp, đều minh chứng
cho sức mạnh của đức tin, lòng
khiêm hạ, và trí tuệ.
Thuật ngữ Sandiṭṭhiko là một phần trong công thức tiêu chuẩn để quán chiếu
về Giáo Pháp (Dhamma), chỉ thiếu
thuật ngữ đầu tiên svākkhāto
("khéo thuyết giảng"). Câu đầy
đủ là: Svākkhāto bhagavatā
dhammo sandiṭṭhiko akāliko
ehipassiko opanayiko paccattaṃ
veditabbo viññūhī - "Pháp do Thế
Tôn khéo thuyết giảng, thiết
thực hiện tiền, vượt ngoài thời
gian, đến để thấy biết, hướng
nội và hướng thượng, thể nghiệm
bởi người có trí”.
Theo Sớ giải thì bài kinh nầy có hai phần:
Phần đầu: Sự quán chiếu của bậc hữu học (sekha), tức là những người đang
trên con đường tu tập nhưng chưa
hoàn toàn giác ngộ.
Phần sau: Sự quán chiếu của bậc vô học (asekha), tức là bậc Arahant, đã
đoạn tận tất cả phiền não và
không còn tham ái đối với bất kỳ
pháp nào.
Dù giải thích như vậy, nhưng
đối với hành giả tu tập thì dù
là phàm nhân vẫn có lúc đối với
cảnh khởi tham luyến hoặc không
tham luyến.
Sớ Giải
70. aṭṭhame rūpappaṭisaṃvedīti nīlapītādibhedaṃ ārammaṇaṃ vavatthāpento
rūpaṃ paṭisaṃviditaṃ karoti,
tasmā rūpappaṭisaṃvedī nāma
hoti. rūparāgappaṭisaṃvedīti
kilesassa atthibhāveneva pana
rūparāgaṃ paṭisaṃviditaṃ karoti
nāma, tasmā
rūparāgappaṭisaṃvedīti vuccati.
sandiṭṭhikotiādīni visuddhimagge
vuttatthāneva. no ca
rūparāgappaṭisaṃvedīti kilesassa
natthibhāveneva na rūparāgaṃ
paṭisaṃviditaṃ karoti nāma,
tasmā “no ca
rūparāgappaṭisaṃvedī”ti vuccati.
imasmiṃ sutte sekhāsekhānaṃ
paccavekkhaṇā kathitā.
70. Bài kinh số 8
Rūpappaṭisaṃvedī: Nghĩa là người nhận biết rõ các sắc
pháp như xanh, vàng, v.v., khi
xác định đối tượng của mình. Do
đó, vị ấy được gọi là
"rūpappaṭisaṃvedī" (người nhận
biết sắc pháp).
Rūparāgappaṭisaṃvedī: Khi có sự tồn tại của phiền não
(kilesa), nếu vị ấy nhận biết có
tham ái đối với sắc pháp
(rūparāga), thì gọi là
"rūparāgappaṭisaṃvedī" (người
nhận biết tham ái đối với sắc
pháp).
Các thuật ngữ như sandiṭṭhiko (Pháp được thấy ngay hiện tại) v.v. đã được
giải thích trong
Visuddhimagga (Thanh Tịnh
Đạo).
No ca rūparāgappaṭisaṃvedī: Khi không
có phiền não (kilesa), không
nhận biết có tham ái đối với sắc
pháp, thì được gọi là "no ca
rūparāgappaṭisaṃvedī" (người
không nhận biết tham ái đối với
sắc pháp).
Trong bài kinh này, sự quán chiếu của bậc Sekha (bậc hữu học) và Asekha
(bậc vô học, đã giải thoát hoàn
toàn) được trình bày.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
II. Phẩm Migajàla
70.VIII. Upavàna (1)
(S.iv,41)
1) ...
2) Rồi Tôn giả Upavàna đi đến Thế Tôn...
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upavàna bạch Thế Tôn:
-- "Thiết thực hiện tại, thiết thực hiện tại (Sanditthika)",
bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch
Thế Tôn, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà
thấy, có khả năng hướng thượng, được những người có trí tự mình
giác hiểu?
4) -- Ở đây, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ
sắc và cảm thọ tham sắc có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết
rõ: "Tôi có nội tham đối với các sắc". Cho đến chừng nào sau khi
mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc, và có nội
tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: "Tôi có nội tham đối với
các sắc". Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết
quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được
những người trí tự mình giác hiểu.
5-6) Lại nữa, này Upavàna, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng... sau
khi mũi ngửi hương...
7-8) Lại nữa, này Upavàna, Tỷ-kheo sau khi lưỡi nếm vị... thân
cảm xúc...
9) Lại nữa, này Upavàna, sau khi ý nhận biết pháp, Tỷ-kheo cảm
thọ pháp và cảm thọ tham pháp, và có nội tham đối với các pháp;
vị ấy biết rõ: "Tôi có nội tham đối với các pháp". Cho đến chừng
nào sau khi ý nhận biết pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp và cảm thọ
tham pháp, và có nội tham đối với các pháp; vị ấy biết rõ: "Tôi
có nội tham đối với các pháp". Như vậy, này Upavàna, là thiết
thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng
hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.
10) Ở đấy, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ
sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với
sắc; vị ấy biết rõ: "Tôi không có nội tham đối với sắc". Cho đến
chừng nào, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ
sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với
các sắc; vị ấy biết rõ: "Tôi không có nội tham đối với các sắc".
Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức
thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người
trí tự mình giác hiểu.
11-14) Lại nữa, này Upavàna, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng...
mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc...
15) Lại nữa, này Upavàna, sau khi ý nhận thức pháp, Tỷ-kheo cảm
thọ pháp nhưng không cảm thọ tham pháp, và không có nội tham đối
với pháp; vị ấy biết rõ: "Tôi không có nội tham đối với pháp".
Cho đến chừng nào, này Upavàna, Tỷ-kheo sau khi ý nhận thức
pháp, cảm thọ pháp nhưng không cảm thọ tham pháp, và không có
nội tham đối với pháp; vị ấy biết rõ: "Tôi không có nội tham đối
với pháp". Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết
quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ
những người có trí tự mình giác hiểu.
-ooOoo- |