|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 26 tháng 02, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 377. THƯỢNG NGUỒN CỦA DÒNG SÔNG SANH TỬ- Kinh Sáu Xúc Xứ I, II, III (paṭhamachaphassāyatanasuttaṃ, dutiyachaphassāyatanasuttaṃ, tatiyachaphassāyatanasuttaṃ). ******
Kinh Văn
Kinh Sáu
Xúc Xứ I
71. “yo
hi koci, bhikkhave, bhikkhu
channaṃ phassāyatanānaṃ
samudayañca atthaṅgamañca
assādañca ādīnavañca
nissaraṇañca yathābhūtaṃ
nappajānāti. avusitaṃ tena
brahmacariyaṃ, ārakā so imasmā
dhammavinayā”ti.
evaṃ
vutte, aññataro bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca —
“etthāhaṃ, bhante, anassasaṃ
{anassasiṃ (sī.), anassāsaṃ
(syā. kaṃ.), anassāsiṃ (pī.)} .
ahañhi, bhante, channaṃ
phassāyatanānaṃ samudayañca
atthaṅgamañca assādañca
ādīnavañca nissaraṇañca
yathābhūtaṃ nappajānāmī”ti.
“taṃ
kiṃ maññasi, bhikkhu, cakkhuṃ
‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me
attā’ti samanupassasī”ti?
“no
hetaṃ, bhante”.
“sādhu,
bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu,
cakkhu ‘netaṃ mama, nesohamasmi,
na meso attā’ti evametaṃ
yathābhūtaṃ sammappaññāya
sudiṭṭhaṃ bhavissati. esevanto
dukkhassa ... pe ... jivhaṃ
‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me
attā’ti samanupassasī”ti?
“no
hetaṃ, bhante”.
“sādhu,
bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu,
jivhā ‘netaṃ mama, nesohamasmi,
na meso attā’ti evametaṃ
yathābhūtaṃ sammappaññāya
sudiṭṭhaṃ bhavissati. esevanto
dukkhassa ... pe ... manaṃ ‘etaṃ
mama, esohamasmi, eso me attā’ti
samanupassasī”ti?
“no
hetaṃ, bhante”.
“sādhu,
bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu,
mano ‘netaṃ mama, nesohamasmi,
na meso attā’ti evametaṃ
yathābhūtaṃ sammappaññāya
sudiṭṭhaṃ bhavissati. esevanto
dukkhassā”ti. navamaṃ.
71. Sáu Xứ Tiếp Xúc (1)
“Này các Tỳ khưu, nếu một Tỳ khưu không
hiểu đúng như thực về sự khởi
sinh và hoại diệt, vị ngọt, sự
nguy hiểm, sự vượt thoát trong
trường hợp của sáu xứ tiếp xúc,
thì vị ấy chưa sống đời sống
phạm hạnh; vị ấy vẫn còn cách xa
Pháp và Luật này.”
Khi điều này được nói, một Tỳ khưu bạch
với Đức Thế Tôn:
“Này Tỳ khưu, Thầy nghĩ thế nào, Thầy
có xem mắt như thế này: ‘Đây là
của tôi, đây là tôi, đây là tự
ngã của tôi’ không?”
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Lành thay, này Tỳ khưu! Và này Tỳ
khưu, ở đây Thầy nên quán chiếu
rõ ràng với trí tuệ chân chánh
rằng: ‘Đây không phải là của
tôi, đây không phải là tôi, đây
không phải là tự ngã của tôi.’
Chính điều này là sự chấm dứt
khổ đau.
“Thầy có xem tai như thế nào? ... Thầy
có xem ý như thế này: ‘Đây là
của tôi, đây là tôi, đây là tự
ngã của tôi’ không?”
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Lành thay, này Tỳ khưu! Và ở đây, Thầy
nên quán chiếu rõ ràng với trí
tuệ chân chánh rằng: ‘Đây không
phải là của tôi, đây không phải
là tôi, đây không phải là tự ngã
của tôi.’ Chính điều này là sự
chấm dứt khổ đau.”
72. “yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu channaṃ phassāyatanānaṃ
samudayañca atthaṅgamañca
assādañca ādīnavañca
nissaraṇañca yathābhūtaṃ
nappajānāti. avusitaṃ tena
brahmacariyaṃ, ārakā so imasmā
dhammavinayā”ti.
evaṃ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca —
“etthāhaṃ, bhante, anassasaṃ
panassasaṃ. ahañhi, bhante,
channaṃ phassāyatanānaṃ
samudayañca atthaṅgamañca
assādañca ādīnavañca
nissaraṇañca yathābhūtaṃ
nappajānāmī”ti.
“taṃ kiṃ maññasi, bhikkhu, cakkhuṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi,
na meso attā’ti
samanupassasī”ti?
“evaṃ, bhante”.
“sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, cakkhu ‘netaṃ mama,
nesohamasmi na meso attā’ti
evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya sudiṭṭhaṃ
bhavissati. evaṃ te etaṃ
paṭhamaṃ phassāyatanaṃ pahīnaṃ
bhavissati āyatiṃ apunabbhavāya
... pe ....
“jivhaṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti
samanupassasī”ti?
“evaṃ, bhante”.
“sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, jivhā ‘netaṃ mama,
nesohamasmi na meso attā’ti
evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya sudiṭṭhaṃ
bhavissati. evaṃ te etaṃ
catutthaṃ phassāyatanaṃ pahīnaṃ
bhavissati āyatiṃ apunabbhavāya
... pe ....
“manaṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti
samanupassasī”ti?
“evaṃ, bhante”.
“sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, mano ‘netaṃ mama,
nesohamasmi, na meso attā’ti
evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya sudiṭṭhaṃ
bhavissati. evaṃ te etaṃ
chaṭṭhaṃ phassāyatanaṃ pahīnaṃ
bhavissati āyatiṃ
apunabbhavāyā”ti. dasamaṃ.
72. Sáu Xứ Tiếp Xúc (2)
(Hai đoạn đầu giống như trong bài kinh trước.)
“Này Tỳ khưu, Thầy nghĩ thế nào, Thầy
có xem mắt như thế này: ‘Đây
không phải là của tôi, đây không
phải là tôi, đây không phải là
tự ngã của tôi’ không?”
“Bạch Thế Tôn, có.”
“Lành thay, này Tỳ khưu! Và này Tỳ
khưu, ở đây Thầy nên quán chiếu
rõ ràng với trí tuệ chân chánh
rằng: ‘Đây không phải là của
tôi, đây không phải là tôi, đây
không phải là tự ngã của tôi.’
Như vậy, xứ tiếp xúc thứ nhất
này sẽ được Thầy đoạn trừ, không
còn tái sinh trong tương lai
nữa.”
“Thầy có xem tai như thế nào? ... Như
vậy, xứ tiếp xúc thứ hai này sẽ
được Thầy đoạn trừ, không còn
tái sinh trong tương lai nữa…”
“Thầy có xem ý như thế này: ‘Đây không
phải là của tôi, đây không phải
là tôi, đây không phải là tự ngã
của tôi’ không?”
“Bạch Thế Tôn, có.”
“Lành thay, này Tỳ khưu! Và ở đây, Thầy
nên quán chiếu rõ ràng với trí
tuệ chân chánh rằng: ‘Đây không
phải là của tôi, đây không phải
là tôi, đây không phải là tự ngã
của tôi.’ Như vậy, xứ tiếp xúc
thứ sáu này sẽ được Thầy đoạn
trừ, không còn sanh tử trong
tương lai nữa.”
Kinh Sáu Xúc Xứ III
73. “yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu channaṃ phassāyatanānaṃ
samudayañca atthaṅgamañca
assādañca ādīnavañca
nissaraṇañca yathābhūtaṃ
nappajānāti. avusitaṃ tena
brahmacariyaṃ, ārakā so imasmā
dhammavinayā”ti.
evaṃ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca —
“etthāhaṃ, bhante, anassasaṃ
panassasaṃ. ahañhi, bhante,
channaṃ phassāyatanānaṃ
samudayañca atthaṅgamañca
assādañca ādīnavañca
nissaraṇañca yathābhūtaṃ
nappajānāmī”ti.
“taṃ kiṃ maññasi, bhikkhu, cakkhu niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti?
“aniccaṃ, bhante”.
“yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti?
“dukkhaṃ, bhante”.
“yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ
samanupassituṃ — ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’”ti?
“no hetaṃ, bhante”.
“sotaṃ... ghānaṃ... jivhā... kāyo... mano nicco vā anicco
vā”ti?
“anicco, bhante”.
“yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti?
“dukkhaṃ, bhante”.
“yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ
samanupassituṃ — ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’”ti?
“no hetaṃ, bhante”.
“evaṃ passaṃ, bhikkhu, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi
nibbindati, sotasmimpi
nibbindati, ghānasmimpi
nibbindati, jivhāyapi
nibbindati, kāyasmimpi
nibbindati, manasmimpi
nibbindati. nibbindaṃ virajjati;
virāgā vimuccati; vimuttasmiṃ
vimuttamiti ñāṇaṃ hoti. ‘khīṇā
jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ,
kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ
itthattāyā’ti pajānātī”ti.
ekādasamaṃ.73. Sáu Xứ Tiếp Xúc
(3)
(Hai đoạn đầu giống như trong bài kinh số 71.)
2. “Này Tỳ khưu, Thầy nghĩ thế nào, mắt là thường hay vô thường?”
“Bạch Thế Tôn, vô thường.”
“Cái gì vô thường thì là khổ hay lạc?”
“Bạch Thế Tôn, là khổ.”
“Cái gì vô thường, khổ và chịu sự biến
hoại, có đáng xem là ‘Đây là của
tôi, đây là tôi, đây là tự ngã
của tôi’ không?”
“Bạch Thế Tôn, không.”
3. “Tai... Ý là thường hay vô thường?”
“Bạch Thế Tôn, vô thường.”
“Cái gì vô thường thì là khổ hay lạc?”
“Bạch Thế Tôn, là khổ.”
“Cái gì vô thường, khổ và chịu sự biến
hoại, có đáng xem là ‘Đây là của
tôi, đây là tôi, đây là tự ngã
của tôi’ không?”
“Bạch Thế Tôn, không.”
4. “Thấy vậy, này Tỳ khưu, bậc Thánh đệ tử có học hiểu liền sanh tâm nhàm
chán đối với mắt… nhàm chán đối
với ý. Khi nhàm chán, vị ấy ly
tham. Khi ly tham, tâm được giải
thoát. Khi được giải thoát, vị
ấy biết: ‘Đã giải thoát.’ Vị ấy
biết rằng: ‘Sanh đã tận, phạm
hạnh đã thành, việc cần làm đã
làm, không còn trở lui sự trạng
này nữa.’”
Chú Thích
Ba bài kinh nầy đều mang chung nội dung về tâm trạng lạc lõng, mất phương
hướng khi nghĩ tới còn mất của
sanh hữu. Chính khả năng quán
sát bản chất giả hợp của “xúc”
khi căn, cảnh, thức giao thoa
giúp hành giả buông xả ái chấp,
mạn, chấp, ái chấp.
Nếu thực tại được nắm bắt qua hiện tượng sanh diệt thì hành giả sẽ xoá tan
nhiều ảo tưởng vối là cội nguồn
của sanh tử.
Anassasam / Anassasim: Đây là thì quá khứ ngôi thứ nhất của động từ
nassati (biến mất, diệt mất).
Chú giải Spk (Sāratthappakā sinī -Chú giải Tương ưng bộ) giải thích: "Ta đã
mất đi, ta đã bị lạc lối."
Āyatiṃ apunabbhavāya: theo Sớ giải nghĩa là “không còn tái sinh trong
tương lai” chính là Niết-bàn.
Nghĩa là: vị ấy sẽ được từ bỏ để
đạt đến Niết-bàn."
Sớ Giải
anti avuṭṭhaṃ. ārakāti dūre. etthāhaṃ, bhante, anassasanti,
bhante, ahaṃ ettha anassasiṃ, naṭṭho nāma ahanti vadati. bhagavā — “ayaṃ bhikkhu ‘ahaṃ nāma imasmiṃ sāsane naṭṭho’ti vadati, kinnu
khvassa aññesu dhātukammaṭṭhāna-kasiṇakammaṭṭhānādīsu abhiyogo atthī”ti cintetvā, tampi apassanto —
“kataraṃ
nu kho kammaṭṭhānaṃ imassa sappāyaṃ bhavissatī”ti cintesi. tato “āyatanakammaṭṭhānameva sappāyan”ti
disvā taṃ kathento taṃ kiṃ maññasi bhikkhūtiādimāha. sādhūti tassa byākaraṇe sampahaṃsanaṃ. esevanto dukkhassāti
ayameva vaṭṭadukkhassanto paricchedo, nibbānanti attho.
71. Pháp Môn Sáu Xứ Xúc (1)
Phassāyatanānanti – xúc xứ - có nghĩa là những yếu tố
tạo nên sự giao thoa của căn,
cảnh, thức (phassa).
Avusitanti: chưa được tu tập đầy đủ.
Ārakāti: xa rời, cách biệt.
Khi vị tỳ-khưu nói: "Etthāhaṃ, bhante, anassasanti" – nghĩa là: "Bạch Thế
Tôn, con cảm thấy như bị lạc lối
ở đây."
Lúc ấy, Đức Thế Tôn suy xét: “Vị tỳ-khưu này nghĩ rằng mình đã mất
phương hướng trong giáo pháp của
Như Lai. Không biết có phải vị
nây đã thực hành những pháp
thiền định khác như đề mục quán
sát yếu tố, hoặc thiền trên
kasiṇa hay không?”
Sau khi quán xét, Ngài thấy rằng vị ấy chưa thực hành những pháp ấy, liền
tự nhủ:
Sau đó, Ngài nhận thấy rằng "pháp quán về các căn xứ
(āyatana-kammaṭṭhāna)" chính là
pháp thích hợp, nên Ngài thuyết
giảng bài pháp về các căn xứ bắt
đầu bằng câu hỏi:
"Này tỳ-khưu, ông nghĩ thế nào?"
Vị tỳ-khưu đáp lại với sự hoan hỷ: "Lành thay, bạch Thế Tôn!"
Cuối cùng, Đức Phật kết luận:
72. dasame anassasanti nassasiṃ, naṭṭho nāmamhi icceva attho.
āyatiṃ
apunabbhavāyāti ettha āyatiṃ apunabbhavo nāma nibbānaṃ, nibbānatthāya pahīnaṃ bhavissatīti attho.
72. Pháp Môn Sáu Xứ Xúc (2)
Anassasanti có nghĩa là: "đã bị lạc lối,
đã mất phương hướng."
Nassasiṃ, naṭṭho nāmamhi: cũng mang
ý nghĩa như trên – "đã mất
đi, thực sự đã bị lạc trong giáo
pháp này."
Āyatiṃ apunabbhavāyāti:
73. ekādasame anassasanti naṭṭho, panassasanti atinaṭṭho. sesaṃ vuttanayeneva
veditabbanti.
73. Pháp Môn Sáu Xứ Xúc (3)
Anassasanti có nghĩa là: "đã mất đi, đã bị lạc
lối."
Panassasanti có nghĩa là: " đã thực sự mất hoàn
toàn, không còn tồn tại nữa."
Các phần còn lại nên được hiểu theo cách đã giải thích trước đó.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
II. Phẩm Migajàla
71.IX. Sáu Xúc Xứ (1)
(S.iv,43)
1) ...
2) -- Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự
tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của
sáu xúc xứ; vị ấy không thành tựu Phạm hạnh, còn đứng xa Pháp và
Luật này.
3) Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, con đã thất vọng (anassàsim). Bạch Thế
Tôn, con không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị
ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ.
4-6) -- Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán con mắt: "Cái
này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật
thấy con mắt với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái
này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi"; như
vậy là khéo thấy. Ðây là khổ được đoạn tận... tai... mũi...
7-8) ... lưỡi... thân...
9) Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán ý: "Cái này là của
tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật
thấy ý với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi"; như vậy
là khéo thấy. Ðây là khổ được đoạn tận.
72.X. Sáu Xúc Xứ (2)
(S.iv,44)
1) ...
2) -- Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự
tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của
sáu xúc xứ; vị ấy không thành tựu Phạm hạnh, còn đứng xa Pháp và
Luật này.
3) Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, con thất vọng. Bạch Thế Tôn, con không
như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy
hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ.
4-6) -- Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán con mắt: "Cái
này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này là tự
ngã của tôi"?
-- Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
-- Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật
thấy con mắt với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái
này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Như
vậy là khéo thấy; như vậy xúc xứ thứ nhứt này sẽ được Ông đoạn
tận, không còn tái sanh nữa trong tương lai... tai... mũi...
7-8)... lưỡi... thân...
9) Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán ý: "Cái này không
phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là
tự ngã của tôi"?
-- Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
-- Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật
thấy ý với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi"; như vậy
là khéo thấy. Như vậy xúc xứ thứ sáu này sẽ được Ông đoạn tận,
không còn tái sanh nữa trong tương lai.
73.XI. Sáu Xúc Xứ (3)
(S.iv,44)
1) ...
2) -- Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự
tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của
sáu xúc xứ; vị ấy không thành tựu Phạm hạnh, còn đứng xa Pháp và
Luật này.
3) Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, con thất vọng. Bạch Thế Tôn, con không
như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy
hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ.
4-6) -- Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô
thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu
quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là
tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
5-8) -- Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...
9) Ý là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu
quán cái ấy: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự
ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
10) -- Thấy vậy, này Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán
đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm
chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý.
Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham vị ấy được giải
thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: "Ta đã được
giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành,
những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này
nữa".
-ooOoo- |