|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 03 tháng 02, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 603. KHÔNG DÁM CHỂNH MẢNG - Kinh Hoa Hậu (Janapadakalyāṇīsuttaṃ) ..
Dụ ngôn “bát dầu đầy” trong kinh là một hình ảnh
cực kỳ sống động, khắc họa rõ ràng sức mạnh của tham ái và dục lạc – dù
đẹp đẽ đến đâu cũng chỉ là cám dỗ thoáng qua, nhưng nếu phân tâm dù chỉ
một chút, hậu quả là mất mạng. Người đàn ông mang bát dầu không được
phép nhìn ra ngoài, dù xung quanh là tiếng reo hò, vẻ đẹp tuyệt trần và
sự mê hoặc của thế gian – điều này dạy chúng ta rằng chánh niệm trên
thân tâm đòi hỏi sự tập trung tuyệt đối, không để ngoại cảnh làm lay
động. Kinh điển cũng dạy rằng chánh niệm không phải là trạng thái thụ
động, mà là sự huấn luyện chủ động: “phát triển, tu tập, lấy làm phương
tiện, làm nền tảng, làm cho vững chắc, thực hành và viên mãn hoàn toàn”.
Kinh Văn
386. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ
bhagavā sumbhesu viharati sedakaṃ nāma sumbhānaṃ nigamo. tatra kho
bhagavā bhikkhū āmantesi — “bhikkhavo”ti. “bhadante”ti te bhikkhū
bhagavato paccassosuṃ. bhagavā etadavoca —“seyyathāpi, bhikkhave,
‘janapadakalyāṇī, janapadakalyāṇī’ti kho, bhikkhave, mahājanakāyo
sannipateyya. ‘sā kho panassa janapadakalyāṇī paramapāsāvinī nacce,
paramapāsāvinī gīte. janapadakalyāṇī naccati gāyatī’ti kho, bhikkhave,
bhiyyosomattāya mahājanakāyo sannipateyya.
Một lần nọ, Đức Thế Tôn đang ngự tại xứ Sumbha, nơi có một
thị trấn của người Sumbha tên là Sedaka.
Tại đó, Đức Thế Tôn nói với các vị tỳ-khưu như sau: “Này các
Tỳ-khưu!”
“Dạ. Bạch Thế Tôn!” các vị tỳ-khưu trả lời. Đức Thế Tôn dạy
như sau:
“Này các Tỳ-khưu, giả sử khi nghe ‘Cô gái tuyệt sắc! Cô gái
tuyệt sắc!’ thì một đám đông lớn sẽ tụ họp lại. Bây giờ, Cô gái tuyệt
sắc ấy nhảy múa tuyệt mỹ và ca hát tuyệt mỹ. Khi nghe ‘Cô gái tuyệt sắc
đang nhảy múa! Cô gái tuyệt sắc đang ca hát!’ thì một đám đông còn lớn
hơn sẽ tụ họp lại. Sau đó, một người đàn ông đi tới, muốn sống, sợ chết,
mong muốn hạnh phúc, ghét khổ đau. Có người sẽ nói với anh ta: ‘Này
người kia, ngươi phải mang quanh cái bát dầu đầy đến miệng này giữa đám
đông và Cô gái tuyệt sắc. Một người cầm kiếm rút ra sẽ theo sát phía sau
ngươi, và bất cứ nơi nào ngươi làm đổ dù chỉ một chút dầu, ngay tại đó
hắn sẽ chặt đầu ngươi.’
“Này các Tỳ-khưu, các Thầy nghĩ sao? Người đàn ông ấy có
ngừng chú ý đến cái bát dầu và do sơ suất mà hướng sự chú ý ra bên ngoài
không?”
“Không, bạch Thế Tôn.”
“Này các Tỳ-khưu, Ta đã đưa ra dụ ngôn này để truyền đạt một
ý nghĩa. Đây là ý nghĩa: ‘Cái bát dầu đầy đến miệng’: đây là tên gọi cho
thân hành niệm. Do vậy, này các tỳ-khưu, các Thầy nên tự huấn luyện mình
như vầy: ‘Chúng tôi sẽ phát triển và tu tập thân hành niệm, lấy nó làm
phương tiện, lấy đó làm nền tảng, làm cho vững chắc,
làm cho tinh chuyên, và làm cho
viên mãn.’ Như vậy, này các tỳ-khưu, các Thầy nên tự huấn luyện mình.” Chú Thích Từ nguyên văn Pāli, không thể xác định rõ đám
đông tụ họp là vì họ nghe người ta loan báo: “Người con gái đẹp nhất
trong xứ!” hay vì chính họ tụ họp và hô lên: “Người con gái đẹp nhất
trong xứ!” Ở đây, có thể hiểu theo cách thứ nhất (nghe loan báo mà tụ
họp). “Janapadakalyāṇī” nghĩa là: người con gái đẹp
nhất, ưu tú nhất trong một quốc độ như cách gọi ngày nay là hoa hậu hay
hoa khôi. Sớ giải
mô tả vẽ đẹp của nữ nhân theo cách nói “kinh điển” là: không có
sáu khuyết điểm về thân thể là không quá cao, quá thấp, quá gầy, quá
mập, không quá sậm màu, không quá trắng. Và đầy đủ năm loại vẻ đẹp gồm:
vẻ đẹp của da, của thịt, của gân, của xương, và của tuổi tác. Theo ngài Bodhi cụm từ paramapāsāvinī nacce, paramapāsāvinī gīte dường như chỉ xuất hiện duy nhất trong bản kinh này. Từ điển PED [Pāli–English Dictionary] giải thích pāsāvin là “làm phát sinh, làm xuất hiện”; tuy nhiên, hãy xem MW[Monier-Williams Sanskrit Dictionary], mục pra-sava (2) → pra-savin, có nguồn từ pra-sūti (1), với nghĩa là “thúc đẩy, kích động, lôi cuốn”.Sớ giải chú thích: “Trong vũ điệu và trong ca
hát, sự biểu hiện của nàng là tối thượng, phần trình diễn của nàng là
xuất sắc nhất; nàng múa và hát một cách tuyệt hảo.”
Kāyagatā sati (hay
kāyagatāsati trong dạng ghép Pali) là
một thuật ngữ quan trọng trong kinh điển , đặc biệt trong Tương Ưng Niệm
Xứ (Saṃyutta Nikāya 47) và Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya 119 – Kinh
Thân Hành Niệm). Kāya (thân): Chỉ
thân thể vật lý (cơ thể con người, bao gồm các bộ phận, tư thế, hoạt
động, hơi thở, các yếu tố vật chất). Gatā
(đi đến, hướng đến, đặt vào): Nghĩa là "đã đi đến" hoặc "hướng đến", chỉ
sự hướng tâm hoặc đặt niệm vào đối tượng.
Sati (niệm, chánh niệm): Sự tỉnh giác, ghi nhớ, chú tâm liên tục mà
không quên lãng. Kāyagatāsati
dịch sát nghĩa là "chánh niệm hướng đến thân", "niệm đặt trên thân",
"chánh niệm ngập tràn trong thân" (mindfulness immersed in the body),
hoặc "niệm thân" , "thân hành niệm" trong các bản dịch tiếng Việt phổ
biến. Đây là một loại chánh
niệm tập trung vào thân thể làm đối tượng chính, giúp tâm không lang
thang ra ngoại cảnh (như trong dụ ngôn "bát dầu đầy" ở SN 47.20 mà chúng
ta đã thảo luận: giữ chánh niệm trên thân như giữ dầu không đổ giữa cám
dỗ lớn lao). Trong Kinh Thân Hành Niệm (MN 119), kāyagatāsati được mô tả
chi tiết qua các phương pháp: quán hơi thở (ānāpānasati), quán tư thế
(đi, đứng, nằm, ngồi), quán hoạt động hàng ngày, quán 32 thể trược (phân
tích thân thành các bộ phận bất tịnh), quán tứ đại (đất, nước, gió,
lửa), quán tử thi (9 giai đoạn phân hủy), v.v.
Tóm lại, kāyagatāsati không chỉ là "niệm thân" đơn thuần mà là
chánh niệm được "ngâm mình" hoàn toàn vào thân thể, làm nền tảng cho sự
tỉnh giác sâu sắc, giúp vượt qua cám dỗ thế gian và thành tựu tuệ giác.
Sớ Giải
386. dasame janapadakalyāṇīti janapadamhi kalyāṇī uttamā
chasarīradosarahitā pañcakalyāṇasamannāgatā. sā hi yasmā
nātidīghā nātirassā, nātikisā nātithūlā, nātikāḷā nāccodātā,
atikkantā, mānusavaṇṇaṃ appattā dibbavaṇṇaṃ, tasmā
chasarīradosarahitā. chavikalyāṇaṃ, maṃsakalyāṇaṃ, nhārukalyāṇaṃ,
aṭṭhikalyāṇaṃ, vayakalyāṇanti imehi pana kalyāṇehi samannāgatattā
pañcakalyāṇehi samannāgatā nāma. tassā hi āgantukobhāsakiccaṃ
natthi, attano sarīrobhāseneva dvādasahatthaṭṭhāne ālokaṃ karoti,
piyaṅgusāmā vā hoti, suvaṇṇasāmā vā, ayamassā chavikalyāṇatā.
86. Ở bài kinh thứ mười: “Người con gái đẹp nhất trong xứ”
(janapadakalyāṇī)
“Janapadakalyāṇī” nghĩa là:
người con gái đẹp nhất, ưu tú nhất trong một quốc độ, không có sáu
khuyết điểm về thân thể và đầy đủ năm vẻ đẹp. Sở dĩ gọi là không có sáu khuyết điểm về thân thể
là vì nàng:
Nàng được gọi là đầy đủ năm vẻ đẹp vì có đủ các vẻ
đẹp sau:
1. Vẻ đẹp của da (chavikalyāṇa), Do đầy đủ năm vẻ đẹp ấy nên gọi là
pañcakalyāṇasamannāgatā (người có năm vẻ đẹp). [Giải thích chi tiết năm vẻ đẹp]
[Giải thích từ “paramapāsāvinī”] Ở đây: pasavana hay
pasāva có nghĩa
là sự phát khởi, sự vận hành, sự biểu hiện, parama là tối thượng,
nên paramapāsāvinī nghĩa là: người có sự biểu hiện tối thượng.
Cụm từ “paramapāsāvinī trong múa và hát”
có nghĩa là:trong múa: nàng múa ở mức tuyệt diệu, trong hát: nàng
hát ở mức tuyệt vời, mọi động tác
và biểu diễn đều là thượng hạng, xuất sắc nhất
|