BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 04 tháng 02, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 47. Tương Ưng Niệm Xứ -Phẩm Trú Giới- SN 47.21, 22, 23, 24
Bài 605. ĐIỀU KHIẾN GIÁO PHÁP TRƯỜNG TỒN -

Kinh Thời Gian Tồn Tại (Ciraṭṭhitisuttaṃ), Kinh Suy Tàn (Parihānasuttaṃ), Kinh Phiên Bản Giản Lược (Suddhasuttaṃ), Kinh Một Bà-la-môn (Aññatarabrāhmaṇasuttaṃ)..

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-605.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Mặc dù Đức Phật đã viên tịch hơn 2.500 năm, Chánh pháp vẫn có thể trường tồn nếu có những cá nhân và cộng đồng kiên trì thực hành bốn niệm xứ – điều mà các quốc gia Phật giáo đã minh chứng qua nhiều thế kỷ.  "Thời Gian Tồn Tại" không chỉ là câu hỏi về lịch sử Phật giáo, mà là lời mời gọi mỗi chúng ta hôm nay: hãy trở thành nhân tố làm cho Chánh pháp tiếp tục sống mãi – bằng cách chính mình an trú trong chánh niệm trên thân, thọ, tâm, pháp, nhiệt tâm và không xao lãng.Top of Form

Đối với hành giả ngày nay, kinh nhắc nhở rằng đừng đổ lỗi cho thời mạt pháp hay hoàn cảnh xã hội; thay vào đó, hãy tự hỏi: "Bản thân có đang thực sự phát triển bốn niệm xứ trong đời sống hàng ngày hay không?"  Sự tồn tại của Chánh pháp không phải là một thứ được "bảo tồn" bằng cách giữ gìn hình thức, mà là một dòng chảy sống động của chánh niệm, từ cá nhân lan ra cộng đồng, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Kinh Văn

Kinh Thời Gian Tồn Tại (Ciraṭṭhitisuttaṃ)

388. taṃyeva nidānaṃ. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā bhaddo āyasmantaṃ ānandaṃ etadavoca — “ko nu kho, āvuso ānanda, hetu, ko paccayo yena tathāgate parinibbute saddhammo na ciraṭṭhitiko hoti? ko panāvuso ānanda, hetu, ko paccayo yena tathāgate parinibbute saddhammo ciraṭṭhitiko hotī”ti?
“sādhu sādhu, āvuso bhadda! bhaddako kho te, āvuso bhadda, ummaṅgo, bhaddakaṃ paṭibhānaṃ, kalyāṇī paripucchā. evañhi tvaṃ, āvuso bhadda, pucchasi — ‘ko nu kho, āvuso ānanda, hetu, ko paccayo yena tathāgate parinibbute saddhammo na ciraṭṭhitiko hoti? ko panāvuso ānanda, hetu, ko paccayo yena tathāgate parinibbute saddhammo ciraṭṭhitiko hotī’”ti? “evamāvuso”ti. “catunnaṃ kho, āvuso, satipaṭṭhānānaṃ abhāvitattā abahulīkatattā tathāgate parinibbute saddhammo na ciraṭṭhitiko hoti. catunnañca kho, āvuso, satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā tathāgate parinibbute saddhammo ciraṭṭhitiko hoti”.
“katamesaṃ catunnaṃ? idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. imesaṃ kho, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ abhāvitattā abahulīkatattā tathāgate parinibbute saddhammo na ciraṭṭhitiko hoti. imesañca kho, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā tathāgate parinibbute saddhammo ciraṭṭhitiko hotī”ti. dutiyaṃ.

Cùng bối cảnh ấy.

Ngồi sang một bên, Tôn giả Bhadda thưa với Tôn giả Ānanda:

“Thưa Tôn giả Ānanda, do nhân duyên gì, vì lý do gì mà Chánh Pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai đã nhập Niết-bàn hoàn toàn? Và do nhân duyên gì, vì lý do gì mà Chánh Pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai đã nhập Niết-bàn hoàn toàn?”

“Lành thay, lành thay, hiền giả Bhadda! Trí tuệ của hiền giả thật xuất sắc, sự minh mẫn của hiền hữu thật xuất sắc, và câu hỏi của hiền giả là một câu hỏi hay. Vì hiền giả đã hỏi ta: ‘Thưa Tôn giả Ānanda, do nhân duyên gì, vì lý do gì mà Chánh Pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai đã nhập Niết-bàn hoàn toàn? Và do nhân duyên gì, vì lý do gì mà Chánh Pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai đã nhập Niết-bàn hoàn toàn?’”

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“Này hiền giả, chính vì bốn niệm xứ không được tu tập và làm cho sung mãn nên Chánh Pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai đã nhập Niết-bàn hoàn toàn. Và cũng chính vì bốn niệm xứ được tu tập và làm cho sung mãn nên Chánh Pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai đã nhập Niết-bàn hoàn toàn. Bốn niệm xứ ấy là gì? Ở đây, này hiền hữu, một vị Tỳ-kheo an trú quán thân trên thân… quán thọ trên các thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, với nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã loại trừ tham ái và ưu não đối với thế gian.

“Chính vì bốn niệm xứ này không được tu tập và làm cho sung mãn nên Chánh Pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai đã viên tịch Niết-bàn hoàn toàn. Và chính vì bốn niệm xứ này được tu tập và làm cho sung mãn nên Chánh Pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai viên tịch Niết-bàn hoàn toàn.”

Kinh Suy Tàn (Parihānasuttaṃ)

389. ekaṃ samayaṃ āyasmā ca ānando āyasmā ca bhaddo pāṭaliputte viharanti kukkuṭārāme. atha kho āyasmā bhaddo sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṃ sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā bhaddo āyasmantaṃ ānandaṃ etadavoca — “ko nu kho, āvuso ānanda, hetu, ko paccayo yena saddhammaparihānaṃ hoti? ko nu kho, āvuso ānanda, hetu, ko paccayo yena saddhammāparihānaṃ hotī”ti?
“sādhu sādhu, āvuso bhadda! bhaddako kho te, āvuso bhadda, ummaṅgo, bhaddakaṃ paṭibhānaṃ, kalyāṇī paripucchā. evañhi tvaṃ, āvuso bhadda, pucchasi — ‘ko nu kho, āvuso ānanda, hetu, ko paccayo yena saddhammaparihānaṃ hoti? ko panāvuso ānanda, hetu, ko paccayo yena saddhammāparihānaṃ hotī’”ti? “evamāvuso”ti. “catunnaṃ kho, āvuso, satipaṭṭhānānaṃ abhāvitattā abahulīkatattā saddhammaparihānaṃ hoti. catunnañca kho, āvuso, satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā saddhammāparihānaṃ hoti”.
“katamesaṃ catunnaṃ? idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. imesaṃ kho, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ abhāvitattā abahulīkatattā saddhammaparihānaṃ hoti. imesañca kho, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā saddhammāparihānaṃ hotī”ti. tatiyaṃ.

Cùng bối cảnh ấy.
Tôn giả Bhadda ngồi xuống một bên và thưa với Tôn giả Ānanda:

“Thưa Tôn giả Ānanda, nguyên nhân và lý do gì khiến Chánh pháp suy tàn? Và nguyên nhân và lý do gì khiến Chánh pháp không suy tàn?”

“Lành thay, lành thay, hiền giả Bhadda! Trí tuệ của hiền giả thật xuất sắc, sự sắc bén của hiền giả thật xuất sắc, câu hỏi của hiền giả thật hay. Vì hiền giả đã hỏi ta: ‘Thưa Tôn giả Ānanda, nguyên nhân và lý do gì khiến Chánh pháp suy tàn? Và nguyên nhân và lý do gì khiến Chánh pháp không suy tàn?’”

“Vâng, Tôn giả.”

“Này hiền giả, chính vì bốn niệm xứ không được phát triển và tu tập mà Chánh pháp suy tàn. Và chính vì bốn niệm xứ được phát triển và tu tập mà Chánh pháp không suy tàn. Bốn niệm xứ ấy là gì? Ở đây, này hiền giả, một vị tỳ-khưu trú quán thân trên thân … quán thọ trên thọ … quán tâm trên tâm … quán pháp trên pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác rõ ràng, có chánh niệm, đã đoạn trừ tham ái và bất mãn đối với thế gian.”

“Chính vì bốn niệm xứ này không được phát triển và tu tập mà Chánh pháp suy tàn. Và chính vì bốn niệm xứ này được phát triển và tu tập mà Chánh pháp không suy tàn.”

Kinh Phiên Bản Giản Lược (Suddhasuttaṃ)  

390. sāvatthinidānaṃ. “cattārome, bhikkhave, satipaṭṭhānā. katame cattāro? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. ime kho, bhikkhave, cattāro satipaṭṭhānā”ti. catutthaṃ.

Tại Sāvatthī. Đức Thế Tôn nói với các tỳ-khưu:

“Này các tỳ-khưu, có bốn niệm xứ này. Bốn niệm xứ ấy là gì? Ở đây, này các tỳ-khưu, một vị tỳ-khưu trú quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác rõ ràng, có chánh niệm, đã đoạn trừ tham ái và bất mãn đối với thế gian. Vị ấy trú quán thọ trên thọ … quán tâm trên tâm … quán pháp trên pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác rõ ràng, có chánh niệm, đã đoạn trừ tham ái và bất mãn đối với thế gian. Đây là bốn niệm xứ.”

Kinh Một Bà-la-môn (Aññatarabrāhmaṇasuttaṃ)

391. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. atha kho aññataro brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṃ sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho so brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca — “ko nu kho, bho gotama, hetu, ko paccayo yena tathāgate parinibbute saddhammo na ciraṭṭhitiko hoti? ko pana, bho gotama, hetu, ko paccayo yena tathāgate parinibbute saddhammo ciraṭṭhitiko hotī”ti?
“catunnaṃ kho, brāhmaṇa, satipaṭṭhānānaṃ abhāvitattā abahulīkatattā tathāgate parinibbute saddhammo na ciraṭṭhitiko hoti. catunnañca kho, brāhmaṇa, satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā tathāgate parinibbute saddhammo ciraṭṭhitiko hoti. “katamesaṃ catunnaṃ? idha, brāhmaṇa, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. imesaṃ kho, brāhmaṇa, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ abhāvitattā abahulīkatattā tathāgate parinibbute saddhammo na ciraṭṭhitiko hoti. imesañca kho, brāhmaṇa, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā tathāgate parinibbute saddhammo ciraṭṭhitiko hotī”ti.
evaṃ vutte so brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca — “abhikkantaṃ, bho gotama ... pe ... upāsakaṃ maṃ bhavaṃ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gatan”ti. pañcamaṃ.

Tôi được nghe như vầy. Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthī, tại Kỳ Viên, trong vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ, một Bà-la-môn đến chỗ Đức Thế Tôn, sau khi đến, chào hỏi. Sau khi trao đổi lời chào hỏi thân thiện, vị ấy ngồi xuống một bên và thưa với Đức Thế Tôn:

“Thưa Tôn Gotama, nguyên nhân và lý do gì khiến Chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai viên tịch Niết-bàn? Và nguyên nhân và lý do gì khiến Chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai viên tịch Niết-bàn?”

“Này Bà-la-môn, chính vì bốn niệm xứ không được phát triển và tu tập mà Chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai viên tịch Niết-bàn. Và chính vì bốn niệm xứ được phát triển và tu tập mà Chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai viên tịch  Niết-bàn. Bốn niệm xứ ấy là gì? … (như trong §22) … Chính vì bốn niệm xứ này không được phát triển và tu tập … được phát triển và tu tập mà Chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai viên tịch  Niết-bàn.”

Khi được nghe như vậy, vị Bà-la-môn thưa với Đức Thế Tôn: “Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn Gotama! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã, phơi bày ra những gì bị che khuất, chỉ đường cho người lạc lối, mang đèn sáng vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy được vật; cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn Gotama thuyết giảng bằng nhiều phương tiện. Từ nay, xin Thế Tôn Gotama nhận con làm đệ tử quy y trọn đời.”

Chú Thích

Trong bốn bài kinh: Kinh Thời Gian Tồn Tại (Ciraṭṭhitisuttaṃ), Kinh Suy Tàn (Parihānasuttaṃ), Kinh Phiên Bản Giản Lược (Suddhasuttaṃ), Kinh Một Bà-la-môn (Aññatarabrāhmaṇasuttaṃ) đều có liên quan đến ý nghĩa sự tu tập bốn niệm xứ và sự thịnh suy của Giáo Pháp. Chỉ riêng bài Kinh Phiên Bản Giản Lược (Suddhasuttaṃ) chỉ tóm tắt về tứ niệm xứ. Do vậy bốn bài kinh được gom chung trong bài học nầy.

Những bài kinh nầy nhấn mạnh một điều: sự tồn tại lâu dài hay suy tàn của Chánh pháp không phụ thuộc vào phép màu, vào quyền lực thế gian, hay vào số lượng tín đồ, mà hoàn toàn nằm ở việc những người con Phật có thực hành và phát triển bốn niệm xứ hay không.

Câu hỏi dù nghe có vẻ đơn giản – lại chạm đến cốt lõi của giáo pháp: tại sao một số truyền thống Phật giáo trường tồn hàng nghìn năm, trong khi một số khác nhanh chóng mai một? Câu trả lời khẳng định: chính là do niệm xứ có được tu tập hay không.

Đức Phật đã dạy bốn niệm xứ là "con đường duy nhất" (ekāyano maggo) dẫn đến thanh tịnh, giác ngộ và Niết-bàn (MN 10, DN 22); kinh này khẳng định rằng chính con đường ấy cũng là yếu tố duy trì sự sống còn của Chánh pháp sau khi Như Lai nhập diệt.  Khi bốn niệm xứ không được phát triển và tu tập, Chánh pháp sẽ dần bị lãng quên, bị biến dạng thành nghi lễ bề ngoài, triết lý suông, hay công cụ chính trị – điều mà lịch sử Phật giáo đã chứng kiến ở nhiều nơi và nhiều thời đại.  Ngược lại, khi bốn niệm xứ được thực hành nghiêm túc – với sự nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm và đoạn trừ tham ưu  – thì Chánh pháp sẽ tự tỏa sáng, lan rộng và trường tồn, dù không có Phật hiện tiền.  Kinh này đặc biệt ý nghĩa trong thời kỳ hậu Phật nhập diệt: khi không còn Đức Thế Tôn trực tiếp hướng dẫn, thì chính sự tu tập niệm xứ của Tăng đoàn và cư sĩ mới là "ngọn đèn" duy trì ánh sáng Chánh pháp.

Sớ Giải

387-388. tatiyavaggassa pahame sīlānīti catupārisuddhisīlāni. dutiye ummagoti pañhamaggo pañhagavesana.

“Ở bài kinh thứ nhất của phẩm thứ ba, chữ ‘các giới’ (sīlāni) được hiểu là tứ thanh tịnh giới.”

(catupārisuddhisīlāni = tứ thanh tịnh giới gồm: Pātimokkhasaṃvara-sīla
 Giới phòng hộ theo Giới bổn, Indriyasaṃvara-sīla - Giới phòng hộ các căn, Ājīvapārisuddhi-sīla - Giới thanh tịnh nuôi mạng chân chánh’,  Paccayasannissita-sīla - Giới quán tưởng khi thọ dụng các vật dụng là y, thực, trú, dược.

“Ở bài kinh thứ hai, ‘ummaṅga’ (đường hầm) có nghĩa là con đường của vấn đề, sự tìm tòi vấn đề.”

  • ummaṅga: đường hầm, lối đào ngầm
  • pañhamagga: con đường của câu hỏi
  • pañhagavesanaṃ: sự truy tìm, đào sâu vấn đềTop of Form

389-391. tatiye parihānaṃ hotīti puggalavasena parihānaṃ hoti. yo hi buddhesu dharantesupi cattāro satipaṭṭhāne na bhāveti, tassa saddhammo antarahito nāma hoti devadattādīnaṃ viya. iti imasmiṃ sutte tassa puggalasseva dhammantaradhānaṃ kathitaṃ. catutthapañcamesu sabbaṃ uttānameva.

“tatiye parihānaṃ hotīti puggalavasena parihānaṃ hoti”

“Trong bài kinh thứ ba, nói đến sự suy thoái, là sự suy thoái xét theo phương diện cá nhân.”

Chú giải xác định rõ: parihāna (suy thoái) ở đây không phải là sự suy tàn của Chánh pháp trên bình diện lịch sử hay tập thể, mà là sự suy thoái ngay trong chính  mỗi người (puggala).

“yo hi buddhesu dharantesupi cattāro satipaṭṭhāne na bhāveti”

“Vì rằng, ngay cả khi chư Phật còn đang tại thế, người nào không tu tập bốn niệm xứ…”

Ý này rất mạnh: sự hiện diện của Đức Phật không tự động bảo đảm sự tồn tại của Chánh pháp nơi một cá nhân. Chánh pháp chỉ “hiện hữu” khi bốn niệm xứ được thực hành.

“tassa saddhammo antarahito nāma hoti devadattādīnaṃ viya”

“thì đối với người ấy, Chánh pháp được xem như đã biến mất, giống như trường hợp của Devadatta và những kẻ tương tự.”

Devadatta được nêu làm ví dụ điển hình:  sống cùng thời với Phật,  nghe pháp, xuất gia,  nhưng không tu bốn niệm xứ,  nên Chánh pháp ‘mất’ ngay trong chính tâm người ấy, dù hình tướng xuất gia vẫn còn.

“iti imasmiṃ sutte tassa puggalaseva dhammantaradhānaṃ kathitaṃ”

“Do đó, trong bài kinh này, chỉ nói đến sự biến mất của Chánh pháp nơi chính cá nhân ấy mà thôi.”

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

III. Phẩm Giới Trú

22. II. Trú (Tạp 24,29, Ðại 2,173c) (S.v,172)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Rồi Tôn giả Bhadda nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:

3) -- Do nhân gì, do duyên gì, này Hiền Giả Ananda, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không có tồn tại lâu dài? Do nhân gì, do duyên gì, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài?

-- Lành thay, lành thay, này Hiền giả Bhadda! Hiền thiện thay, này Hiền giả Bhadda, là trí tuệ của Hiền giả! Hiền thiện là biện tài của Hiền giả! Chí thiện là câu hỏi của Hiền giả! Có phải như vầy, này Hiền giả Bhadda, là câu hỏi của Hiền giả: "Này Hiền giả Ananda, do nhân gì, do duyên gì, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không có tồn tại lâu dài? Do nhân gì, do duyên gì, này Hiền giả Ananda, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài?" chăng?

-- Thưa vâng, Hiền giả.

4) -- Do bốn niệm xứ không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không có tồn tại lâu dài. Do bốn niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, thưa Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài. Thế nào là bốn?

5) Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... trú, quán thọ trên các thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do không tu tập, không làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không được tồn tại lâu dài. Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài.

23. III. Tổn Giảm (Parihànam) (Tạp 24,28, Ðại 2,175b) (S.v,173)

1-2) Trú tại Pàtaliputta, tại khu vườn Kukkuta...

3) -- Do nhân gì, do duyên gì, này Hiền giả Ananda, khiến cho Diệu pháp bị tổn giảm? Do nhân gì, do duyên gì, này Hiền giả Ananda, khiến cho Diệu pháp không bị tổn giảm?

... (giống như kinh trước, chỉ thay đổi câu hỏi và câu trả lời).

24. IV. Thanh Tịnh (Tạp 24,2, Ðại 2,171a) (S.v,173)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn niệm xứ này. Thế nào là bốn?

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... trú, quán thọ trên các cảm thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, có bốn niệm xứ này.

25. V. Bà La Môn (S.v,174)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, khu vườn ông Cấp Cô Ðộc.

2) Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị Bà-la-môn ấy thưa với Thế Tôn:

3) -- Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không được tồn tại lâu dài? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài?

4-6) (như kinh trên, với những thay đổi cần thiết).

7) Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama!... từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.