|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 07 tháng 02, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 607. CHÁNH NIỆM VÀ THÂN BỆNH - Kinh Sirivaḍḍha (Sirivaḍḍhasuttaṃ), Kinh Mānadinna (Mānadinnasuttaṃ).
Chánh niệm với thân bệnh, trong hành trình tứ niệm xứ, không
phải là một kỹ thuật để xua tan đau đớn, mà là một cuộc gặp gỡ
chân thật, sâu thẳm với chính sự sống đang run rẩy trong hình
hài này. Người hành giả tỉnh thức ngồi đó, hơi thở nhẹ nhàng làm
nền, để nỗi đau hiện diện trọn vẹn – nóng rát, nhói buốt, nặng
nề, co rút – mà không vội chạy trốn, không vội oán trách, cũng
chẳng vội bấu víu vào mong muốn nó phải biến mất. Đó là sự tỉnh
táo thuần khiết: nhận biết mà không dán nhãn “tôi khổ”, không
nuôi lớn “tôi không chịu nổi”, không rơi vào vòng xoáy ái chấp
và ghét bỏ. Chính trong khoảnh khắc ấy, tham và ưu dần lặng lẽ
tan ra, như sương sớm gặp nắng mai, bởi chúng không còn được
nuôi dưỡng bởi sự phản ứng. Thân thọ khổ trở thành lò rèn im
lặng, nơi bản lãnh được tôi luyện từng chút một – không phải
bằng sức mạnh chống cự, mà bằng lòng dũng cảm chấp nhận như
nhiên. Và khi sự chấp nhận ấy trở nên viên mãn, không còn một kẽ
hở cho tham ưu len lỏi, hành giả chạm đến vị thế của những bậc
đã hoàn toàn buông xả: nhìn vui buồn, được mất, khổ lạc trôi qua
như mây trời lững lờ, mà tâm vẫn an nhiên tự tại, không dính
mắc, không dao động. Đó mới thực sự là tự do.
Kinh Văn
Kinh Sirivaḍḍha
(Sirivaḍḍhasuttaṃ)
Evaṃ me sutaṃ— ekaṃ samayaṃ āyasmā
ānando rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Một thuở, Tôn giả Ānanda trú tại Rājagaha (Vương Xá), ở Veḷuvana (Trúc
Lâm), Kalandakanivāpa (chỗ cho sóc ăn). Bấy giờ, gia chủ
Sirivaḍḍha bị bệnh, thân đau đớn, tình trạng nghiêm trọng. Rồi
gia chủ Sirivaḍḍha bảo một người:
“Bạn thân mến, hãy đến gặp Tôn giả Ānanda, nhân danh tôi đảnh lễ dưới chân
Ngài, và thưa: ‘Bạch Tôn giả, gia chủ Sirivaḍḍha bị bệnh, thân
đau đớn, tình trạng nghiêm trọng; xin đảnh lễ Tôn giả Ānanda,
cúi đầu dưới chân Ngài.’ Rồi thưa thêm: ‘Bạch Tôn giả, lành thay
nếu Tôn giả Ānanda vì lòng bi mẫn đến tư gia của gia chủ
Sirivaḍḍha.’”
Người ấy vâng lời, đến gặp Tôn giả Ānanda, đảnh lễ, ngồi một bên và trình
bạch. Tôn giả Ānanda im lặng nhận lời.
Sáng hôm sau, Tôn giả Ānanda đắp y, cầm bát và y, đến nhà gia chủ
Sirivaḍḍha, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn và nói:
“Gia chủ, ông kham nhẫn được chăng?,
bệnh tình khá hơn chăng? Mong đau nhức bớt chứ không
tăng, và bệnh trạng thuyên giảm chứ không phải nặng thêm.”
Gia chủ thưa: “Bạch Tôn giả, bệnh tình khó chịu đựng hơn, không khá hơn.
Sự đau nhức dữ dội đang tăng, không giảm; và thấy rõ nặng thêm
chứ không phải thuyên giảm.”
Tôn giả Ānanda nói: “Vậy này gia chủ, ông nên tu tập như sau:
Gia chủ thưa: “Bạch Tôn giả, bốn niệm xứ do Thế Tôn dạy, những pháp ấy có
mặt nơi con, và con sống đúng theo những pháp ấy: con trú quán
thân trên thân… thọ trên thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Và
năm hạ phần kiết sử do Thế Tôn dạy, con không thấy một điều nào
còn chưa đoạn tận nơi chính mình.”
Tôn giả Ānanda nói: “Thật là lợi ích cho ông, này gia chủ! Thật khéo lợi
ích cho ông! Ông đã tuyên bố quả Bất Lai.”
Kinh Mānadinna
(Mānadinnasuttaṃ)
Evaṃ me sutaṃ— ekaṃ samayaṃ āyasmā
ānando rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Cũng trong bối cảnh tương tự. Bấy giờ, gia chủ Mānadinna bị bệnh, đau đớn,
trọng bệnh… (nhờ người thỉnh Tôn giả Ānanda như trên).
Gia chủ thưa: “Bạch Tôn giả, con không kham nhẫn được… thân thọ khổ dữ dội
tăng, không giảm. Nhưng bạch Tôn giả, khi bị thọ đau ấy chi
phối, con vẫn trú quán thân trên thân… thọ trên thọ… tâm trên
tâm… pháp trên pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp
phục tham ưu ở đời. Và năm hạ phần kiết sử do Thế Tôn dạy, con
không thấy một điều nào còn chưa đoạn tận nơi chính mình.”
Tôn giả Ānanda nói: “Thật là lợi ích cho ông… Ông đã tuyên bố quả Bất
Lai.”
Chú thích
Không có nhiều tư liệu về hai cư sĩ Sirivaḍḍha và Mānadinna ngoài hai bài
kinh nầy trong Tam Tạng.
Chư Tăng đến tụng kinh và thuyết pháp cho người bệnh là điều rất thường
xảy ra khi Đức Phật còn tại thế. Điều nầy rất tương phản với
phần đông người theo Đạo Phật ngày nay thường chú trọng việc mởi
thỉnh chư tăng tụng kinh cầu siêu sau khi người thân qua đời hơn
là chú trọng sự hướng dẫn tu tập khi lâm trọng bệnh.
Ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno: công thức mô tả “bị bệnh, thân đau
đớn, tình trạng nghiêm trọng”. Cách mô tả nầy chỉ cho bệnh tình
nguy kinh với sự đau đớn lớn lao của thể xác vào thời đại nhân
loại không có thuốc giảm đau (pain killer). Sự trạng nầy là cách
nói kể cả đối với các bâc thánh với tâm hoàn toàn giải thoát
nhưng vẫn phải chịu đựng với thân bệnh. Khác với Phật giáo Đại
Thừa, kinh điển Pāli vẫn thường ghi lại thân bệnh của tất cả bậc
viên giác, kể cả Đức Phật.
Tuṇhībhāvena adhivāseti: “chấp thuận
hay nhận lời bằng sự im lặng ” (một lối biểu đạt pháp chế
hay nghi lễ rất phổ biến trong Phật giáo).
Câu nói “Bạch Tôn giả, bệnh tình khó chịu đựng
hơn, không khá hơn. Sự đau nhức dữ dội đang tăng, không giảm; và
thấy rõ nặng thêm chứ không phải thuyên giảm.” (Na me,
bhante, khamanīyaṃ; na yāpanīyaṃ. Dukkhā me vedanā abhikkamanti
no paṭikkamanti; abhikkamosānaṃ paññāyati no paṭikkamosānan”)
thường được dịch khiến người đọc cảm nhận là người bệnh đang vô
cùng khổ sở về cả hai phương diện thân và tâm. Ở trong rất nhiều
trường hợp, chỉ là cách mô tả chung về thân thọ khổ khi cơ thể
bị bệnh trầm trọng. Cách nói nầy cũng tìm thấy ở các vị a la hán
như trường hợp Ngài Assaji thưa với Đức Phật. Nên hiểu là dù
thân bị bệnh khổ nhưng tâm các ngài hoàn toàn giải thoát.
Pañcorambhāgiyāni saṃyojanāni (năm hạ phần kiết sử) được hiểu là: thân kiến, hoài nghi, giới cấm
thủ, dục tham, sân—đoạn tận năm kiết sử này là tâm thái
của bậc thánh
bất
lai a na hàm. (Trong hai bài kinh nầy, cả hai cư sĩ tự
xác nhận “không thấy còn sót”.)
Tesu dhammesu sandissāmi, tesu ca viharāmi: “những pháp ấy có mặt nơi tôi, và tôi sống đúng theo những pháp ấy” —
lời xác chứng thực hành, không phải chỉ học thuộc. Anāgāmiphalaṃ… byākataṃ: “đã tuyên bố quả Bất Lai”—Ānanda ấn chứng lời tự thuật là phù hợp với tiêu chuẩn Thánh quả.
Sớ Giải
Sớ giải sau đây đề cập tới bài kinh trước (394). Hoàn toàn không có chú
thích riêng cho 2 bài kinh sau vì “ý nghĩa quá rõ ràng”.
394-396. aṭṭhame mahābhiññatanti
channaṃ abhiññānaṃ vasena vuttaṃ. sahassaṃ lokaṃ abhijānāmīti
satatavihāravaseneva vuttaṃ. thero kira pātova uṭṭhāya mukhaṃ
dhovitvā senāsane nisinno atīte kappasahassaṃ, anāgate
kappasahassaṃ anussarati, paccuppannepi sahassaṃ cakkavāḷānaṃ
tassāvajjanassa gatiṃ anubandhati. iti so dibbena cakkhunā
sahassaṃ lokaṃ abhijānāti, ayamassa satatavihāro. sesaṃ
sabbattha uttānatthamevāti.
394-396. Aṭṭhame mahābhiññatanti: Trong bài kinh thứ tám, "Đại thắng trí" được nói đến dựa trên sức mạnh
của sáu thông (Lục thông).
Sahassaṃ lokaṃ abhijānāmīti: "Tôi biết rõ ngàn thế giới" — điều này được nói dựa trên trạng thái
"thường trụ trong chánh niệm" (satatavihāra) của Ngài. Được biết
rằng, mỗi ngày sau khi thức dậy vào sáng sớm, rửa mặt và ngồi
xuống tại trú xứ, Tôn giả (Anuruddha) quán sát một ngàn kiếp
trong quá khứ, biết rõ một ngàn kiếp ở vị lai, và đối với hiện
tại, Ngài có thể quán sát sự vận hành của một ngàn luân hồi thế
giới (cakkavāḷa).
Như vậy, với Thiên nhãn thông (dibbena cakkhunā), Ngài biết rõ ngàn thế
giới; đó chính là trạng thái an trú thường xuyên của Ngài. Các
bài kinh còn lại đều có ý nghĩa rõ ràng.
|