MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 47. Tương Ưng Niệm Xứ
-Phẩm Chưa Từng Nghe & Phẩm Bất Tử- SN 47.31 đến 47. 104 . -
Bài 609. LOẠT BÀI KINH CHIÊM NGHIỆM VỀ TỨ NIỆM XỨ
Những bài kinh được tụng đọc hôm nay là phần kết tập sau
cùng của Tương Ưng Niệm Xứ, như một dòng sông đã đi trọn hành
trình và đang lặng lẽ hòa vào biển lớn. Ở đoạn cuối này, chứa
đựng những Phật ngôn tựa
như loạt bài kết của Tương Ưng Giác Chi, nơi mỗi bài kinh là một
nhịp nhắc nhở, một sự xác chứng cho con đường đã được chỉ bày.
Những hình ảnh, ví dụ, và cách lập lại trong các bài kinh ấy
không phải là sự trùng lặp vô nghĩa, mà là sự gia giảm vi tế,
phù hợp với căn tánh và trình độ khác nhau của từng hành giả,
từng hội chúng. Có người cần được khích lệ bằng hình ảnh dòng
sông xuôi về biển cả, có người cần được nhắc nhở bằng sự nguy
hiểm của kiết sử, có người lại cần thấy rõ lợi ích thiết thực
của giới, định và niệm trong đời sống hằng ngày. Đức Phật, với
tuệ giác toàn tri, đã nói cùng một pháp, nhưng nói bằng nhiều
ngôn ngữ của kinh nghiệm.
Ngày nay, người học Phật hay hành giả tu tập Tứ Niệm Xứ, khi
đọc lại từng bài kinh trong phần sau hết này, không chỉ để hiểu
bằng tri thức, mà để soi chiếu lại chính mình. Mỗi bài kinh có
thể trở thành một tấm gương: có lúc phản chiếu sự tinh cần, có
lúc bộc lộ sự buông lung, có lúc mở ra một niềm tin lặng lẽ rằng
con đường mình đang đi không hề lạc hướng.
Bởi vì con đường thì chỉ có một, là con đường chánh niệm đưa
đến thanh tịnh và giải thoát; nhưng hành trình của mỗi người lại
là một kinh nghiệm rất riêng—được dệt nên bởi nghiệp, bởi căn
cơ, bởi những vấp ngã và tỉnh thức không giống nhau. Chính vì
vậy, Tương Ưng Niệm Xứ khép lại không phải bằng một dấu chấm
hết, mà bằng một lời mời thầm lặng: hãy bước tiếp, bằng đôi chân
của chính mình, trên con đường đã được các bậc Giác Ngộ đi qua
Kinh Văn
32. Kinh Ly tham
1 “Này các Tỳ khưu, bốn niệm xứ này, khi được tu tập và làm cho sung mãn,
đưa đến yểm ly hoàn toàn, đưa đến ly tham, đưa đến đoạn diệt,
đưa đến an tịnh, đưa đến thắng trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến
Niết-bàn.
2 “Bốn pháp gồm những gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú quán
thân trên thân… thọ trên thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp, tinh
cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.
3 “Bốn niệm xứ này, này các Tỳ khưu, khi được tu tập và làm cho sung mãn,
đưa đến yểm ly hoàn toàn, đưa đến ly tham, đưa đến đoạn diệt,
đưa đến an tịnh, đưa đến thắng trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến
Niết-bàn.”
33. Kinh Bỏ bê
1 “Này các Tỳ khưu, những ai đã bỏ bê bốn niệm xứ này là đã bỏ bê Thánh
đạo đưa đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau. [180] Những ai đã
thực hành bốn niệm xứ này là đã thực hành Thánh đạo đưa đến sự
đoạn tận hoàn toàn khổ đau.
2 “Bốn pháp gồm những gì?… (như trên) … Những ai đã bỏ bê… Những ai đã
thực hành bốn niệm xứ này là đã thực hành Thánh đạo đưa đến sự
đoạn tận hoàn toàn khổ đau.”
34. Kinh Tu tập
1 “Này các Tỳ khưu, bốn niệm xứ này, khi được tu tập và làm cho sung mãn,
đưa đến vượt qua từ bờ gần sang bờ kia. Bốn pháp gồm những gì?…
(như trên) … Bốn niệm xứ này, khi được tu tập và làm cho sung
mãn, đưa đến vượt qua từ bờ gần sang bờ kia.”
35. Kinh Chánh niệm
1 Tại Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu nên an trú chánh niệm và
tỉnh giác. Đây là lời chỉ dạy của chúng ta đối với các Thầy.
2 “Và thế nào, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu là người chánh niệm? Ở đây,
này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú quán thân trên thân… thọ
trên thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp, tinh cần, tỉnh giác,
chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ khưu,
một Tỳ khưu là người chánh niệm.
3 “Và thế nào, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu thực hành tỉnh giác? Ở đây,
đối với một Tỳ khưu, các cảm thọ được hiểu biết khi chúng khởi
lên, được hiểu biết [181] khi chúng đang hiện hữu, được hiểu
biết khi chúng diệt mất. Các tư tưởng được hiểu biết khi chúng
khởi lên, được hiểu biết khi chúng đang hiện hữu, được hiểu biết
khi chúng diệt mất. Các tưởng được hiểu biết khi chúng khởi lên,
được hiểu biết khi chúng đang hiện hữu, được hiểu biết khi chúng
diệt mất. Như vậy, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu thực hành tỉnh
giác.176
4 “Này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu nên an trú chánh niệm và tỉnh giác. Đây là
lời chỉ dạy của chúng ta đối với các Thầy.”
36. Kinh Tri kiến
rốt ráo
1 “Này các Tỳ khưu, có bốn niệm xứ này. Bốn pháp gồm những gì? Ở đây, này
các Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú quán thân trên thân… thọ trên
thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh
niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.
2 “Này các Tỳ khưu, khi bốn niệm xứ này đã được tu tập và làm cho sung
mãn, có thể mong đợi một trong hai quả: hoặc là tri kiến rốt ráo
ngay trong đời này, hoặc nếu còn dư sót của chấp thủ, thì chứng
bất lai.”
37. Kinh Dục
1 “Này các Tỳ khưu, có bốn niệm xứ này. Bốn pháp gồm những gì? Ở đây, này
các Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú quán thân trên thân, tinh cần,
tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Khi vị ấy an trú
như vậy quán thân trên thân, bất cứ dục nào đối với thân đều
được từ bỏ. Do từ bỏ dục, Bất tử được chứng đạt.
2 “Vị ấy an trú quán thọ trên thọ… [182] … tâm trên tâm… pháp trên pháp…
đoạn trừ tham ưu ở đời. Khi vị ấy an trú như vậy quán pháp trên
pháp, bất cứ dục nào đối với pháp đều được từ bỏ. Do từ bỏ dục,
Bất tử được chứng đạt.”
38. Kinh Thắng tri
(liễu tri) trọn vẹn
1 “Này các Tỳ khưu, có bốn niệm xứ này. Bốn pháp gồm những gì? Ở đây, này
các Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú quán thân trên thân, tinh cần,
tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Khi vị ấy an trú
như vậy quán thân trên thân, thân được thấu triệt hoàn toàn. Do
thân đã được thấu triệt hoàn toàn, Bất tử được chứng đạt.
2 “Vị ấy an trú quán thọ trên thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp… đoạn trừ
tham ưu ở đời. Khi vị ấy an trú như vậy quán pháp trên pháp, các
pháp được thấu triệt hoàn toàn. Do các pháp đã được thấu triệt
hoàn toàn, Bất tử được chứng đạt.”
39. Kinh Tu tập
1 “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ dạy các Thầy về sự tu tập bốn niệm xứ. Hãy lắng
nghe điều ấy….
2 “Và này các Tỳ khưu, thế nào là sự tu tập bốn niệm xứ? Ở đây, này các Tỳ
khưu, một Tỳ khưu an trú quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh
giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Vị ấy an trú quán thọ
trên thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp, [183] tinh cần, tỉnh
giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Này các Tỳ khưu, đó
gọi là sự tu tập bốn niệm xứ.”
40. Kinh Phân tích
1 “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ dạy các Thầy về niệm xứ,177 và sự tu tập niệm
xứ, và con đường đưa đến sự tu tập niệm xứ. Hãy lắng nghe điều
ấy….
2 “Và này các Tỳ khưu, thế nào là niệm xứ? Ở đây, này các Tỳ khưu, một Tỳ
khưu an trú quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh
niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Vị ấy an trú quán thọ trên thọ…
tâm trên tâm… pháp trên pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm,
đoạn trừ tham ưu ở đời. Đó gọi là niệm xứ.
3 “Và này các Tỳ khưu, thế nào là sự tu tập niệm xứ? Ở đây, này các Tỳ
khưu, một Tỳ khưu an trú quán tính sinh khởi nơi thân; an trú
quán tính hoại diệt nơi thân; an trú quán tính sinh khởi và hoại
diệt nơi thân—tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu
ở đời.178
Vị ấy an trú quán tính sinh khởi nơi thọ… Vị ấy an trú quán tính
sinh khởi nơi tâm… Vị ấy an trú quán tính sinh khởi nơi pháp; an
trú quán tính hoại diệt nơi pháp; an trú quán tính sinh khởi và
hoại diệt nơi pháp—tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ
tham ưu ở đời. Đó gọi là sự tu tập niệm xứ.
4 “Và này các Tỳ khưu, thế nào là con đường đưa đến sự tu tập niệm xứ?
Chính là Thánh Đạo Tám Ngành này; tức là chánh kiến… chánh định.
Đó gọi là con đường đưa đến sự tu tập niệm xứ.”
V. BẤT TỬ
41. Kinh Bất tử
1 Tại Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, hãy an trú với tâm được thiết lập vững
chắc trong bốn niệm xứ. Chớ để Bất tử bị đánh mất đối với các
Thầy.179
2 “Trong bốn pháp gồm những gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú
quán thân trên thân… thọ trên thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp,
tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Này các
Tỳ khưu, hãy an trú với tâm được thiết lập vững chắc trong bốn
niệm xứ này. Chớ để Bất tử bị đánh mất đối với các Thầy.”
42. Kinh Sinh khởi
1 “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ dạy các Thầy về sự sinh khởi và sự đoạn diệt của
bốn niệm xứ. Hãy lắng nghe.
2 “Này các Tỳ khưu, thế nào là sự sinh khởi của thân? Do sinh khởi của vật
thực mà có sinh khởi của thân. Do đoạn diệt của vật thực mà có
đoạn diệt của thân.
3 “Do sinh khởi của xúc mà có sinh khởi của thọ. Do đoạn diệt của xúc mà
có đoạn diệt của thọ.
4 “Do sinh khởi của danh-sắc mà có sinh khởi của tâm. Do đoạn diệt của
danh-sắc mà có đoạn diệt của tâm.
5 “Do sinh khởi của tác ý mà có sinh khởi của pháp. Do đoạn diệt của
tác ý mà có đoạn diệt của
pháp.”
43. Kinh Con đường
1 Tại Sāvatthī. Ở đó Thế Tôn nói với các Tỳ khưu như sau:183
2 “Này các Tỳ khưu, có một lần Ta trú tại Uruvelā, bên bờ sông Nerañjarā,
dưới cây đa của người chăn dê, ngay sau khi Ta vừa chứng Chánh
Đẳng Giác. Rồi trong khi Ta độc cư thiền tịnh, một suy niệm khởi
lên trong tâm Ta như vầy: ‘Đây là con đường độc đạo cho sự thanh
tịnh của chúng sanh, cho sự vượt qua sầu bi… (như ở §18)… tức là
bốn niệm xứ.’
3 “Rồi này các Tỳ khưu, Phạm thiên Sahampati, biết được với tâm của mình
suy niệm trong tâm Ta, nhanh như một lực sĩ duỗi cánh tay co lại
hay co cánh tay duỗi ra, biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra
trước mặt Ta. Ông choàng thượng y qua một vai, chắp tay hướng về
Ta đảnh lễ và nói: ‘Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Đúng vậy, bạch Thiện
Thệ! Bạch Tôn giả, đây là con đường độc đạo cho sự thanh tịnh
của chúng sanh… … tức là bốn niệm xứ.’
4 “Này các Tỳ khưu, đó là điều Phạm thiên Sahampati đã nói. Nói xong, ông
lại nói thêm điều này:
5 “‘Các Bậc Kiến Giả thấy sự đoạn tận của sanh,
Các Đấng Đại Từ biết con đường độc đạo,
Trong quá khứ các Ngài vượt qua dòng lũ,
Vị lai cũng vậy, và bây giờ cũng thế.’”
44. Kinh Chánh niệm
1 “Này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu nên an trú chánh niệm. Đây là lời chỉ dạy
của chúng ta đối với các Thầy.
2 “Và thế nào, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu là người chánh niệm? Ở đây,
này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú quán thân trên thân, tinh
cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Vị ấy an trú
quán thọ trên thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp, tinh cần, tỉnh
giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ
khưu, một Tỳ khưu là người chánh niệm.
3 “Này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu nên an trú chánh niệm. Đây là lời chỉ dạy
của chúng ta đối với các Thầy.”
45. Kinh Một khối
kết cấu thiện pháp
1 “Này các Tỳ khưu, nếu có ai nói về bất cứ điều gì rằng: ‘một khối thiện
pháp,’ thì chính về bốn niệm xứ mà người ấy có thể nói một cách
đúng đắn như vậy. Vì đây là một khối thiện pháp hoàn chỉnh, tức
là bốn niệm xứ. Bốn pháp gồm những gì?
2 “Ở đây, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú quán thân trên thân… thọ
trên thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp, tinh cần, tỉnh giác,
chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.
3 “Này các Tỳ khưu, nếu có ai nói về bất cứ điều gì rằng: ‘một khối thiện
pháp,’ thì chính về bốn niệm xứ này mà người ấy có thể nói một
cách đúng đắn như vậy. Vì đây là một khối thiện pháp hoàn chỉnh,
tức là bốn niệm xứ.
46. Kinh Chế ngự
theo Ba-la-đề-mộc-xoa (Pātimokkha)
1 Rồi một Tỳ khưu nọ đến gần Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và bạch:
“Bạch Thế Tôn, sẽ lành thay nếu Thế Tôn dạy con pháp vắn tắt, để
sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, con có thể sống một mình, viễn ly,
tinh cần, nhiệt tâm và kiên quyết.”
2 “Trong trường hợp ấy, này Tỳ khưu, hãy làm cho thanh tịnh ngay từ điểm
khởi đầu của các thiện pháp. Và điểm khởi đầu của các thiện pháp
là pháp gồm những gì? Ở đây, này Tỳ khưu, hãy sống chế ngự bằng
sự chế ngự của Pātimokkha, thành tựu oai nghi chánh hạnh và chỗ
đi đứng thích hợp, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt. Sau
khi đã thọ trì các học giới, hãy thực hành chúng. Khi, này Tỳ
khưu, ông sống chế ngự bằng sự chế ngự của Pātimokkha… thấy nguy
hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thì dựa trên giới, an trú trên
giới, ông nên tu tập bốn niệm xứ.
3 “Bốn pháp gồm những gì? Ở đây, này Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú quán thân
trên thân… thọ trên thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp, tinh cần,
tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.
4 “Khi, này Tỳ khưu, dựa trên giới, an trú trên giới, ông tu tập bốn niệm
xứ theo cách như vậy, thì dù đêm hay ngày đến, ông có thể mong
đợi chỉ có sự tăng trưởng các thiện pháp, không suy giảm.”
5 Rồi vị Tỳ khưu ấy, hoan hỷ và tán thán lời Thế Tôn, đứng dậy… [188] Và
vị ấy trở thành một vị A-la-hán.
47. Kinh Tà hạnh
1 Rồi một Tỳ khưu nọ đến gần Thế Tôn… bạch: “Bạch Thế Tôn, sẽ lành thay
nếu Thế Tôn dạy con pháp vắn tắt…”
2 “Trong trường hợp ấy, này Tỳ khưu, hãy làm cho thanh tịnh ngay từ điểm
khởi đầu của các thiện pháp. Và điểm khởi đầu của các thiện pháp
là pháp gồm những gì? Ở đây, này Tỳ khưu, sau khi từ bỏ tà hạnh
về thân, Thầy nên tu tập chánh hạnh về thân. Sau khi từ bỏ tà
hạnh về lời, Thầy nên tu tập chánh hạnh về lời. Sau khi từ bỏ tà
hạnh về ý, Thầy nên tu tập chánh hạnh về ý. Khi, này Tỳ khưu,
sau khi đã từ bỏ tà hạnh về thân… Thầy đã tu tập chánh hạnh về
ý, thì dựa trên giới, an trú trên giới, Thầy nên tu tập bốn niệm
xứ.
3 “Bốn pháp gồm những gì? Ở đây, này Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú quán thân
trên thân… thọ trên thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp, tinh cần,
tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.
4 “Khi, này Tỳ khưu, dựa trên giới, an trú trên giới, Thầy tu tập bốn niệm
xứ theo cách như vậy, thì dù đêm hay ngày đến, ông có thể mong
đợi chỉ có sự tăng trưởng các thiện pháp, không suy giảm.”
5 Rồi vị Tỳ khưu ấy… trở thành một vị A-la-hán.
48. Kinh Bạn bè
1 “Này các Tỳ khưu, những ai đối với các Thầy là đối tượng của lòng bi mẫn
và nghĩ rằng các Thầy nên được lắng nghe—dù là bạn bè hay đồng
sự, bà con hay thân quyến—các Thầy nên khuyên nhủ, sắp đặt và
thiết lập họ trong sự tu tập bốn niệm xứ.
2 “Bốn pháp gồm những gì? Ở đây, này Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú quán thân
trên thân… thọ trên thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp, tinh cần,
tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.
3 “Này các Tỳ khưu, những ai đối với các Thầy là đối tượng của lòng bi
mẫn… các Thầy nên khuyên nhủ, sắp đặt và thiết lập họ trong sự
tu tập bốn niệm xứ này.”
49. Kinh Các cảm thọ
1 “Này các Tỳ khưu, có ba cảm thọ này. Ba pháp gồm những gì? Cảm thọ lạc,
cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không lạc. Đó là ba cảm thọ. Bốn
niệm xứ cần được tu tập để thấu triệt trọn vẹn ba cảm thọ này.
2 “Bốn pháp gồm những gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú quán
thân trên thân… thọ trên thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp, tinh
cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.
3 “Này các Tỳ khưu, bốn niệm xứ này cần được tu tập để thấu triệt trọn vẹn
ba cảm thọ ấy.”
50. Kinh Các lậu
hoặc
1 “Này các Tỳ khưu, có ba lậu hoặc này. Ba pháp gồm những gì? Dục lậu, hữu
lậu, vô minh lậu. [190] Đó là ba lậu hoặc. Bốn niệm xứ cần được
tu tập để thấu triệt trọn vẹn ba lậu hoặc này.
2 “Bốn pháp gồm những gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú quán
thân trên thân… thọ trên thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp, tinh
cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.
3 “Này các Tỳ khưu, bốn niệm xứ này cần được tu tập để thấu triệt trọn vẹn
ba lậu hoặc ấy.”
VI. LOẠT BÀI KINH TRÙNG LẶP VỀ SÔNG HẰNG
51–62. Kinh Sông
Hằng—chảy về phương Đông, v.v.
1 “Này các Tỳ khưu, cũng như sông Hằng nghiêng, dốc và xuôi về phía đông,
cũng vậy, một Tỳ khưu tu tập và làm cho sung mãn bốn niệm xứ thì
nghiêng, dốc và xuôi về Niết-bàn.
2 “Và thế nào, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu tu tập và làm cho sung mãn bốn
niệm xứ để vị ấy nghiêng, dốc và xuôi về Niết-bàn? Ở đây, này
các Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú quán thân trên thân… thọ trên
thọ… tâm trên tâm… pháp trên pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh
niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Chính bằng cách ấy, này các Tỳ
khưu, một Tỳ khưu tu tập và làm cho sung mãn bốn niệm xứ để vị
ấy nghiêng, dốc và xuôi về Niết-bàn.”
(Các bài kinh còn lại trong phẩm này cần được triển khai tương tự, song
song với 45:92–102.)
3 Sáu bài về xuôi về phương Đông
Và sáu bài về xuôi về biển cả.
Hai nhóm sáu thành mười hai:
Như vậy tiểu phẩm được tụng đọc.
VII. TINH TẤN
63–72. Kinh Như Lai,
v.v.
(Được triển khai theo niệm xứ, song song với 45:139–48.)
1 Như Lai, dấu chân, đỉnh mái,
Rễ, giác lõi, hoa lài,
Quân vương, trăng và mặt trời,
Cùng với tấm vải là bài thứ mười.
VIII. NHỮNG CÔNG HẠNH TINH CẦN
73–84. **Tinh cần,
v.v.**184
(Được triển khai tương tự, song song với 45:149–60.)
1 Tinh cần, hạt giống, và nāga,
Cây, cái nồi, cái cọc nhọn,
Bầu trời, và hai bài về mây,
Con thuyền, nhà khách, và dòng sông.
IX. CÁC SỰ TẦM CẦU
85–94. Kinh Tầm cầu,
v.v.
(Được triển khai tương tự, song song với 45:161–70.)
1 Tầm cầu, phân biệt, lậu hoặc,
Các loại hữu, ba thứ khổ,
Sự cằn cỗi, các vết nhơ, và những phiền toái,
Cảm thọ, ái dục, và khát ái.185
X. CÁC DÒNG LŨ
95–103. Kinh Dòng
lũ, v.v.
(Được triển khai tương tự, song song với 45:171–79.)
104. Kinh Các kiết
sử thượng phần
1 “Này các Tỳ khưu, có năm kiết sử thượng phần này. Năm pháp gồm những gì?
Dục đối với sắc, dục đối với vô sắc, ngã mạn, trạo cử, [192] vô
minh. Đó là năm kiết sử thượng phần. Bốn niệm xứ cần được tu tập
để thắng trí năm kiết sử thượng phần này, để thấu triệt trọn vẹn
chúng, để đoạn diệt hoàn toàn, để từ bỏ chúng.
2 “Bốn pháp gồm những gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu an trú quán
thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham
ưu ở đời. Vị ấy an trú quán thọ trên thọ… tâm trên tâm… pháp
trên pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở
đời. Bốn niệm xứ này cần được tu tập để thắng trí năm kiết sử
thượng phần ấy, để thấu triệt trọn vẹn chúng, để đoạn diệt hoàn
toàn, để từ bỏ chúng.”
3 Dòng lũ, trói buộc, các loại chấp thủ,
Các nút thắt, và các tùy miên,
Những dây trói của dục lạc, các triền cái,
Năm uẩn, các kiết sử hạ phần và thượng phần.
4 “Tương Ưng về Niệm Xứ cần được triển khai tương tự như Tương Ưng về
Đạo.”186
Chú thích
32. Ly tham
-
“Yểm ly (nibbidā) → ly tham
(virāga) → đoạn diệt (nirodha)”:
chuỗi tiến trình tuệ quán: thấy rõ vô thường–khổ–vô ngã nên
chán lìa, rồi nguội tham, cuối cùng đoạn tận các lậu hoặc.
-
“An tịnh – thắng trí – giác ngộ –
Niết-bàn”: các danh xưng của cùng một hướng: tâm lắng yên,
trí biết như thật, chứng ngộ giải thoát.
33. Bỏ bê
-
“Bỏ bê bốn niệm xứ” = bỏ bê Thánh
đạo: vì satipaṭṭhāna là đường độc đạo đưa đến đoạn tận khổ
(hàm ý: không có lối tắt khác thay thế).
-
“Thực hành bốn niệm xứ” = đã “đặt
chân” lên Thánh đạo: không phải làm nghi thức, mà là thực sự
an trú quán.
34. Tu tập
-
“Từ bờ gần sang bờ kia”: ẩn dụ vượt từ sanh tử sang Niết-bàn. “Bờ gần” là đời sống bị điều
kiện hóa; “bờ kia” là vô vi, an ổn.
-
Nhấn mạnh: bốn niệm xứ không chỉ
giúp “dễ chịu hơn”, mà là pháp môn vượt thoát.
35. Chánh niệm
-
Phân biệt chánh niệm và tỉnh giác:
-
Chánh niệm: an trú trong bốn lãnh
vực quán.
-
Tỉnh giác: biết tiến trình khởi
lên – trụ – diệt của thọ, tưởng, tầm tư (thoughts).
-
Đây là “chìa khóa” của tuệ quán:
thấy vô thường ngay khi đang hiện hữu, không đợi suy luận.
36. Tri kiến rốt ráo
1.
A-la-hán ngay đời này;
2.
nếu còn “dư sót chấp thủ” thì Bất lai
(anāgāmī).
-
“Dư sót chấp thủ” nghĩa là vẫn còn
một phần ái/kiết sử chưa nhổ tận gốc, nhưng đã đủ để không
còn tái sanh dục giới.
37. Dục
-
“Dục đối với thân/thọ/tâm/pháp” là
tâm dính mắc vào chính các đối tượng quán. Niệm xứ không chỉ
nhìn, mà còn làm tan dính mắc.
-
“Bất tử (amata)”: danh xưng của Niết-bàn; “thực chứng Bất tử” nghĩa là chứng đạt giải
thoát (tùy mức).
38. Thấu triệt trọn vẹn
-
“Thân/pháp được thấu triệt hoàn
toàn” = pariññā (liễu tri): biết đúng theo ba tướng, theo
duyên khởi, không còn bị đánh lừa bởi “ta” và “của ta”.
-
Câu “do thấu triệt… Bất tử được
chứng đạt” nhấn mạnh: tuệ liễu tri là nhân trực tiếp đưa đến
ly tham.
39. Tu tập (định nghĩa)
-
Đức Phật định nghĩa “tu tập bốn
niệm xứ” bằng chính hành vi an trú quán theo công thức
chuẩn.
→ Ngụ ý: đừng tìm pháp “phụ tùng” quá nhiều; cái cốt lõi là
thực hành liên tục, đúng cách.
40. Phân tích
1.
Niệm xứ: an trú quán bốn lãnh vực.
2.
Tu tập niệm
xứ: quán sinh–diệt (samudaya/vaya) của các pháp trong bốn lãnh vực.
3.
Con đường
đưa đến tu tập: Bát Thánh Đạo.
-
Chú ý: bốn niệm xứ không tách khỏi
Bát chánh đạo; nó là nền tảng vận hành của chánh kiến–chánh
tinh tấn–chánh định… trong thực tế.
41. Bất tử
-
“Chớ để Bất tử bị đánh mất đối với
các Thầy” = lời nhắc: có pháp đưa đến Niết-bàn ngay trong
tầm tay, nhưng có thể đánh mất vì buông lung.
-
“Tâm được thiết lập vững chắc” hàm
ý liên tục, bền bỉ, không phải chớp nhoáng.
42. Sinh khởi
-
Đây là áp dụng duyên khởi vào bốn
lãnh vực:
-
Thân nương đoàn thực .
-
Thọ nương xúc.
-
Tâm nương danh-sắc.
-
Pháp (đối tượng quán) nương tác ý .
-
Điểm quan trọng: muốn “thấy
sinh–diệt” phải thấy nhân duyên; không hiểu duyên khởi thì
quán dễ thành “nhìn cho biết”.
43. Con đường (Brahmā Sahampati)
-
Nhắc lại “con đường độc đạo”
(ekāyano maggo): nhấn mạnh tính trực tiếp và tất yếu của
satipaṭṭhāna cho thanh tịnh và vượt khổ.
-
Sự xuất hiện của Phạm thiên
Sahampati mang ý nghĩa: giáo pháp này được tán thán như con
đường vượt lũ cho tất cả chư Phật quá khứ–hiện tại–vị lai
(tính “xuyên thời”).
44. Chánh niệm (lặp lại)
-
Bài này “rút gọn”: chỉ nhấn mệnh
lệnh thực hành và định nghĩa chánh niệm bằng công thức bốn
niệm xứ.
→ Dùng như một “tấm biển chỉ đường” để hành giả không lạc
sang các kiểu chú ý không đúng pháp.
45. Một khối thiện pháp
-
“Khối thiện pháp” = tập hợp đầy đủ
các nhân tố thiện dẫn đến giải thoát.
→ Hàm ý: trong bốn niệm xứ có mặt đồng thời các yếu tố của
đạo (tinh tấn, niệm, định, tuệ…).
46. Chế ngự theo giới bổn
-
“Thanh tịnh phần đầu của thiện
pháp” = bắt đầu từ giới.
-
Pātimokkha là hệ thống học giới
của Tăng; “thấy nguy hiểm trong lỗi nhỏ” là thái độ tỉnh
phòng giúp niệm xứ tăng trưởng.
-
Kết bài một Tỳ khưu chứng
A-la-hán: nêu rõ lộ trình giới → niệm xứ → giải thoát có thể
thành tựu.
47. Tà hạnh
-
Nhấn mạnh nền tảng giới theo dạng
ba nghiệp: thân–khẩu–ý.
-
Ý chính: muốn niệm xứ “có lực”,
phải bỏ tà hạnh, vì tâm ô nhiễm sẽ làm quán trở thành tán
loạn hoặc tự dối mình.
48. Bạn bè
-
Đây là trách nhiệm “hộ trì” người
thân: đem người mình thương về cốt lõi thực hành, không chỉ
khuyên đạo lý chung.
-
khuyến tấn – an lập – vững trú: giúp họ có pháp môn cụ thể và bền.
49. Cảm thọ
-
Ba thọ là “chỗ dễ sinh tham–sân”:
-
lạc thọ → tham
-
khổ thọ → sân/ưu
-
bất khổ bất lạc → si/biếng nhác
-
Vì vậy niệm xứ là phương tiện để
liễu tri thọ, không bị thọ lôi cuốn.
50. Lậu hoặc
-
Ba lậu hoặc (dục/hữu/vô minh) là
gốc của luân hồi. “Liễu tri” lậu hoặc nghĩa là thấy rõ cơ
chế, rồi đoạn trừ.
-
Niệm xứ được nêu như pháp môn trực
tiếp để đi vào việc “xử lý tận gốc” (không chỉ làm dịu bề
mặt).
51–62. Sông Hằng
-
Ẩn dụ hướng nghiêng tự nhiên: khi
niệm xứ chín muồi, tâm “dốc về” Niết-bàn giống như sông Hằng
dốc về biển.
→ Nhấn mạnh yếu tố định hướng tự nhiên hơn là “khiên cưỡng”.
104. Kiết sử thượng phần
-
Năm kiết sử thượng phần: ái sắc,
ái vô sắc, mạn, trạo cử, vô minh.
-
Niệm xứ được dùng để: thắng trí –
liễu tri – đoạn diệt – từ bỏ: bốn cấp độ xử lý phiền não, từ
biết rõ đến nhổ sạch.\
Sớ Giải
(Tìm lại Sớ Giải tương tự trong phần cuối của “Tương Ưng Giác Chi” mà phần
lớn được ghi trong chú thích trên.)
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
IV. Phẩm Chưa Từng Ðược Nghe
32. II. Ly Tham (Tạp 24,34, Ðại 2,276a)
(S.v,179)
1-2) Tại Sàvatthi...
3) -- Bốn niệm xứ này, này các Tỷ-kheo, nếu được tu tập,
được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham,
đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là
bốn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời...
trú, quán thọ trên các cảm thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú,
quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp
phục tham ưu ở đời. Bốn niệm xứ này, này các Tỷ-kheo, nếu tu
tập, nếu làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly
tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
33. III. Thối Thất (Viraddha) (S.v,179)
1-2)...
3) -- Với những ai, này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ bị thối
thất, đối với những người ấy, cũng bị thối thất là Thánh đạo đưa
đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.
4) Với những ai, này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ này được thực
hành, đối với những người ấy, cũng được thực hành là Thánh đạo
đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Thế nào là bốn?
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời...
trú, quán thọ trên các cảm thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú,
quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp
phục tham ưu ở đời. Ðối với những ai, này các Tỷ-kheo, bốn niệm
xứ này bị thối thất, thời cũng thối thất là Thánh đạo đưa đến
chơn chánh đoạn diệt đau khổ. Ðối với những ai, này các Tỷ-kheo,
bốn niệm xứ này được thực hành, thời cũng được thực hành là
Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.
34. IV. Tu Tập (S.v,180)
1-2) Tại Sàvatthi...
3) -- Bốn niệm xứ này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được
làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua đến bờ bên kia. Thế nào
là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân...
trú, quán thọ trên các thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú,
quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp
phục tham ưu ở đời. Bốn niệm xứ này, này các Tỷ-kheo, nếu được
tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua đến bờ bên
kia.
35.V. Niệm (S.v,180)
1-2) Tại Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy trú chánh niệm, tỉnh
giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Thầy.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm? Ở đây,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... Như vậy, này
các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
5) Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Ở
đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết rõ ràng các cảm thọ khởi lên,
biết rõ ràng các cảm thọ an trú, biết rõ ràng các cảm thọ đi đến
tiêu mất; biết rõ ràng các tưởng khởi lên, biết rõ ràng các
tưởng an trú, biết rõ ràng các tưởng đi đến tiêu mất. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.
6) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy trú chánh niệm, tỉnh giác.
Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Thầy.
36. VI. Chánh Trí (S.v,181)
1-2) Tại Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn niệm xứ này. Thế nào là bốn? Ở
đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân... trú,
quán thọ trên các cảm thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán
pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục
tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn niệm xứ.
4) Do tu tập, làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, này các
Tỷ-kheo, được chờ đợi là một trong hai quả: Ngay trong hiện tại,
chứng được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.
37. VII. Ước Muốn (Chandam) (S.v,182)
1-2) Tại Sàvatthi...
3)-- Này các Tỷ-kheo, có bốn niệm xứ này. Thế nào là bốn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do
vị ấy trú, quán thân trên thân, ước muốn đối với thân được đoạn
diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.
5) Vị ấy trú, quán thọ trên các cảm thọ... Do vị ấy trú,
quán thọ trên các cảm thọ, ước muốn đối với thọ được đoạn diệt.
Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.
6) Vị ấy trú, quán tâm trên tâm... Do vị ấy trú, quán tâm
trên tâm, ước muốn đối với tâm được đoạn diệt. Do ước muốn được
đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.
7) Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp... Do vị ấy trú, quán
pháp trên các pháp, ước muốn đối với các pháp được đoạn diệt. Do
ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.
38. VIII. Liễu Tri (S.v,182)
1)...
2) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn niệm xứ này. Thế nào là bốn?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do
vị ấy trú, quán thân trên thân, thân được liễu tri. Do liễu tri
thân nên chứng ngộ được bất tử... (Cũng vậy, đối với thọ, đối
với tâm, đối với pháp).
39. IX. Tu Tập (Tạp 24,2, Ðại 2,171a)
(S.v,182)
1)...
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về tu tập bốn niệm xứ.
Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tu tập bốn niệm
xứ?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Ðối
với các thọ... Ðối với tâm... Tỷ-kheo trú, quán pháp trên các
pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở
đời.
4) Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập bốn niệm xứ này.
40. X. Phân Biệt (S.v,183)
1)...
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Thầy về niệm xứ,
tu tập bốn niệm xứ và đạo lộ đưa đến tu tập bốn niệm xứ. Hãy
lắng nghe.
3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm xứ? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... trú, quán thọ trên các
cảm thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán pháp trên các
pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở
đời. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm xứ.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tu tập bốn niệm xứ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán tánh tập khởi trên
thân; trú, quán tánh đoạn diệt trên thân; trú, quán tánh tập
khởi và tánh đoạn diệt trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú, quán tánh tập khởi
trên các cảm thọ; trú, quán tánh đoạn diệt trên các cảm thọ;
trú, quán tánh tập khởi và tánh đoạn diệt trên các cảm thọ...
trú, quán tánh tập khởi trên tâm... trú, quán tánh tập khởi trên
các pháp; trú, quán tánh đoạn diệt trên các pháp; trú, quán tánh
tập khởi và tánh đoạn diệt trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
là sự tu tập bốn niệm xứ.
5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo lộ đưa đến sự tu tập
bốn niệm xứ? Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh
tri kiến... chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo lộ đưa
đến tu tập bốn niệm xứ.
V. Phẩm Bất Tử
41. I. Bất Tử (Tạp 24,4 Ðại 2,171a) (S.v,184)
1) Tại Sàvatthi...
2) -- Này các Tỷ-kheo, hãy trú với tâm khéo an trú trên bốn
niệm xứ. Nhưng các Thầy chớ có bỏ mất bất tử. Thế nào là bốn?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời...
trú, quán thọ trên các cảm thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú,
quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp
phục tham ưu ở đời.
4) Này các Tỷ-kheo, hãy trú, với tâm khéo an trú trên bốn
niệm xứ. Nhưng các Thầy chớ có bỏ mất bất tử.
42. II. Tập Khởi (Tạp 24,5, Ðại 2,171a)
(S.v,184)
1). ..
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Thầy về sự tập
khởi và sự chấm dứt bốn niệm xứ. Hãy lắng nghe.
3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự tập khởi của thân? Sự
tập khởi của món ăn là sự tập khởi của thân. Sự đoạn diệt các
món ăn là sự đoạn diệt của thân.
4) Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của thọ. Sự đoạn diệt
của xúc là sự chấm dứt của thọ.
5) Sự tập khởi của danh sắc là sự tập khởi của tâm. Sự đoạn
diệt của danh sắc là sự chấm dứt của tâm.
6) Sự tập khởi của tác ý là sự tập khởi của các pháp. Sự
đoạn diệt của tác ý là sự chấm dứt của các pháp.
43. III. Con Ðường (S.V,185)
1) Tại Sàvatthi...
2) Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-- Một thời, này các Tỷ-kheo, Ta trú ở Uruvelà, trên bờ sông
Neranjarà, dưới cây bàng Ajapàla, khi vừa mới được giác ngộ.
3) Này các Tỷ-kheo, trong khi độc cư Thiền tịnh, tâm niệm,
tư tưởng như sau khởi lên nơi Ta: "Ðây là con đường độc nhất
khiến chúng sanh được thanh tịnh, giúp vượt qua sầu bi, chấm dứt
khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm
xứ. Thế nào là bốn? Tỷ-kheo hãy trú, quán thân trên thân... Hãy
trú, quán thọ trên các thọ... Hãy trú, quán tâm trên tâm... Hãy
trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm,
nhiếp phục tham ưu ở đời. Ðây là con đường độc nhất khiến chúng
sanh được thanh tịnh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng
đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là bốn niệm xứ.
4) Này các Tỷ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati với tâm của
mình biết được tâm niệm suy tư của Ta, ví như một người lực sĩ
duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra;
cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên và hiện ra trước mặt Ta.
5) Rồi, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati đắp thượng y
vào một bên vai, chấp tay hướng đến Ta và thưa với Ta: "Như vậy
là phải, bạch Thế Tôn. Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ. Ðây là
con đường độc nhất khiến chúng sanh được thanh tịnh, vượt qua
sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn.
Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn? Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo trú,
quán thân trên thân... trú, quán thọ trên các thọ... trú, quán
tâm trên tâm... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh
giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Bạch Thế Tôn, đây là
con đường độc nhất khiến chúng sanh được thanh tịnh, vượt qua
sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn.
Tức là bốn niệm xứ".
6) Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati thuyết như vậy, nói
vậy xong, lại nói thêm như sau:
Thấy con đường độc nhất,
Ðưa đến đoạn tận sanh,
Bậc đại từ lân mẫn,
Rõ biết chính con đường.
Chính với con đường này,
Trước đã vượt được qua,
Tương lai sẽ vượt qua,
Và hiện vượt bộc lưu.
44. IV. Niệm (S.v,186)
1) Tại Sàvatthi...
2) -- Này các Tỷ-kheo, hãy trú chánh niệm. Ðây là lời giáo
giới của Ta cho các Thầy.
3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân...
trú, quán thọ trên các cảm thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú,
quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp
phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh
niệm.
4) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy trú chánh niệm. Ðây là lời
giáo giới của Ta cho các Thầy.
45. V. Ðống Thiện (Tạp 24. 8, Ðại 2,171b)
(S.v,186)
1)...
2) -- Nói đến "Ðống thiện", này các Tỷ-kheo, nói một cách
chơn chánh phải nói là bốn niệm xứ.
Toàn bộ đống thiện này, này các Tỷ-kheo, tức là bốn niệm xứ.
Thế nào là bốn?
3) Ở đây, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân... trú, quán thọ
trên các cảm thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán pháp
trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham
ưu ở đời.
4) Nói đến "Ðống thiện", này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn
chánh phải nói là bốn niệm xứ này. Toàn bộ đống thiện này, này
các Tỷ-kheo, chính là bốn niệm xứ.
46. VI. Pàtimokkha (S.v,187)
1)...
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến... Ngồi một
bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
3) -- Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn
tắt cho con. Sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, con sẽ sống một mình,
an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
-- Vậy này Tỷ-kheo, hãy làm cho thanh tịnh căn bản trong các
thiện pháp. Thế nào là căn bản trong các thiện pháp?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì với sự hộ trì của
Giới bổn (Pàtimokkha), đầy đủ uy nghi chánh hạnh
(àcàragocarasampanno), thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ
nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới. Này Tỷ-kheo, sau khi
sống, hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh
hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và
thực hành các học giới rồi, này Tỷ-kheo, y cứ trên giới, an trú
trên giới, hãy tu tập bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
5) Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy trú, quán thân trên
thân... Hãy trú, quán thọ trên các cảm thọ... Hãy trú, quán tâm
trên tâm... Hãy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh
giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
6) Khi nào, này Tỷ-kheo, Ông y cứ trên giới, an trú trên
giới, tu tập bốn niệm xứ; khi ấy, này Tỷ-kheo, hoặc là đêm hay
ngày, hãy chờ đợi ở nơi Ông sự tăng trưởng trong các thiện pháp,
không phải sự tổn giảm.
7) Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết...
8) Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình...
9) Rồi Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.
47. VII. Ác Hành (Tạp 24,11, Ðại 2,172a)
(S.v,188)
1)...
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...
3) -- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn
tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một
mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
-- Vậy, này Tỷ-kheo, Ông hãy làm cho thanh tịnh những căn
bản trong các thiện pháp. Và thế nào là căn bản trong các thiện
pháp?
4) Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi đoạn tận thân ác
hành, hãy tu tập thân thiện hành. Sau khi đoạn tận khẩu ác hành,
hãy tu tập khẩu thiện hành. Sau khi đoạn tận ý ác hành, hãy tu
tập ý thiện hành. Rồi này Tỷ-kheo, y cứ vào giới, an trú vào
giới, Ông hãy tu tập bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
5) Ở đây, này Tỷ-kheo, Ông hãy trú, quán thân trên thân...
Ông hãy trú, quán thọ trên các cảm thọ... Ông hãy trú, quán tâm
trên tâm... Ông hãy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
6) Này Tỷ-kheo, sau khi y cứ trên giới, an trú trên giới,
Ông tu tập bốn niệm xứ này như vậy; thời này Tỷ-kheo, hoặc là
đêm hay ngày, hãy chờ đợi ở nơi Ông sự tăng trưởng trong các
thiện pháp, không phải sự tổn giảm.
7-8). .. (như trên)...
9) Rồi Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.
48. VIII. Thân Hữu (S.v,189)
1) Tại Sàvatthi...
2) -- Này các Tỷ-kheo, những ai mà các Thầy có lòng lân mẫn,
những ai mà các Thầy nghĩ rằng cần phải nghe theo, các bạn bè,
hay thân hữu hay bà con, hay huyết thống; này các Tỷ-kheo, các
Thầy cần phải khích lệ các người ấy, hướng dẫn, an trú các người
ấy trong sự tu tập bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên
thân... quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán
pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục
tham ưu ở đời.
4) Này các Tỷ-kheo, những ai mà các Thầy có lòng lân mẫn,
những ai mà các Thầy nghĩ rằng cần phải nghe theo, các bạn bè,
hay thân hữu, hay bà con, huyết thống; này các Tỷ-kheo, các Thầy
cần phải khích lệ các người ấy, hướng dẫn, an trú các người ấy
trong sự tu tập bốn niệm xứ.
49. IX. Các Cảm Thọ (S.v,189)
1) Tại Sàvatthi...
2) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc
thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, đây là ba
thọ.
3) Vì muốn liễu tri ba thọ này, này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ
cần phải tu tập. Thế nào là bốn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên
thân... trú, quán thọ trên các cảm thọ... trú, quán tâm trên
tâm... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
5) Chính để liễu tri ba cảm thọ này, này các Tỷ-kheo, bốn
niệm xứ này cần phải tu tập.
50. X. Các Lậu Hoặc (S.v,189)
1)...
2) -- Có ba lậu hoặc, này các Tỷ-kheo. Thế nào là ba? Dục
lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Này các Tỷ-kheo, đây ba là lậu hoặc.
3) Chính để đoạn tận ba lậu hoặc này, này các Tỷ-kheo, bốn
niệm xứ này cần phải tu tập. Thế nào là bốn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên
thân... quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán
pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục
tham ưu ở đời.
5) Chính để đoạn tận ba lậu hoặc này, này các Tỷ-kheo, bốn
niệm xứ này cần phải được tu tập.
VI. Phẩm Sông Hằng Rộng Thuyết
(Ðoạn này và bốn mục kế tiếp, cho đến cuối Tương Ưng này,
đều được tóm tắt trong nguyên bản, chỉ có tên kinh mà thôi, trừ
51-62, I-XII)
51-62. I-XII. (S.v,190)
1)...
2) -- Ví như sông Hằng, này các Tỷ-kheo, thiên về phương
Ðông, hướng về phương Ðông... Cũng vậy, Tỷ-kheo tu tập bốn niệm
xứ... xuôi về Niết-bàn.
3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo... Niết-bàn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên
thân... trú, quán thọ trên các cảm thọ... trú, quán tâm trên
tâm... trú, quán pháp trên các pháp... Như vậy, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo... xuôi về Niết-bàn.
(Tóm tắt các đề kinh)
(Sáu hướng về Ðông và sáu hướng về biển. Hai lần sáu thành
mười hai, và mục này được gọi là như vậy. Các kinh được thuyết
rộng về bốn niệm xứ, như các kinh trước).
VII. Phẩm Không Phóng Dật
63-72. I-X. (S.v,191)
Gồm các kinh:
Như Lai, Dấu Chân, Nóc Nhọn, Rễ Cây. Lõi Cây, Hoa Mưa Sanh,
Vua, Mặt Trăng, Mặt Trời, Vải, tất cả là mười kinh.
(Các kinh này được thuyết rộng theo bốn niệm xứ).
VIII. Phẩm Việc Làm Cần Sức Mạnh
73-82. I-X. (S.v,191)
Gồm các kinh:
Quả, Chủng Tử, Rồng, Cây, Ghè, Râu Mì, Hư Không, Khách,
Sông.
IX. Phẩm Tầm Cầu
83-93. I-XI. (S.v,192)
Gồm các kinh:
Tầm Cầu, Kiêu Mạn, Lậu Hoặc, Khổ Tánh, Ba Chướng Ngại
(khila), Cấu Uế, Khổ và Thọ, Ái và Khát, thành phẩm Tầm Cầu.
X. Phẩm Bộc Lưu
93-102. (I-IX) (S.v,191)
103. X. Thượng Phần
Kiết Sử (S.v,191)
1)...
2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử này. Thế
nào là năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Này
các Tỷ-kheo, những pháp này là năm thượng phần kiết sử.
3) Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn
diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bốn niệm xứ cần phải
tu tập. Thế nào là bốn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời...
trú, quán thọ trên các cảm thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú,
quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp
phục tham ưu ở đời.
5) Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn
diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bốn niệm xứ này phải
tu tập.
(Các đề kinh: Bộc Lưu, Ách, Chấp Thủ, Hệ Phược, Tùy Miên,
Dục Công Ðức, Triền Cái, Uẩn, Thượng, Hạ Phần Kiết Sử).