BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 11  tháng 02, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 47. Tương Ưng Niệm Xứ -Phẩm Chưa Từng Nghe & Phẩm Bất Tử- SN 48.1 đến 48. 10 . -
Bài 610. MỘT SỐ BÀI KINH VỀ NGŨ CĂN


http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-611.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Giữa cõi đời đầy xao động, người tu tập không đứng vững nhờ một ý tưởng cao xa nào, mà nhờ năm năng lực âm thầm nâng đỡ tâm mình. Năm pháp ấy gọi là ngũ căn: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Không phải là năm điều để trang trí cho đời sống tâm linh, mà là năm cột trụ giữ cho lâu đài nội tâm không sụp đổ trước gió vô minh. Tín là nền móng. Không có tín, tâm người hoài nghi như đất cát rời rạc, xây bao nhiêu cũng lún. Nhưng tín chân chánh không phải nhắm mắt tin theo; đó là niềm tin có ánh sáng của suy xét, là lòng hướng về giác ngộ như cây hướng về mặt trời. Tín giúp ta dám bước đi, dù con đường chưa thấy hết.Tấn là sức đẩy. Nếu tín là biết hướng đi, thì tấn là đôi chân không mỏi. Tấn không phải là gồng mình căng thẳng, mà là sự kiên trì lặng lẽ: mỗi ngày bớt một thói quen xấu, mỗi ngày thêm một việc lành. Trong những lúc tâm chùng xuống, tấn nâng ta dậy.Niệm là người giữ cửa. Không có niệm, tâm lang thang giữa quá khứ và tương lai, quên mất mình đang sống. Niệm kéo ta trở về với hơi thở, với bước chân, với cảm thọ đang sinh và diệt. Nhờ niệm, ta không bị cuốn trôi hoàn toàn bởi tham hay sân; ta biết mình đang giận, đang buồn, đang vui – và chính sự biết ấy đã mở ra tự do. Định là sự vững vàng. Khi tâm được gom lại, như mặt hồ lặng gió, mọi hình bóng đều hiện rõ. Định không phải để trốn đời, mà để tâm có đủ chiều sâu nhìn thẳng vào đời mà không vỡ vụn.Và cuối cùng, tuệ là ánh sáng. Không có tuệ, mọi nỗ lực chỉ quanh quẩn trong vòng lặp cũ. Tuệ thấy rõ mọi pháp đều sinh rồi diệt, không có gì thật là “ta” hay “của ta”. Khi tuệ chín muồi, gánh nặng được đặt xuống, và con đường trở thành nhẹ. Năm căn ấy không tách rời nhau. Tín cần tuệ để khỏi mù quáng. Tấn cần định để khỏi kiệt lực. Niệm đứng giữa, điều hòa và giữ nhịp. Khi chúng được nuôi dưỡng và quân bình, tâm người trở thành một cấu trúc bền chắc: có nền, có khung, có trụ, có mái. Và trong lâu đài ấy, không phải sự kiêu hãnh cư trú, mà là sự bình an. Ngũ căn không phải đích đến; chúng là con đường. Nhưng nhờ chúng, con đường trở nên rõ ràng, và bước chân không còn lạc lối.

Kinh Văn

KINH GIẢN LƯỢC

Tại Xá-vệ. Ở đó, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu như sau:

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Đây gọi là năm căn.”

KINH BẬc NhẬp Lưu i

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.

“Khi, này các Tỳ khưu, một vị Thánh đệ tử hiểu biết xác thực vị ngọt, sự nguy hiểm, phương cách thoát ly trong trường hợp của năm căn này, thì vị ấy được gọi là vị Thánh đệ tử là bậc nhập lưu, không còn bị trói buộc vào ác thú, quyết định nơi chốn đến, với giác ngộ là cứu cánh.”

KINH BẬc NhẬp Lưu ii

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Tín căn … tuệ căn.

“Khi, này các Tỳ khưu, một vị Thánh đệ tử hiểu biết xác thực sự sanh khởi, sự hoại diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, phương cách thoát ly  của năm căn này, thì vị ấy được gọi là vị Thánh đệ tử là bậc nhập lưu, không còn bị trói buộc vào ác thú, quyết định nơi chốn đến, với giác ngộ là cứu cánh.”

Kinh BẬc A la hán I

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Tín căn … tuệ căn.

“Khi, này các Tỳ khưu, sau khi hiểu biết xác thực vị ngọt, sự nguy hiểm, phương cách thoát ly trong trường hợp của năm căn này, một Tỳ khưu được giải thoát do không chấp thủ, thì vị ấy được gọi là Tỳ khưu là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã diệt, đã sống phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt mục đích riêng mình, đã hoàn toàn đoạn tận các kiết sử hữu, là người hoàn toàn giải thoát nhờ thắng trí.”

Kinh BẬc A la hán II

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Tín căn … tuệ căn.

“Khi, này các Tỳ khưu, sau khi hiểu biết xác thực sự sanh khởi, sự hoại diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, phương cách thoát ly năm căn này, một Tỳ khưu được giải thoát do không chấp thủ, thì vị ấy được gọi là Tỳ khưu là bậc A-la-hán … là người hoàn toàn giải thoát nhờ thắng trí.”

Kinh Sa Môn Và Bà-la-môn I

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Tín căn … tuệ căn.

“Những sa môn hay Bà-la-môn, này các Tỳ khưu, không hiểu biết xác thực vị ngọt, sự nguy hiểm, phương cách thoát ly trong trường hợp của năm căn này — những vị ấy Ta không xem là sa môn trong các sa môn, hay Bà-la-môn trong các Bà-la-môn, và những bậc tôn giả ấy, do tự mình chứng ngộ với thắng trí, trong chính đời này, không chứng đạt và an trú trong mục tiêu của sa-môn hạnh hay mục tiêu của Bà-la-môn hạnh.

“Nhưng, này các Tỳ khưu, những sa môn và Bà-la-môn nào hiểu biết xác thực điều này — những vị ấy Ta xem là sa môn trong các sa môn, Bà-la-môn trong các Bà-la-môn, và những bậc tôn giả ấy, do tự mình chứng ngộ với thắng trí, trong chính đời này chứng đạt và an trú trong mục tiêu của sa-môn hạnh và mục tiêu của Bà-la-môn hạnh.”

Kinh Sa Môn Và Bà-la-môn II

“Những sa môn hay Bà-la-môn, này các Tỳ khưu, không hiểu biết xác thực sự sanh khởi, sự hoại diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, phương cách thoát ly đối với tín căn,  tấn căn … niệm căn … định căn … tuệ căn, — những vị ấy Ta không xem là sa môn trong các sa môn hay Bà-la-môn trong các Bà-la-môn, và những bậc tôn giả ấy, do tự mình chứng ngộ với thắng trí, trong chính đời này không chứng đạt và an trú trong mục tiêu của sa-môn hạnh hay mục tiêu của Bà-la-môn hạnh.

“Nhưng, này các Tỳ khưu, những sa môn và Bà-la-môn hiểu biết xác thực sự sanh khởi, sự hoại diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, phương cách thoát ly đối với tín căn,  tấn căn … niệm căn … định căn … tuệ căn, — những vị ấy Ta  xem là sa môn trong các sa môn hay Bà-la-môn trong các Bà-la-môn, và những bậc tôn giả ấy, do tự mình chứng ngộ với thắng trí, trong chính đời này chứng đạt và an trú trong mục tiêu của sa-môn hạnh hay mục tiêu của Bà-la-môn hạnh.

Kinh CẦn ĐưƠc ThẤy

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Tín căn … tuệ căn.

“Và này các Tỳ khưu, tín căn cần được thấy ở đâu? Tín căn cần được thấy ngay đây, trong bốn chi phần của bậc nhập lưu.

“Và này các Tỳ khưu, tinh tấn căn cần được thấy ở đâu? Tinh tấn căn cần được thấy ngay đây, trong bốn chánh cần.

“Và này các Tỳ khưu, niệm căn cần được thấy ở đâu? Niệm căn cần được thấy ngay đây, trong bốn niệm xứ.

“Và này các Tỳ khưu, định căn cần được thấy ở đâu? Định căn cần được thấy ngay đây, trong bốn thiền.

“Và này các Tỳ khưu, tuệ căn cần được thấy ở đâu? Tuệ căn cần được thấy ngay đây, trong Bốn Thánh Đế.

“Này các Tỳ khưu, đó là năm căn.”

Kinh Phân Tích I

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Tín căn … tuệ căn.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tín căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử là người có lòng tin, là người đặt lòng tin vào giác ngộ của Như Lai như sau: [197] ‘Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tinh tấn căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử sống với tinh tấn được khởi lên để đoạn trừ các pháp bất thiện và để thành tựu các pháp thiện; vị ấy mạnh mẽ, kiên cố trong nỗ lực, không bỏ phế trách nhiệm tu tập các pháp thiện. Như vậy được gọi là tinh tấn căn.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là niệm căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có chánh niệm, có đại niệm và trí nhớ; là người nhớ nghĩ và hồi tưởng những gì đã làm và đã nói từ lâu. Như vậy được gọi là niệm căn.193

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử chứng được định, chứng được nhất tâm, lấy giải thoát làm đối tượng.194

Đó được gọi là định căn.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tuệ căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử là người có trí; vị ấy có trí hướng đến sự sanh khởi và hoại diệt, là trí thánh, thâm nhập, dẫn đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau.195 Như vậy được gọi là tuệ căn.

“Này các Tỳ khưu, đó là năm căn.”

Kinh Phân Tích II

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Tín căn … tuệ căn.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tín căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử là người có lòng tin, là người đặt lòng tin vào giác ngộ của Như Lai như sau: ‘Thế Tôn là … Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tinh tấn căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử sống với tinh tấn được khởi lên để đoạn trừ các pháp bất thiện và để thành tựu các pháp thiện; vị ấy mạnh mẽ, kiên cố trong nỗ lực, không bỏ phế trách nhiệm tu tập các pháp thiện. Vị ấy khởi dục đối với việc không cho sanh khởi các ác bất thiện pháp chưa sanh; vị ấy nỗ lực, khởi tinh tấn, tác ý tâm và cố gắng. Vị ấy khởi dục đối với việc đoạn trừ các ác bất thiện pháp đã sanh; vị ấy nỗ lực, khởi tinh tấn, tác ý tâm và cố gắng. Vị ấy khởi dục đối với việc làm sanh khởi các thiện pháp chưa sanh; vị ấy nỗ lực, khởi tinh tấn, tác ý tâm và cố gắng. Vị ấy khởi dục đối với việc duy trì các thiện pháp đã sanh, để chúng không thoái giảm, tăng trưởng, mở rộng và viên mãn do tu tập; vị ấy nỗ lực, khởi tinh tấn, tác ý tâm và cố gắng. Như vậy được gọi là tinh tấn căn.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là niệm căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có chánh niệm, có đại niệm và trí nhớ, là người nhớ nghĩ và hồi tưởng những gì đã làm và đã nói từ lâu. Vị ấy sống quán thân trên thân … quán thọ trên các thọ … quán tâm trên tâm … quán pháp trên các pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ tham ưu ở đời. Như vậy được gọi là niệm căn.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử chứng được định, chứng được nhất tâm, lấy giải thoát làm đối tượng. Ly dục, ly các pháp bất thiện, vị ấy chứng và trú thiền thứ nhất, có tầm có tứ, có hỷ lạc do ly dục sanh. Với sự diệt tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, nội tĩnh, nhất tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc do định sanh. Với sự ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm tỉnh giác, cảm thọ lạc với thân; vị ấy chứng và trú thiền thứ ba, mà các bậc Thánh nói rằng: ‘Vị ấy trú xả, chánh niệm, sống lạc.’ Với sự xả lạc và khổ, và với sự diệt trước đó của hỷ và ưu, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, thanh tịnh niệm do xả. Như vậy được gọi là định căn. [199]

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tuệ căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử là người có trí; vị ấy có trí hướng đến sự sanh khởi và hoại diệt, là trí thánh, thâm nhập, dẫn đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau. Vị ấy như thật giác tri: ‘Đây là khổ.’ Vị ấy như thật giác tri: ‘Đây là nguyên nhân của khổ.’ Vị ấy như thật giác tri: ‘Đây là sự diệt khổ.’ Vị ấy như thật giác tri: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ.’ Như vậy được gọi là tuệ căn.

“Này các Tỳ khưu, đó là năm căn.”

Chú thích

Trong khi các saṃyutta khác của Vagga này mỗi phần đều nói về một nhóm khép kín gồm một số pháp cố định, thì Indriyasaṃyutta (Tương Ưng Căn) lại xử lý nhiều nhóm pháp khác nhau được gom chung dưới đề mục tổng quát là indriya (căn). Quan trọng nhất là nhóm gọi là năm căn tu tập, có lẽ tạo thành phần lõi nguyên thủy của saṃyutta này. Khi mối quan tâm đối với việc phân loại được mở rộng, các vị biên tập kinh tạng có lẽ cảm thấy mình cần phải đưa vào trong saṃyutta này các nhóm căn khác, nhờ vậy mà (vô tình) làm cho nó mang một tính chất dị loại (không thuần nhất). Toàn bộ danh sách hai mươi hai căn nằm ở Vibh 122, được chú giải ở Vibh-a 125–128; xem thêm Vism 491–493 (Ppn 16:1–12). Điều đáng chú ý là danh sách này thuộc về phần phân tích Thắng Pháp (Abhidhamma); Indriya-vibhaṅga không đưa ra một bản phân tích theo kiểu Kinh tạng (Suttanta), điều này gợi ý rằng ý niệm về indriya như một phạm trù tổng quát thuộc về A-tỳ-đàm đúng nghĩa hơn là thuộc về các bài kinh.

Chỉ riêng các căn, trong số các “trợ đạo phẩm” khác nhau, mới được trình bày theo “bộ ba sự thỏa thích” (ở đây), “bộ năm nguồn gốc” và “bộ bốn Thánh đế” (ngay bên dưới). Lý do của cách trình bày này có lẽ nằm ở chỗ năm căn được bao gồm trong danh mục rộng hơn là hai mươi hai căn, vốn được dùng như một “bản mục lục của thực tại hiện tượng,” nên bắt buộc phải được giải thích theo những phạm trù rộng hơn vốn được dùng để phân tích các thành tố của thực tại.

Phải hiểu biết chúng theo phương diện Bốn Thánh đế. Tín căn phát sanh từ sự hướng tâm theo cách quyết định (adhimokkha); tinh tấn căn phát sanh từ sự hướng tâm theo cách tinh cần, nỗ lực (paggaha); niệm căn phát sanh từ sự hướng tâm theo cách thiết lập (upaṭṭhāna); định căn phát sanh từ sự hướng tâm theo cách không tán loạn (avikkhepa); tuệ căn phát sanh từ sự hướng tâm theo cách thấy (dassana). Cũng vậy, tất cả các căn đều phát sanh từ sự hướng tâm theo cách dục (chanda; Spk-pṭ: dục thiện muốn hành động, khởi lên theo hình thức muốn phát khởi các căn) và từ sự hướng tâm theo cách tác ý (manasikāra; Spk-pṭ: tác ý cẩn trọng, tạo duyên cho hướng tâm khi nó phát sanh còn yếu ớt qua trung gian các căn).

 “Năm căn” (pañcindriya)trong các bài kinh này là:

  • Tín căn (saddhindriya): lòng tin vững chắc, chủ yếu nhắm đến giác ngộ của Như Lai.
  • Tinh tấn căn (viriyindriya): sức nỗ lực liên tục để bỏ ác, làm thiện.
  • Niệm căn (satindriya): khả năng ghi nhớ, tỉnh thức, không quên mất điều thiện, điều cần tu.
  • Định căn (samādhindriya): sức gom tâm, nhất tâm bền vững, nhiều chỗ được giải thích bằng bốn thiền.
  • Tuệ căn (paññindriya): trí quán sanh-diệt, vô thường, khổ, vô ngã, dẫn tới đoạn tận khổ.

Trong Thắng Pháp (Abhidhamma) còn có danh sách 22 căn (thọ căn, sáu căn mắt tai mũi lưỡi thân ý, căn sống, căn nam nữ, v.v.), nhưng trong các bài kinh này trọng tâm là năm căn tu tập

Các “bậc Thánh quả” đi kèm mức độ mạnh yếu của năm căn

Kinh nhiều lần lập lại mô típ:

  • Hoàn toàn viên mãn năm căn → bậc A-la-hán.
  • Yếu hơn một bậc → bất lai (anāgāmi).
  • Yếu hơn nữa → nhất lai (sakadāgāmi).
  • Yếu hơn nữa → nhập lưu (sotāpanna).
  • Yếu hơn nữa → tùy pháp (dhammanusārin) – nghiêng về trí.
  • Yếu hơn nữa → tùy tín (saddhānusārin) – nghiêng về tín.

Ý chính: năm căn không bao giờ “vô quả”; kích hoạt đến mức nào thì thành tựu tương ứng mức đó – “ai khởi lên chúng viên mãn thì thành tựu viên mãn; ai khởi lên từng phần thì thành tựu từng phần”.

“Vị ngọt, sự nguy hiểm, phương cách thoát ly” (assāda – ādīnava – nissaraṇa)

Ba từ khóa lặp đi lặp lại:

  • Vị ngọt (assāda): mặt hấp dẫn, “mật ngọt” của một pháp (cảm thọ, căn, cảnh…).
  • Nguy hiểm (ādīnava): hậu quả, trói buộc, khổ đau phát sinh từ sự dính mắc vào chỗ thỏa thích ấy.
  • Phương cách xuất ly (nissaraṇa): con đường, lối ra, cách buông bỏ, vượt khỏi sự dính mắc đó.

Khi các bài kinh nói:“Vị Thánh đệ tử hiểu biết xác thực vị ngọt, sự nguy hiểm, phương cách thoát ly trong trường hợp của năm căn/sáu căn/năm thọ căn…” nghĩa là:

  • Thấy rõ cái “ngọt”,
  • Không mù trước cái “đắng” đi theo sau,
  • Và biết rõ lối ra: không chấp thủ, buông bỏ, dùng chánh niệm-trí tuệ để vượt qua.

“Nguồn gốc sinh khởi và hoại diệt” của các căn

Một số đoạn nói: “không hiểu biết tín căn, nguồn gốc của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường đưa đến đoạn diệt của nó…”

Trong chú giải :

  • Tín căn khởi từ một dạng hướng tâm quyết định (adhimokkha) – tâm “quyết chọn”, dứt khoát.
  • Tinh tấn căn khởi từ hướng tâm nỗ lực (paggaha).
  • Niệm căn khởi từ hướng tâm thiết lập (upaṭṭhāna).
  • Định căn khởi từ hướng tâm không tán loạn (avikkhepa).
  • Tuệ căn khởi từ hướng tâm thấy rõ (dassana).

Tất cả lại đều nương trên dục thiện (chanda) và tác ý (manasikāra).
Nói cách dễ hiểu biết: bắt đầu từ sự quan tâm thiện lành + chú ý đúng, rồi mới phát triển thành năm căn.

“Giải thoát do không chấp thủ” (anupādā vimutti)

Trong các đoạn nói về bậc A-la-hán:

“…sau khi như thật giác tri… một Tỳ khưu được giải thoát do không chấp thủ…”

  • Không chấp thủ (anupādāna) không phải là thụ động buông xuôi, mà là không còn nắm giữ năm uẩn với tà kiến “cái này là tôi, của tôi, tự ngã của tôi”.
  • Giải thoát ở đây là kết quả của trí tuệ: thấy rõ vô thường–khổ–vô ngã đến mức không còn gì để bám.

Tiền phần (pubbabhāga) và siêu thế. Chú giải nói:

  • Tín, niệm, tuệ căn trong bài kinh là tiền phần (pubbabhāga): phần đi trước, chuẩn bị cho Đạo siêu thế.
  • Tinh tấn căn là hỗn hợp: vừa có mặt trong giai đoạn chuẩn bị, vừa trong Đạo siêu thế.
  • Định căn là thuần siêu thế trong bối cảnh sutta này – tức là nói tới định của Thánh đạo, chứ không chỉ là định của phàm phu.

Dùng để nhấn mạnh: cùng là “căn”, nhưng tùy ngữ cảnh, có khi là căn đang chuẩn bị (tiền phương tiện), có khi là căn siêu thế (thuộc đạo–quả).

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[48] Chương IV

Tương Ưng Căn (a)

-ooOoo-

I. Phẩm Thanh Tịnh

1. I. Thanh Tịnh (Tạp 26,3, Ðại 2,182c) (S.v,193)

1-2) Tại Sàvatthi... Thế Tôn thuyết:

3) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Này các Tỷ-kheo, những pháp này là năm căn.

2. II. Dự Lưu (1) (Tạp 26,3, Ðại 2,182b) (S.v,193)

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.

4) Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của năm căn này; khi ấy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ấy được gọi là vị Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

3. III. Dự Lưu (2) (S.v,193)

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn.

4) Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này; khi ấy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ấy được gọi là vị Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

4. IV. A-La-Hán (1) (Tạp 26,4, Ðại 2,182b) (S.v,194)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn.

3) Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, sau khi như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này, được giải thoát không có chấp thủ; khi ấy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ấy được gọi là vị A-la-hán, lậu hoặc đã được đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã được đoạn tận, chánh trí, giải thoát.