BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 12  tháng 02, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 47. Tương Ưng Niệm Xứ -Phẩm Chưa Từng Nghe & Phẩm Bất Tử- SN 48.8 đến SN 48.10 -
Bài 611. MỘT SỐ BÀI KINH VỀ NGŨ CĂN, Phần II-

.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-611.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Giữa cõi đời đầy xao động, người tu tập không đứng vững nhờ một ý tưởng cao xa nào, mà nhờ năm năng lực âm thầm nâng đỡ tâm mình. Năm pháp ấy gọi là ngũ căn: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Không phải là năm điều để trang trí cho đời sống tâm linh, mà là năm cột trụ giữ cho lâu đài nội tâm không sụp đổ trước gió vô minh. Tín là nền móng. Không có tín, tâm người hoài nghi như đất cát rời rạc, xây bao nhiêu cũng lún. Nhưng tín chân chánh không phải nhắm mắt tin theo; đó là niềm tin có ánh sáng của suy xét, là lòng hướng về giác ngộ như cây hướng về mặt trời. Tín giúp ta dám bước đi, dù con đường chưa thấy hết.Tấn là sức đẩy. Nếu tín là biết hướng đi, thì tấn là đôi chân không mỏi. Tấn không phải là gồng mình căng thẳng, mà là sự kiên trì lặng lẽ: mỗi ngày bớt một thói quen xấu, mỗi ngày thêm một việc lành. Trong những lúc tâm chùng xuống, tấn nâng ta dậy.Niệm là người giữ cửa. Không có niệm, tâm lang thang giữa quá khứ và tương lai, quên mất mình đang sống. Niệm kéo ta trở về với hơi thở, với bước chân, với cảm thọ đang sinh và diệt. Nhờ niệm, ta không bị cuốn trôi hoàn toàn bởi tham hay sân; ta biết mình đang giận, đang buồn, đang vui – và chính sự biết ấy đã mở ra tự do. Định là sự vững vàng. Khi tâm được gom lại, như mặt hồ lặng gió, mọi hình bóng đều hiện rõ. Định không phải để trốn đời, mà để tâm có đủ chiều sâu nhìn thẳng vào đời mà không vỡ vụn.Và cuối cùng, tuệ là ánh sáng. Không có tuệ, mọi nỗ lực chỉ quanh quẩn trong vòng lặp cũ. Tuệ thấy rõ mọi pháp đều sinh rồi diệt, không có gì thật là “ta” hay “của ta”. Khi tuệ chín muồi, gánh nặng được đặt xuống, và con đường trở thành nhẹ. Năm căn ấy không tách rời nhau. Tín cần tuệ để khỏi mù quáng. Tấn cần định để khỏi kiệt lực. Niệm đứng giữa, điều hòa và giữ nhịp. Khi chúng được nuôi dưỡng và quân bình, tâm người trở thành một cấu trúc bền chắc: có nền, có khung, có trụ, có mái. Và trong lâu đài ấy, không phải sự kiêu hãnh cư trú, mà là sự bình an. Ngũ căn không phải đích đến; chúng là con đường. Nhưng nhờ chúng, con đường trở nên rõ ràng, và bước chân không còn lạc lối.

Kinh Văn

KINH CẦN ĐƯỢC THẤY

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Tín căn … tuệ căn.

“Và này các Tỳ khưu, tín căn cần được thấy ở đâu? Tín căn cần được thấy ngay đây, trong bốn chi phần của bậc nhập lưu.

“Và này các Tỳ khưu, tinh tấn căn cần được thấy ở đâu? Tinh tấn căn cần được thấy ngay đây, trong bốn chánh cần.

“Và này các Tỳ khưu, niệm căn cần được thấy ở đâu? Niệm căn cần được thấy ngay đây, trong bốn niệm xứ.

“Và này các Tỳ khưu, định căn cần được thấy ở đâu? Định căn cần được thấy ngay đây, trong bốn thiền.

“Và này các Tỳ khưu, tuệ căn cần được thấy ở đâu? Tuệ căn cần được thấy ngay đây, trong Bốn Thánh Đế.

“Này các Tỳ khưu, đó là năm căn.”

Kinh Phân Tích I

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Tín căn … tuệ căn.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tín căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử là người có lòng tin, là người đặt lòng tin vào giác ngộ của Như Lai như sau: [197] ‘Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tinh tấn căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử sống với tinh tấn được khởi lên để đoạn trừ các pháp bất thiện và để thành tựu các pháp thiện; vị ấy mạnh mẽ, kiên cố trong nỗ lực, không bỏ phế trách nhiệm tu tập các pháp thiện. Như vậy được gọi là tinh tấn căn.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là niệm căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có chánh niệm, có đại niệm và trí nhớ; là người nhớ nghĩ và hồi tưởng những gì đã làm và đã nói từ lâu. Như vậy được gọi là niệm căn.193

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử chứng được định, chứng được nhất tâm, lấy giải thoát làm đối tượng.194

Đó được gọi là định căn.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tuệ căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử là người có trí; vị ấy có trí hướng đến sự sanh khởi và hoại diệt, là trí thánh, thâm nhập, dẫn đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau.195 Như vậy được gọi là tuệ căn.

“Này các Tỳ khưu, đó là năm căn.”

Kinh Phân Tích II

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Tín căn … tuệ căn.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tín căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử là người có lòng tin, là người đặt lòng tin vào giác ngộ của Như Lai như sau: ‘Thế Tôn là … Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tinh tấn căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử sống với tinh tấn được khởi lên để đoạn trừ các pháp bất thiện và để thành tựu các pháp thiện; vị ấy mạnh mẽ, kiên cố trong nỗ lực, không bỏ phế trách nhiệm tu tập các pháp thiện. Vị ấy khởi dục đối với việc không cho sanh khởi các ác bất thiện pháp chưa sanh; vị ấy nỗ lực, khởi tinh tấn, tác ý tâm và cố gắng. Vị ấy khởi dục đối với việc đoạn trừ các ác bất thiện pháp đã sanh; vị ấy nỗ lực, khởi tinh tấn, tác ý tâm và cố gắng. Vị ấy khởi dục đối với việc làm sanh khởi các thiện pháp chưa sanh; vị ấy nỗ lực, khởi tinh tấn, tác ý tâm và cố gắng. Vị ấy khởi dục đối với việc duy trì các thiện pháp đã sanh, để chúng không thoái giảm, tăng trưởng, mở rộng và viên mãn do tu tập; vị ấy nỗ lực, khởi tinh tấn, tác ý tâm và cố gắng. Như vậy được gọi là tinh tấn căn.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là niệm căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có chánh niệm, có đại niệm và trí nhớ, là người nhớ nghĩ và hồi tưởng những gì đã làm và đã nói từ lâu. Vị ấy sống quán thân trên thân … quán thọ trên các thọ … quán tâm trên tâm … quán pháp trên các pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ tham ưu ở đời. Như vậy được gọi là niệm căn.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử chứng được định, chứng được nhất tâm, lấy giải thoát làm đối tượng. Ly dục, ly các pháp bất thiện, vị ấy chứng và trú thiền thứ nhất, có tầm có tứ, có hỷ lạc do ly dục sanh. Với sự diệt tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, nội tĩnh, nhất tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc do định sanh. Với sự ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm tỉnh giác, cảm thọ lạc với thân; vị ấy chứng và trú thiền thứ ba, mà các bậc Thánh nói rằng: ‘Vị ấy trú xả, chánh niệm, sống lạc.’ Với sự xả lạc và khổ, và với sự diệt trước đó của hỷ và ưu, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, thanh tịnh niệm do xả. Như vậy được gọi là định căn. [199]

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tuệ căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử là người có trí; vị ấy có trí hướng đến sự sanh khởi và hoại diệt, là trí thánh, thâm nhập, dẫn đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau. Vị ấy như thật giác tri: ‘Đây là khổ.’ Vị ấy như thật giác tri: ‘Đây là nguyên nhân của khổ.’ Vị ấy như thật giác tri: ‘Đây là sự diệt khổ.’ Vị ấy như thật giác tri: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ.’ Như vậy được gọi là tuệ căn.

“Này các Tỳ khưu, đó là năm căn.”

Chú thích

Trên phương diện bản thể, trong Thắng Pháp Abhidhamma, tín (saddhā), tấn (viriya), niệm (sati), định (ekaggatā), tuệ (paññā) không phải là thực thể độc lập, mà là thuộc tánh (cetasika) — những yếu tố tâm lý sinh khởi cùng với tâm (citta), đồng sanh, đồng diệt, cùng chung đối tượng.

Năm cetasika (thuộc tánh) tín, tấn, niệm, định, tuệ trong Abhidhamma (Thắng pháp) chính là năm thuộc tánh quan trọng nhất thuộc nhóm các căn (indriya) và các lực (bala), được gọi là Ngũ căn (Pañca indriya) hoặc Ngũ lực (Pañca bala). Đây là năm thuộc tánh tịnh hảo (sobhana cetasika) đóng vai trò then chốt trong sự phát triển con đường tu tập, dẫn đến giác ngộ.

1. Tín (Saddhā)n Tín là niềm tin trong sạch, lòng tin vững chắc. Thuộc tánh này giống như hạt giống đầu tiên: không có tín thì không khởi đầu tốt đẹp. Nó giúp loại bỏ hoài nghi, tạo động lực tinh tấn. Trong Abhidhamma, saddhā là một trong 25 cetasika thiện, luôn hiện diện trong các tâm tịnh hảo (tức những tâm không thuộc bất thiện hay vô nhân.

2. Tấn (Viriya) là năng lượng, sự nỗ lực, tinh tấn không ngừng nghỉ. Nó là sức mạnh thúc đẩy vượt qua lười biếng, chán nản. Tấn giúp duy trì sự cố gắng liên tục, đặc biệt khi đối diện với chướng ngại. Trong Abhidhamma, viriya cũng là một trong những thuộc tánh tợ tha biệt cảnh.

3. Niệm (Sati) là sự ghi nhớ, tỉnh giác, chú tâm đúng chỗ vào đối tượng hiện tại. Trong Abhidhamma, sati là cetasika thiện, có chức năng như người điều phối, giữ sự cân bằng cho các căn khác.

4. Định (Ekaggatā) là sự tập trung một điểm, tâm an trú vững vàng vào một đối tượng mà không tán loạn.  Trong Abhidhamma, ekaggatā cetasika là thuộc tánh có mặt trong mọi tâm, nhưng ở mức độ cao thì trở thành định mạnh mẽ, dẫn đến các tầng thiền (jhāna).

5. Tuệ (Paññā)  trí tuệ, sự hiểu biết xác thực. Trong Abhidhamma, paññā cetasika đồng nghĩa với amoha (vô si).

Năm cần đề cập trong ba bài kinh hôm nay là sự pháp triển những pháp trên trong định hướng tu tập. Do vậy cần được hiểu như sau:

1. Tín căn (Saddhindriya) Theo  KINH CẦN ĐƯỢC THẤY) Ngay trong bốn chi phần của bậc nhập lưu (cattāro sotāpattiyaṅgāni):

  • Tin tưởng tuyệt đối vào Phật (tin vào sự giác ngộ của Như Lai).
  • Tin tưởng vào Pháp.
  • Tin tưởng vào Tăng.
  • Giữ giới thanh tịnh.

Định nghĩa chi tiết (theo KINH PHÂN TÍCH): Vị Thánh đệ tử có lòng tin vững chắc, đặt niềm tin vào sự giác ngộ của Như Lai với mười đức hiệu: “Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.”

Như vậy Tín căn là nền tảng đầu tiên, loại bỏ hoài nghi, tạo động lực cho việc tu tập. Không có tín thì các căn khác khó phát triển.

2. Tấn căn (Viriyindriya) theo KINH CẦN ĐƯỢC THẤY) trong bốn chánh cần (cattāro sammappadhānā):

  • Nỗ lực ngăn ngừa ác pháp chưa sinh.
  • Nỗ lực đoạn trừ ác pháp đã sinh.
  • Nỗ lực làm sinh khởi thiện pháp chưa sinh.
  • Nỗ lực duy trì, tăng trưởng, viên mãn thiện pháp đã sinh.

Định nghĩa chi tiết (theo KINH PHÂN TÍCH mở rộng): Vị Thánh đệ tử sống với tinh tấn được khởi lên để đoạn trừ bất thiện và thành tựu thiện pháp; mạnh mẽ, kiên cố, không bỏ bê trách nhiệm tu tập. Cụ thể: khởi dục, nỗ lực, tinh tấn, tác ý tâm, cố gắng trong bốn hướng của bốn chánh cần.

Như vậy Tấn căn là năng lượng thúc đẩy, vượt qua lười biếng, chán nản, duy trì sự kiên trì liên tục trên con đường tu tập.

3. Niệm căn (Satindriya)

Nơi cần được thấy (theo KINH CẦN ĐƯỢC THẤY) là ngay trong bốn niệm xứ (cattāro satipaṭṭhānā):

  • Quán thân trên thân.
  • Quán thọ trên các thọ.
  • Quán tâm trên tâm.
  • Quán pháp trên các pháp (tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, trừ tham ưu ở đời).

Định nghĩa chi tiết (theo KINH PHÂN TÍCH mở rộng): Vị Thánh đệ tử có chánh niệm, đại niệm, trí nhớ; nhớ nghĩ và hồi tưởng những gì đã làm, đã nói từ lâu. Sống quán thân… thọ… tâm… pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ tham ưu.

Như vậy niệm căn giữ tâm không phóng dật, luôn tỉnh giác ngay trong hiện tại, là khả năng sống với thực tại trong hiện tại.

4. Định căn (Samādhindriya)

Nơi cần được thấy (theo KINH CẦN ĐƯỢC THẤY) là ngay trong bốn thiền (cattāro jhānā):

  • Thiền thứ nhất: ly dục, ly bất thiện, có tầm, có tứ, hỷ lạc do ly dục sinh.
  • Thiền thứ hai: diệt tầm tứ, nội tĩnh, nhất tâm, hỷ lạc do định sinh.
  • Thiền thứ ba: ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, lạc thọ với thân.
  • Thiền thứ tư: xả lạc khổ, diệt hỷ ưu trước đó, không khổ không lạc, thanh tịnh niệm do xả.

Định nghĩa chi tiết (theo KINH PHÂN TÍCH): Vị Thánh đệ tử chứng được định, chứng được nhất tâm, lấy giải thoát làm đối tượng. Kinh mô tả đầy đủ bốn tầng thiền sắc giới.

Ý nghĩa: Định căn làm tâm an trú vững vàng, không tán loạn, là nền tảng cho tuệ giác phát sinh.

5. Tuệ căn (Paññindriya – Faculty of Wisdom/Discernment)

Nơi cần được thấy (theo KINH CẦN ĐƯỢC THẤY) là ngay trong Bốn Thánh Đế (cattāri ariyasaccāni):

  • Đây là khổ (dukkha).
  • Đây là nguyên nhân khổ (samudaya).
  • Đây là sự diệt khổ (nirodha).
  • Đây là con đường đưa đến diệt khổ (magga).

Định nghĩa chi tiết (theo KINH PHÂN TÍCH mở rộng): Vị Thánh đệ tử có trí tuệ, có trí hướng đến sự sanh khởi và hoại diệt; trí thánh, thâm nhập, dẫn đến đoạn tận hoàn toàn khổ đau. Như thật giác tri bốn Thánh Đế.

Như vậy tuệ căn là trí tuệ thấy rõ thực tại như nó là (vô thường, khổ, vô ngã), phá tan vô minh, dẫn đến giải thoát.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

IV. Phẩm Chưa Từng Ðược Nghe

8. VIII. Cần Phải Quán (Tạp 26,5, Ðại 2,182b) (S.v,196)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn...

3) Và này các Tỷ-kheo, cần phải quán tín căn ở chỗ nào? Ở đây, cần phải quán tín căn trong bốn chánh tín (Phật, Pháp, Tăng, và Giới).

4) Và này các Tỷ-kheo, cần phải quán tấn căn ở chỗ nào? Ở đây, cần phải quán tấn căn trong bốn chánh cần.

5) Và này các Tỷ-kheo, cần phải quán niệm căn ở chỗ nào? Ở đây, cần phải quán niệm căn trong bốn niệm xứ.

6) Và này các Tỷ-kheo, cần phải quán định căn ở chỗ nào? Ở đây, cần phải quán định căn trong bốn Thiền.

7) Và này các Tỷ-kheo, cần phải quán tuệ căn ở chỗ nào? Ở đây, cần phải quán tuệ căn trong bốn Thánh đế.

8) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

9. IX. Phân Biệt (Tạp 26,6, Ðại 2,182b (S.v,182b) (S.v,196)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, đặt lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: "Ðây là Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tín căn.

4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tấn căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần, tinh tấn đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, với nỗ lực kiên trì, tinh tấn, không có từ bỏ gánh nặng các thiện pháp (anikkhittadhuro). Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tấn căn.

5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử chánh niệm, thành tựu niệm tuệ, tối thắng (satinepakkena), ức niệm, tùy niệm các việc làm từ lâu, các lời nói từ lâu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm căn.

6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được định, được nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là định căn.

7) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt các pháp, trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ căn.

10. X. Phân Tích (Tạp 26,14, Ðại 2,183b) (S.v,197)

1) Tại Savatthi, ... Thế Tôn thuyết

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, đặt lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: "Ðây là Bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn". Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là tín căn.

4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tấn căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, với nỗ lực kiên trì, tinh tấn, không có từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Vị ấy đối với các pháp bất thiện chưa sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng làm cho không sanh khởi; đối với các pháp bất thiện đã sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng làm cho đoạn tận; đối với các thiện pháp chưa sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng làm cho sanh khởi; đối với các thiện pháp đã sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng làm cho an trú, không có mê ám, được tăng trưởng, quảng đại, được tu tập, được làm cho viên mãn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tấn căn.

5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử chánh niệm, thành tựu niệm tuệ, tối thắng, ức niệm, tùy niệm các việc làm từ lâu, và lời nói từ lâu. Vị ấy trú, quán thân trên thân... quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm căn.

6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử, sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được định, được nhứt tâm. Vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ... an trú Thiền thứ hai... an trú Thiền thứ ba... từ bỏ lạc, từ bỏ khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là định căn.

7) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, đầy đủ trí tuệ về sự sanh diệt các pháp, trí tuệ thuộc bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Vị ấy như thật rõ biết đây là khổ, như thật rõ biết đây là khổ tập khởi, như thật rõ biết đây là khổ đoạn diệt, như thật rõ biết đây là con đường đưa đến khổ đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ căn.

8) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.