BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 14  tháng 02, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 47. Tương Ưng Niệm Xứ -Phẩm Yếu Hơn Thế- SN 48.11 đến SN 48.20 -
Bài 612. MỘT SỐ BÀI KINH VỀ NGŨ CĂN VÀ SỰ CHỨNG NGỘ-

.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-612.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Sự sai khác giữa các bậc Thánh không nằm ở con đường, mà nằm ở sức mạnh nội tâm của người bước đi. Tín, tấn, niệm, định, tuệ không phải là những khái niệm trừu tượng, mà là năm dòng năng lực vận hành âm thầm trong tâm thức, nâng đỡ toàn bộ tiến trình giác ngộ. Khi tín hướng tâm về lý tưởng giải thoát, tấn bảo hộ và nuôi lớn thiện pháp, niệm giữ tâm không rơi vào quên lãng, định gom tụ và an trú, tuệ soi chiếu sanh diệt — thì cấu trúc nội tâm dần trở nên vững chãi. Nếu năm căn ấy được viên mãn, hành giả thành tựu A-la-hán; nếu yếu hơn thế nữa, quả vị thấp dần theo mức độ thuần thục của chính những năng lực ấy.  Vì thế Đức Phật dạy: do sai khác nơi căn mà sai khác nơi quả; do sai khác nơi quả mà sai khác nơi người. Ngũ căn không vô hiệu, không bất động, mà có thể tăng trưởng, cân bằng, và chuyển hóa thành ngũ lực khi không còn bị phiền não làm dao động. Con đường vẫn là một; nhưng chiều sâu của hành trình tùy thuộc vào mức độ phát huy năm năng lực này.

Kinh Văn

Kinh Sự Thành Tựu

1 “Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Tín căn … tuệ căn.

2 “Và này các Tỳ khưu, thế nào là tín căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử là người có lòng tin, đặt niềm tin vào sự giác ngộ của Như Lai như sau: ‘Thế Tôn là … bậc Đạo Sư của chư thiên và loài người, bậc Giác Ngộ, bậc Thế Tôn.’ Đây gọi là tín căn.

3 “Và này các Tỳ khưu, thế nào là tấn căn? Sự tinh tấn được thành tựu trên cơ sở bốn chánh cần. Đây gọi là tinh tấn căn.

4 “Và này các Tỳ khưu, thế nào là niệm căn? Niệm được thành tựu trên cơ sở bốn niệm xứ. Đây gọi là niệm căn.

5 “Và này các Tỳ khưu, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử đạt được định, đạt được nhất tâm, lấy sự giải thoát làm đối tượng. Đây gọi là định căn.

6 “Và này các Tỳ khưu, thế nào là tuệ căn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử là người có trí; vị ấy có trí tuệ hướng đến sự sanh khởi và hoại diệt, là trí tuệ thánh thiện và thâm nhập, đưa đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau. Đây gọi là tuệ căn.

7 “Này các Tỳ khưu, đây là năm căn.”

Kinh Tóm Lược I

1 “Này các Tỳ khưu, có năm căn này… Đây là năm căn.

2 “Người đã hoàn thành và viên mãn năm căn này là bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế nữa, là bậc Bất Lai; nếu yếu hơn nữa, là bậc Nhất Lai; nếu yếu hơn nữa, là bậc Nhập Lưu; nếu yếu hơn nữa, là người tùy pháp hành; nếu yếu hơn nữa, là người theo tùy tín hành.”

Kinh Tóm Lược II

1 “Này các Tỳ khưu, có năm căn này… Đây là năm căn.

2 “Người đã hoàn thành và viên mãn năm căn này là bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế nữa, là bậc Bất Lai… Nhất Lai… Nhập Lưu… người theo Pháp… người tùy tín hành.

3 “Như vậy, này các Tỳ khưu, do sự sai khác nơi các căn mà có sự sai khác nơi quả; do sự sai khác nơi quả mà có sự sai khác giữa các hạng người.”

Kinh Tóm Lược III

1 “Này các Tỳ khưu, có năm căn này… Đây là năm căn.

2 “Người đã hoàn thành và viên mãn năm căn này là bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế nữa, là… người theo Tín.

3 “Như vậy, này các Tỳ khưu, ai phát huy chúng đầy đủ thì thành tựu đầy đủ; ai phát huy một phần thì thành tựu một phần. Này các Tỳ khưu, năm căn không phải là vô hiệu, nên Ta nói như vậy.”

Kinh Chi Tiết I

1 “Này các Tỳ khưu, có năm căn này… Đây là năm căn.

2 “Người đã hoàn thành và viên mãn năm căn này là bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế nữa, là vị chứng Niết-bàn trong khoảng trung gian; nếu yếu hơn nữa, là vị chứng Niết-bàn khi vừa tái sanh; nếu yếu hơn nữa, là vị chứng Niết-bàn không cần tinh tấn; nếu yếu hơn nữa, là vị chứng Niết-bàn với tinh tấn; nếu yếu hơn nữa, là vị đi ngược dòng, hướng đến cõi Sắc Cứu Cánh; nếu yếu hơn nữa, là bậc Nhất Lai; nếu yếu hơn nữa, là bậc Nhập Lưu; nếu yếu hơn nữa, tùy pháp hành; nếu yếu hơn nữa, là người theo tùy tín hành”

Kinh Chi Tiết II

1 “Này các Tỳ khưu, có năm căn này… Đây là năm căn.

2 “Người đã hoàn thành và viên mãn năm căn này là bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế nữa, là vị chứng Niết-bàn trong khoảng trung gian… (như §15)… nếu yếu hơn nữa, là người theo Tín.

3 “Như vậy, này các Tỳ khưu, do sự sai khác nơi các căn mà có sự sai khác nơi quả; do sự sai khác nơi quả mà có sự sai khác giữa các hạng người.”

Kinh Chi Tiết III

1 “Này các Tỳ khưu, có năm căn này… Đây là năm căn.

2 “Người đã hoàn thành và viên mãn năm căn này là bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế nữa, là vị chứng Niết-bàn trong khoảng trung gian… (như §15)… tùy pháp hành; nếu yếu hơn nữa, là người theo tùy tín hành

3 “Như vậy, này các Tỳ khưu, ai phát huy chúng đầy đủ thì thành tựu đầy đủ; ai phát huy một phần thì thành tựu một phần. Này các Tỳ khưu, năm căn không phải là vô hiệu, nên Ta nói như vậy.”

Kinh Tu Tập

1 “Này các Tỳ khưu, có năm căn này… Đây là năm căn.

2 “Người đã hoàn thành và viên mãn năm căn này là bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế nữa, là người đang tu tập để chứng quả A-la-hán; nếu yếu hơn nữa, là bậc Bất Lai; nếu yếu hơn nữa, là người đang tu tập để chứng quả Bất Lai; nếu yếu hơn nữa, là bậc Nhất Lai; nếu yếu hơn nữa, là người đang tu tập để chứng quả Nhất Lai; nếu yếu hơn nữa, là bậc Nhập Lưu; nếu yếu hơn nữa, là người đang tu tập để chứng quả Nhập Lưu.

3 “Nhưng này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người trong đó năm căn này hoàn toàn và tuyệt đối không có mặt thì là ‘kẻ ngoài cuộc, người đứng về phe phàm phu.’”

Kinh Được Trang Bị

1 Rồi một vị Tỳ khưu đến gần Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và bạch:

2 “Bạch Thế Tôn, có nói: ‘người được trang bị các căn, người được trang bị các căn.’ Theo cách nào, bạch Thế Tôn, là người được trang bị các căn?”

3 “Ở đây, này Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu tu tập tín căn, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Vị ấy tu tập tinh tấn căn… niệm căn… định căn… tuệ căn, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ.

4 “Theo cách ấy, này Tỳ khưu, là người được trang bị các căn.”

Kinh Sự Đoạn Tận Lậu Hoặc

1 “Này các Tỳ khưu, có năm căn này… Đây là năm căn.

2 “Chính vì đã tu tập và làm cho sung mãn năm căn này mà một vị Tỳ khưu, do sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại này chứng nhập và an trú trong tâm giải thoát không lậu hoặc, tuệ giải thoát, tự mình chứng ngộ với thắng trí.”

Chú thích

SN 48.11 – Kinh Thành Tựu Bài kinh định nghĩa rõ ràng năm căn (tín, tinh tấn, niệm, định, tuệ) qua cách chúng được "đạt được" (paṭilābha) dựa trên nền tảng thực hành cụ thể: tín căn từ lòng tin vào Phật, tinh tấn căn từ bốn chánh cần, niệm căn từ bốn niệm xứ, định căn từ nhất tâm hướng giải thoát, tuệ căn từ trí tuệ thấy sinh diệt. Đây là nền tảng phân tích chi tiết, giúp hành giả nhận diện và nuôi dưỡng từng căn một cách thực tiễn.

SN 48.12 – Kinh Tóm Lược Tóm tắt ngắn gọn: Năm căn hoàn thiện → A-la-hán; yếu dần → Bất lai, Nhất lai, Dự lưu, Pháp tùy, Tín tùy. Bài kinh nhấn mạnh mức độ phát triển của năm căn quyết định quả vị thánh, thể hiện tính thứ bậc (gradual) của đạo lộ, từ sơ cơ đến viên mãn.

SN 48.13 – Kinh Tóm Lược II Tương tự SN 48.12, nhưng thêm câu kết: "Do khác biệt về các căn → khác biệt về quả; do khác biệt về quả → khác biệt giữa các cá nhân." Chú thích này làm rõ nguyên tắc nhân quả trong tu tập: Năm căn là yếu tố quyết định sự khác biệt giữa các bậc thánh và phàm phu.

SN 48.14 – Kinh Tóm Lược III Nhấn mạnh tính hiệu quả: Hoàn toàn kích hoạt năm căn → thành tựu đầy đủ; một phần → thành tựu một phần. "Năm căn không phải vô ích" – lời khẳng định mạnh mẽ của Đức Phật, khích lệ hành giả nỗ lực, vì các căn luôn có tiềm năng dẫn đến giải thoát nếu được nuôi dưỡng.

SN 48.15 –Kinh Chi Tiết I Phiên bản chi tiết nhất về thứ bậc: Từ A-la-hán xuống các loại Dự lưu đặc biệt (chứng Niết-bàn giữa khoảng, khi sanh, không nỗ lực, có nỗ lực, hướng thượng đến A-ca-nị-tra), rồi Nhất lai, Dự lưu, Pháp tùy, Tín tùy. Bài kinh mở rộng phân loại các quả vị thánh trong dòng Dự lưu, cho thấy sự đa dạng trong cách chứng quả nhờ mức độ năm căn.

Cách phân loại năm loại Bất Lai này xuất hiện lặp lại tại 48:15, 24, 66; 51:26; 54:5; và 55:25. Spk (Chú giải Tương Ưng) giải thích antarāparinibbāyī (“vị chứng Niết-bàn trong khoảng trung gian”) là người tái sinh vào các Tịnh Cư Thiên và chứng A-la-hán trong nửa đầu của thọ mạng tại đó. Loại này lại được chia thành ba, tùy theo việc đạt A-la-hán: (i) ngay trong ngày tái sinh; (ii) sau một hoặc hai trăm đại kiếp; hoặc (iii) sau bốn trăm đại kiếp. Upahaccaparinibbāyī (“vị chứng Niết-bàn khi vừa tái sinh”) được giải thích là người chứng A-la-hán sau khi đã vượt qua nửa đầu của thọ mạng. Theo Spk, asaṅkhāraparinibbāyī (“vị chứng Niết-bàn không cần nỗ lực”) và sasaṅkhāraparinibbāyī (“vị chứng Niết-bàn với nỗ lực”) trở thành hai phương thức mà hai loại Bất Lai đầu tiên chứng đạt mục tiêu. Cách giải thích này xuất phát từ Pp 16–17 (được chú giải tại Pp-a 198–201). Tuy nhiên, không những cách lý giải về hai loại đầu tiên này bỏ qua nghĩa đen của tên gọi của chúng, mà còn làm mất đi tính tuần tự và tính loại trừ lẫn nhau của năm loại như được trình bày ở những nơi khác trong các bài kinh .

Nếu chúng ta hiểu thuật ngữ antarāparinibbāyī theo nghĩa đen, như có vẻ nên hiểu, thì nó có nghĩa là người chứng Niết-bàn trong khoảng giữa hai đời sống, có thể trong khi tồn tại dưới dạng một thân vi tế ở trạng thái trung gian. Khi ấy, upahaccaparinibbāyī trở thành người chứng Niết-bàn “khi vừa chạm đất” hay “khi vừa đặt chân” vào đời sống mới, tức là gần như ngay lập tức sau khi tái sinh. Hai thuật ngữ kế tiếp chỉ hai loại người chứng A-la-hán trong đời sống kế tiếp, được phân biệt bởi mức độ nỗ lực cần thiết để đạt mục tiêu. Loại cuối cùng, uddhaṃsota akaniṭṭhagāmī, là người tái sinh liên tiếp trong các Tịnh Cư Thiên, hoàn tất trọn vẹn thọ mạng ở mỗi cõi, và cuối cùng chứng A-la-hán tại cõi Akaniṭṭha, Tịnh Cư Thiên cao nhất.

Cách giải thích này, được một số bộ phái Phật giáo sơ kỳ ngoài hệ Theravāda chấp nhận, dường như được xác nhận bởi Purisagati Sutta (AN IV 70–74 [Tăng Chi Bộ, tập IV, trang 70 đến 74]), trong đó thí dụ về mảnh gỗ cháy cho thấy bảy loại (bao gồm ba loại antarāparinibbāyī) là những loại loại trừ lẫn nhau và được phân cấp theo độ sắc bén của các căn. Sự ủng hộ thêm đến từ AN II 134,25–29[ Tăng Chi Bộ, tập II, trang 134, dòng 25 đến 29], giải thích antarāparinibbāyī là người đã đoạn trừ kiết sử tái sinh (upapattisaṃyojana) nhưng chưa đoạn trừ kiết sử hữu (bhavasaṃyojana). Mặc dù các học giả Theravāda phản bác cách hiểu này về antarāparinibbāyī (chẳng hạn tại Kv 366), bằng chứng từ các bài kinh nghiêng mạnh về phía cách giải thích ấy.  AN II 155–56 đưa ra một sự phân biệt khác giữa sasaṅkhāraparinibbāyī và asaṅkhāraparinibbāyī: vị trước đạt A-la-hán qua thiền quán các đề mục “khắc khổ” như quán bất tịnh thân thể, quán sự nhàm chán đối với thực phẩm, sự bất mãn với toàn thế giới, quán vô thường trong tất cả các hành, và niệm chết; vị sau đạt được qua bốn thiền định.

SN 48.16 – Kinh Chi Tiết II Lặp lại cấu trúc SN 48.15 nhưng thêm câu kết về "khác biệt các căn → khác biệt quả → khác biệt cá nhân". Nhấn mạnh rằng sự khác biệt giữa các bậc thánh không phải ngẫu nhiên mà xuất phát từ mức độ tu tập năm căn, giúp hành giả tự đánh giá tiến trình của mình.  Về sự phân biệt giữa dhammānusārī (pháp hành) và saddhānusārī (tín hành), xem 25:1.
Theo Số Giải, con đường của vị pháp hành thì sắc bén, trí tuệ của vị ấy khởi lên một cách dũng mãnh. Vị ấy đoạn trừ các phiền não không cần nỗ lực, như người chặt thân cây chuối bằng con dao bén. Con đường của vị tín hành thì không sắc bén như vậy, trí tuệ của vị ấy không khởi lên dũng mãnh như vậy. Vị ấy đoạn trừ phiền não với sự nỗ lực, như người chặt thân cây chuối bằng con dao cùn.

SN 48.17 – Kinh Chi III Kết hợp chi tiết thứ bậc (như SN 48.15) với thông điệp khích lệ: Kích hoạt đầy đủ → thành tựu đầy đủ; một phần → một phần. "Năm căn không vô ích" – lặp lại để củng cố niềm tin rằng nỗ lực tu tập luôn mang lại kết quả tương xứng, không phí hoài.

SN 48.18 –Kinh Thực Hành Bài kinh tập trung vào người đang thực hành (paṭipanna): Năm căn hoàn thiện → A-la-hán; yếu hơn → người đang hướng đến quả A-la-hán, Bất lai, Nhất lai, Dự lưu (và người thực hành hướng đến quả tương ứng). Kết thúc bằng lời cảnh tỉnh: Ai hoàn toàn thiếu năm căn → "người ngoại đạo, đứng trong phe phàm phu". Đây là sutta quan trọng phân biệt rõ "người trong đạo" và "người ngoài đạo", nhấn mạnh năm căn là dấu hiệu của bậc thánh.

SN 48.19 – Kinh Được Trang Bị Một vị Tỳ-khưu hỏi: "Thế nào là người được trang bị các căn?" Đức Phật trả lời: Tu tập năm căn dẫn đến an tịnh và giác ngộ. Bài kinh ngắn gọn nhưng sâu sắc, định nghĩa "trang bị" (samannāgata) không phải sở hữu thụ động mà là sự phát triển tích cực, hướng đến bình an và tỉnh thức.

SN 48.20 – Kinh Sự Diệt Tận Các Lậu Hoặc  Đỉnh cao của nhóm: Nhờ tu tập và làm sung mãn năm căn, vị Tỳ-khưu diệt tận lậu hoặc, ngay trong đời này chứng tâm giải thoát vô lậu và tuệ giải thoát vô lậu bằng trí tuệ trực tiếp. Đây là sutta kết thúc phần, khẳng định năm căn là con đường trực tiếp dẫn đến A-la-hán quả – diệt tận lậu hoặc, đạt Niết-bàn sống động.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

II. Phẩm Có Phần Yếu Hơn (Mudutaravaggo)

11. I. Chứng Ðược (S.v,199)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, đặt lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: "Ðây là Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc... Phật, Thế Tôn". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tín căn.

4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tấn căn?

Này các Tỷ-kheo, khi tu tập bốn chánh cần, thâu nhận tinh tấn; này các Tỷ-kheo, đây gọi là tấn căn.

5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm căn? Này các Tỷ-kheo, khi tu tập bốn niệm xứ, thâu nhận niệm; này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm căn.

6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử, sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là định căn.

7) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (các pháp), với trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ căn.

8) Này các Tỷ-kheo, những pháp này là năm căn.

12. II. Tóm Tắt (1) (Tạp 26, 7, Ðại 2, 182c, 196c)(S.v,200)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3) Với sự toàn diện (samattà), này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ hơn là bậc Bất hoàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Nhất lai. Yếu nhẹ hơn là bậc Dự lưu. Yếu nhẹ hơn nữa là bậc Tùy pháp hành. Yếu nhẹ hơn nữa là bậc Tùy tín hành.

13. III. Tóm Tắt (2) (Tạp 26, 11, Ðại 2,182a) (S.v,200)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3) Với sự toàn diện, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán... là bậc Tùy tín hành.

4) Như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự sai biệt về căn, có sự sai biệt về quả, có sự sai biệt về sức mạnh, có sự sai biệt về người.

14. IV. Tóm Tắt (3) (S.v,201)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm?

Tín căn... tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3) Với sự toàn diện, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán... là bậc Tùy tín hành.

4) Như vậy, này các Tỷ-kheo, ai làm viên mãn, được quả viên mãn. Ai làm từng phần, được quả từng phần. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng năm căn không phải trống không.

15. V. Rộng Thuyết(1) (S.v,201)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3) Với sự đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ hơn là bậc Trung gian Bát-niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Tổn hại Bát-niết-bàn (Upahacca parinibhàvii). Yếu nhẹ hơn là bậc Vô hành Niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Hữu hành Niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Thượng lưu, đạt đến Sắc cứu cánh thiên. Yếu nhẹ hơn là bậc Nhất lai. Yếu nhẹ hơn là bậc Dự lưu. Yếu nhẹ hơn là bậc Tùy pháp hành. Yếu nhẹ hơn là bậc Tùy tín hành.

16. VI. Rộng Thuyết (2) (S.v,201)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3) Với sự toàn diện, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ hơn là bậc Trung gian Bát-niết-bàn... là bậc Tùy tín hành.

4) Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự sai khác về căn, sự sai khác về quả, sự sai khác về lực, sự sai khác về người.

17. VII. Rộng Thuyết (3) (S.v,202)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3) Với sự toàn diện, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ hơn là bậc Trung gian bát Niết-bàn... Yếu nhẹ hơn là bậc Tùy tín hành.

4) Như vậy, này các Tỷ-kheo, ai làm viên mãn, được quả viên mãn; ai làm từng phần, được quả từng phần. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng năm căn không phải trống không.

18. VIII. Thực Hành (Hướng: Patipanno) (Tạp 26.11,Ðại 2,183a) (S.v,202)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3) Với sự toàn diện, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ hơn là vị đang thực hành để chứng ngộ quả A-la-hán (A-la-hán hướng). Yếu nhẹ hơn là bậc Bất lai. Yếu nhẹ hơn là vị đang thực hành để chứng ngộ quả Bất lai (A-na-hàm hướng). Yếu nhẹ hơn là bậc Nhất lai. Yếu nhẹ hơn là vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhất lai (Nhất lai hướng). Yếu nhẹ hơn là bậc Dự lưu. Yếu nhẹ hơn là vị đang thực hành để chứng ngộ quả Dự lưu (Dự lưu hướng).

4) Ðối với ai, này các Tỷ-kheo, năm căn này toàn bộ và toàn diện không có, thời Ta nói rằng người ấy là người đứng phía ngoài, là thuộc thành phần phàm phu.

19. IX. Tịch Tịnh (Upasanno) (S.v,202)

1) ...

2) -- Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn... Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

3) -- "Căn đầy đủ, căn đầy đủ", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là căn đầy đủ?

4) -- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập tín căn, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ... tu tập tuệ căn, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ.

5) Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có căn đầy đủ.

20. X. Ðoạn Tận Các Lậu Hoặc (Tạp 26.8, Ðại 2,182c) (S.v,203)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3) Do tu tập, do làm cho sung mãn năm căn này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.