BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 21  tháng 02, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 48. Tương Ưng Quyền -Phẩm Sáu Căn- SN 48.21 đến SN 48.30 -
Bài 613. CÁCH DÙNG ĐA DẠNG CỦA THUẬT NGỮ “INDRIYA”-

.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-613.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Một loạt mười bài kinh trong phẩm nầy mang nội dung rất khác nhau nhưng cho thấy cách Đức Phật dùng thuật ngữ Indriya (căn hay quyền) một cách đa dạng mà người học Phật cần lưu tâm. Do vậy gom chung một bài để thấy rõ sự dị biệt đa dạng trong cách dùng thuật ngữ. Những bài kinh nầy tuy ngắn gọn và lặp lại cấu trúc quen thuộc, nhưng thực chất là một tuyên ngôn giáo lý súc tích về toàn bộ tiến trình sinh tử và giải thoát. Trọng tâm của chúng không nằm ở những vấn đề siêu hình, cũng không phải ở các pháp môn đặc thù, mà ở một điểm rất căn bản: các căn. Chính nơi các căn mà kinh nghiệm được hình thành, khổ đau phát sinh và con đường giải thoát mở ra.

Trước hết, các bài kinh khẳng định rằng căn là nền tảng của kinh nghiệm. Không có nhãn căn thì không có thấy; không có nhĩ căn thì không có nghe; không có ý căn thì không có suy tư, ký ức, tưởng tượng. Toàn bộ thế giới mà ta kinh nghiệm – vui, buồn, yêu, ghét, thành công, thất bại – đều được cấu thành qua sáu căn này. Thế giới không xuất hiện như một thực tại độc lập, mà như một tiến trình tương tác giữa căn và trần. Do đó, muốn hiểu đời sống, phải bắt đầu từ việc hiểu các căn.

Kế đến, mười bài kinh mở rộng phạm vi của “căn” sang bình diện tu tập với năm căn: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Nếu sáu căn là cửa ngõ tiếp xúc thế giới, thì năm căn là năng lực nội tại giúp hành giả chuyển hóa kinh nghiệm. Tín làm nền tảng tin tưởng đúng đắn; tấn là sức nỗ lực; niệm là sự tỉnh giác; định là sự an trú; tuệ là ánh sáng soi chiếu. Năm căn này không chỉ là đức tính đạo đức, mà là những năng lực quyết định mức độ tiến bộ trên Thánh đạo. Cường độ của chúng khác nhau thì quả vị đạt được cũng khác nhau. Như vậy, năm căn chính là động cơ nội tại của tiến trình giải thoát.

Tuy nhiên, trọng tâm sâu xa hơn của các bài kinh nằm ở chỗ: sáu căn là cửa ngõ của sinh tử. Do sáu căn mà có xúc; do xúc mà có thọ; do thọ mà khởi ái; từ ái mà thành thủ; từ thủ mà thành hữu; và từ hữu mà có sinh, già, chết. Luân hồi không phải là một vòng quay mơ hồ ở đâu xa, mà bắt đầu ngay từ cái thấy, cái nghe, cái suy nghĩ. Khi nhãn căn tiếp xúc sắc mà không có trí tuệ, tham và sân liền khởi; khi ý căn nắm bắt một ý niệm và chấp thủ, vòng sinh tử được nuôi dưỡng. Sáu căn vì thế vừa là cửa ngõ của thế giới, vừa là điểm khởi đầu của khổ đau.

Chính vì vậy, các bài kinh nhấn mạnh rằng trí tuệ đối với các căn là điều kiện của Thánh quả. Một vị Nhập lưu không phải vì đạt được trạng thái thần bí, mà vì hiểu rõ “vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly” của sáu căn. Một vị A-la-hán cũng không phải vì có quyền năng đặc biệt, mà vì đã thấy rõ và không còn chấp thủ nơi sáu căn. Đức Phật tuyên bố thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cũng dựa trên việc trực tiếp tri kiến sự sinh khởi, đoạn diệt, vị ngọt, nguy hiểm và xuất ly của các căn. Như vậy, giác ngộ không phải là thoát khỏi kinh nghiệm, mà là hiểu thấu kinh nghiệm.

Đỉnh cao của giáo lý này được kết tinh trong nguyên lý: không chấp thủ căn là giải thoát. Sáu căn tự bản chất không phải là vấn đề; vấn đề nằm ở sự chấp thủ. Khi thấy sắc mà không dính mắc, khi nghe tiếng mà không bị cuốn theo, khi tư duy mà không đồng hóa với tư duy ấy, thì vòng duyên khởi bị cắt đứt. Giải thoát không phải là hủy diệt căn, mà là không còn bám víu vào chúng như “ta” hay “của ta”. Chính sự buông xả ấy làm tan rã gốc rễ của hữu và tái sinh.

Toàn bộ tiến trình giác ngộ – từ Nhập lưu đến A-la-hán và Phật – do đó được xác lập trên một nền tảng duy nhất: thấy rõ các căn như thật. Thấy rõ chúng sinh do duyên; thấy rõ chúng vô thường; thấy rõ sự hấp dẫn của chúng chỉ là tạm bợ; thấy rõ sự nguy hiểm của sự chấp thủ; và thấy rõ con đường vượt thoát. Đây không phải là một tri thức lý thuyết, mà là một tri kiến trực tiếp, sống động, chuyển hóa toàn bộ cấu trúc nhận thức. Vì vậy, nếu phải tóm lược tinh thần của mười bài kinh này trong một câu, thì có thể nói: Hiểu sáu căn là hiểu toàn bộ luân hồi; vượt qua sáu căn là vượt qua sinh tử.

Kinh Văn

Kinh Trở lui trạng thái nầy nữa

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm pháp gồm những gì? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.

“Này các Tỳ khưu, bao lâu Ta chưa trực tiếp như thật biết được sự sinh khởi và sự đoạn diệt, sự vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly đối với năm căn này, thì Ta chưa tuyên bố rằng Ta đã chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trong thế giới này cùng với chư thiên, Ma vương và Phạm thiên, trong thế hệ này cùng với các sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người. Nhưng khi Ta đã trực tiếp như thật biết được tất cả những điều ấy, bấy giờ Ta mới tuyên bố rằng Ta đã chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trong thế giới này cùng với … chư thiên và loài người.

“Tri kiến đã khởi lên nơi Ta: ‘Sự giải thoát tâm của Ta là bất động; đây là đời sống cuối cùng của Ta; nay không còn trở lui trạng thái nầy nữa.’”

Kinh Mạng Căn

“Này các Tỳ khưu, có ba căn này. Ba pháp gồm những gì? Nữ căn, nam căn, mạng căn. Đó là ba căn.”

Kinh Cụ Tri Quyền

“Này các Tỳ khưu, có ba căn này. Ba pháp gồm những gì? Vị tri quyền, dĩ tri quyền, cụ tri quyền.  Đó là ba căn.”

Kinh Nhất Chủng Tử

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm pháp gồm những gì? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Đó là năm căn.

“Này các Tỳ khưu, người nào đã hoàn thành và viên mãn năm căn này là một vị A-la-hán. Nếu các căn ấy yếu hơn một bậc, người ấy là vị chứng Niết-bàn trong khoảng trung gian; nếu yếu hơn nữa, là vị chứng Niết-bàn khi tái sanh; nếu yếu hơn nữa, là vị chứng Niết-bàn không cần nỗ lực; nếu yếu hơn nữa, là vị chứng Niết-bàn với nỗ lực; nếu yếu hơn nữa, là vị đi ngược dòng, hướng đến cõi A-ka-ni-ṭṭha; nếu yếu hơn nữa, là vị Nhất lai; nếu yếu hơn nữa, là vị Nhất chủng tử; nếu yếu hơn nữa, là vị Gia gia; nếu yếu hơn nữa, là vị Tối đa bảy lần tái sanh; nếu yếu hơn nữa, là vị Tùy pháp hành; nếu yếu hơn nữa, là vị Tùy tín hành.”

Kinh Bản Tóm Lược

“Này các Tỳ khưu, có sáu căn này. Sáu pháp gồm những gì? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn. Đó là sáu căn.”

Kinh Nhập Lưu

“Này các Tỳ khưu, có sáu căn này. Sáu pháp gồm những gì? ? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn.

“Này các Tỳ khưu, khi một vị Thánh đệ tử như thật hiểu rõ sự vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly đối với sáu căn này, thì vị ấy được gọi là một Thánh đệ tử, bậc Nhập lưu, không còn bị ràng buộc vào cõi thấp, được an trú vững chắc trong định mệnh, với giác ngộ là cứu cánh.”

Kinh A-la-hán

“Này các Tỳ khưu, có sáu căn này. Sáu pháp gồm những gì? ? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn.

“Này các Tỳ khưu, khi một vị Tỳ khưu, sau khi như thật hiểu rõ sự vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly đối với sáu căn này, được giải thoát do không chấp thủ, thì vị ấy được gọi là Tỳ khưu là A-la-hán, vị đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống đời sống phạm hạnh, đã làm xong những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã hoàn toàn đoạn tận các kiết sử của hữu, vị được giải thoát hoàn toàn nhờ tối hậu trí.”

Kinh Giác Giả

“Này các Tỳ khưu, có sáu căn này. Sáu pháp gồm những gì? ? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn.

“Này các Tỳ khưu, bao lâu Ta chưa trực tiếp như thật biết được sự sinh khởi và sự đoạn diệt, sự vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly đối với sáu căn này, thì Ta chưa tuyên bố rằng Ta đã chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trong thế giới này cùng với … chư thiên và loài người. Nhưng khi Ta đã trực tiếp như thật biết được tất cả những điều ấy, bấy giờ Ta mới tuyên bố rằng Ta đã chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trong thế giới này cùng với … chư thiên và loài người.

“Tri kiến đã khởi lên nơi Ta: ‘Sự giải thoát tâm của Ta là bất động; đây là đời sống cuối cùng của Ta; nay không còn trở lui trạng thái nầy nữa.’”

Kinh Sa-môn và Bà-la-môn I

“Này các Tỳ khưu, có sáu căn này. Sáu pháp gồm những gì? ? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn.

“Này các Tỳ khưu, những sa-môn hay bà-la-môn nào không như thật hiểu rõ sự vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly đối với sáu căn này, Ta không xem họ là sa-môn giữa các sa-môn hay bà-la-môn giữa các bà-la-môn; và các vị ấy, do không tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, ngay trong đời này không thể nhập và an trú trong mục đích của sa-môn hạnh hay mục đích của bà-la-môn hạnh.

“Nhưng này các Tỳ khưu, những sa-môn và bà-la-môn nào như thật hiểu rõ những điều ấy, Ta xem họ là sa-môn giữa các sa-môn và bà-la-môn giữa các bà-la-môn; và các vị ấy, do tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, ngay trong đời này nhập và an trú trong mục đích của sa-môn hạnh và mục đích của bà-la-môn hạnh.”

Kinh Sa-môn và Bà-la-môn II

“Này các Tỳ khưu, những sa-môn hay bà-la-môn nào không hiểu nhãn căn, sự sinh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó; không hiểu nhĩ căn … ý căn, sự sinh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó; Ta không xem họ là sa-môn giữa các sa-môn hay bà-la-môn giữa các bà-la-môn; và các vị ấy, do không tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, ngay trong đời này không thể nhập và an trú trong mục đích của sa-môn hạnh hay mục đích của bà-la-môn hạnh.

“Nhưng này các Tỳ khưu, những sa-môn và bà-la-môn nào hiểu rõ những điều ấy … thì ngay trong đời này nhập và an trú trong mục đích của sa-môn hạnh và mục đích của bà-la-môn hạnh.”

Chú thích

1. Tổng quan giáo lý về “Căn” hay “Quyền” (Indriya)

Indriya (căn hay quyền) trong ngữ cảnh này không chỉ có nghĩa là giác quan vật lý, mà là “năng lực chi phối” hay “khả năng làm chủ” một lãnh vực kinh nghiệm.

Trong các bài kinh trên, căn được phân thành nhiều nhóm:

  • Năm căn tinh thần: tín, tấn, niệm, định, tuệ.
  • Ba căn sinh lý – hữu tình: nữ căn, nam căn, mạng căn.
  • Ba căn liên hệ trí tuệ:
  • biết điều chưa biết, tối hậu trí, người thành tựu tối hậu trí.
  • Sáu căn nhận thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

Như vậy, “căn” vừa mang ý nghĩa sinh lý, tâm lý, vừa mang ý nghĩa siêu thế.

2. Chú thích bài 21 – “Trở lui trạng thái nầy”

Đức Phật nhấn mạnh năm căn (tín, tấn, niệm, định, tuệ) là đối tượng quán chiếu toàn diện:

  • Sự sinh khởi (samudaya)
  • Sự đoạn diệt (atthaṅgama)
  • Sự vị ngọt (assāda)
  • Sự nguy hiểm (ādīnava)
  • Sự xuất ly (nissaraṇa)

Điểm đặc biệt: Ngay cả năm căn thiện này cũng phải được quán sát theo tiến trình duyên khởi. Giác ngộ không phải chỉ phát triển năm căn, mà còn phải thấy rõ bản chất vô thường và giới hạn của chúng. Câu tuyên bố: “Nay không còn trở lui trạng thái nầy nữa” xác định sự chấm dứt hoàn toàn của bhava (hữu), tức đoạn tận nghiệp tái sinh.

3. Chú thích bài 22 – Ba căn sinh lý

  • Nữ căn (itthindriya)
  • Nam căn (purisindriya)
  • Mạng căn (jīvitindriya)

Nữ căn và nam căn không chỉ là giới tính sinh học, mà là một loại sắc pháp đặc thù quyết định đặc điểm thân thể.

Mạng căn là yếu tố duy trì sự sống của danh và sắc. Trong Abhidhamma, mạng căn tồn tại cả ở sắc lẫn tâm.

Nữ căn (itthindriya) và nam căn (purisindriya) hiếm khi được đề cập trong các bộ Nikāya, nhưng đóng vai trò quan trọng trong một bài kinh ở AN IV 57–59. Cả hai được xếp vào các loại sắc do chấp thủ (upādā rūpa) trong Thắng Pháp Abhidhamma; Sớ giải nói rằng nữ căn chi phối nữ tính (tức quyết định các đặc điểm riêng biệt của phái nữ); nam căn chi phối nam tính. Mạng căn (jīvitindriya) là một loại sắc do chấp thủ khác, có chức năng duy trì các pháp vật lý đồng sanh.

4. Chú thích bài 23 – Ba căn trí tuệ

Ba căn này tương ứng với ba giai đoạn của Thánh đạo:

1.    “Biết điều chưa biết” – thuộc giai đoạn Tu-đà-hoàn đạo.

2.    Tối hậu trí (aññindriya) – trí đoạn tận lậu hoặc.

3.    Căn của người thành tựu tối hậu trí – trạng thái đã hoàn tất.

Đây là tiến trình chuyển từ học giả sang bậc giác ngộ.

Ở đây dùng chữ “quyền” thay vì “căn” lấy theo bản dịch của Ngài Tịnh Sự

“Vị tri quyền - biết điều chưa được biết” (anaññātaññassāmītindriya) là căn khởi lên vào sát-na Đạo Nhập lưu nơi người đang tu tập với ý nghĩ: “Ta sẽ biết Giáo pháp mà trước đây, trong luân hồi vô thủy, ta chưa từng biết.”
Dĩ tri quyền (aññindriya) là căn khởi lên trong sáu trường hợp, từ sơ quả trở đi cho đến tứ đạo; nó vận hành theo phương thức hiểu biết sâu sắc hơn về chính những điều đã được biết (bởi Đạo đầu tiên).
Cụ tri quyền (aññātāvindriya) là căn khởi lên đối với những pháp đã được biết trọn vẹn nơi bậc tứ quả.

5. Chú thích bài 24 – Sự sai biệt do cường độ căn

Đoạn này mô tả sự phân loại Thánh quả dựa trên độ mạnh yếu của năm căn.

Càng mạnh → quả vị càng cao.
Càng yếu → tiến trình giải thoát càng kéo dài.

Các thuật ngữ:

  • Nhất chủng tử (eka-bījī): chỉ còn tái sinh một lần.
  • Gia gia (kolaṅkola): còn tái sinh trong vài gia đình.
  • Tối đa bảy lần (sattakkhattuparama): tối đa bảy đời.
  • Tùy pháp hành (dhammānusārī) và tùy tín hành (saddhānusārī): hai hạng dự lưu chưa chứng quả, phân biệt theo trí tuệ sắc bén hay đức tin mạnh.

Điểm cốt lõi: năm căn là thước đo năng lực giải thoát.

6. Chú thích bài 25 – Sáu căn

Sáu căn gồm: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Ở đây, “ý căn” là nền tảng của toàn bộ hoạt động nhận thức. Trong giáo lý duyên khởi: Do sáu căn → sáu xúc → sáu thọ → ái → thủ → hữu.

Sáu căn là cửa ngõ của luân hồi.

7. Chú thích bài 26 – Điều kiện thành Nhập lưu

Một vị Thánh đệ tử thành tựu Nhập lưu khi:

  • Hiểu rõ vị ngọt (niềm vui của kinh nghiệm giác quan)
  • Hiểu rõ nguy hiểm (sự trói buộc do chấp thủ)
  • Hiểu rõ xuất ly (con đường vượt thoát)

Nhập lưu được mô tả là: Không còn đọa lạc, chắc chắn hướng đến giác ngộ. Điều này cho thấy trí tuệ đối với sáu căn là chìa khóa của Thánh đạo.

8. Chú thích bài 27 – Điều kiện thành A-la-hán

Sự khác biệt giữa Nhập lưu và A-la-hán:

  • Nhập lưu: hiểu rõ.
  • A-la-hán: giải thoát do không chấp thủ (anupādāya vimutta).

Ở đây nhấn mạnh: Không chấp thủ nơi sáu căn và sáu trần. Chính chấp thủ mới duy trì hữu; không chấp thủ là đoạn tận tái sinh.

9. Chú thích bài 28 – Giác Giả

Bài này tương tự bài 21 nhưng áp dụng cho sáu căn. Điểm quan trọng: Giác ngộ của Đức Phật không chỉ là trí biết khái niệm, mà là trực tiếp tri kiến toàn bộ chu trình: Sinh khởi, đoạn diệt, vị ngọt, nguy hiểm, phương cách xuất ly. Đây là cấu trúc chuẩn của trí tuệ giải thoát.

10. Chú thích bài 29–30 – Tiêu chuẩn chân chính của sa-môn

Hai bài cuối xác lập tiêu chuẩn:

Không hiểu sáu căn → không phải sa-môn chân chính.
Hiểu rõ sáu căn → thành tựu mục đích sa-môn.

Điều này chuyển trọng tâm:

Không phải nghi lễ, hình thức hay khổ hạnh
mà là trí tuệ đối với tiến trình nhận thức.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

III. Phẩm Sáu Căn

21. I. Không Có Tái Sanh, hay Người Có Trí (Tạp 26.9, Ðại 2,182c) (S.v,203)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn.

3) Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Ta không như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với các thế giới như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

4) Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Ta như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta mới biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với các thế giới, như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người..

22. II. Mạng (S.v,204)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có ba căn này. Thế nào là ba? Nữ căn, nam căn, mạng căn.

3) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba căn.

23. III. Chánh Lý (Tạp 26.1, Ðại 2,182a) (S.v,204)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có ba căn này. Thế nào là ba? Vị tri đương tri căn, dĩ tri căn, cụ tri căn.

3) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba căn.

24. IV. Nhứt Thắng Trí, hay Nhứt Chủng Tử (Tạp 26. 12, Ðại 1,183) (S.v,204)

1) ...

2) -- Có năm căn này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3) Với sự toàn diện, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ hơn là bậc Trung gian Bát-niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Tổn hại Bát-niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Vô hành Niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Hữu hành Niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Thượng lưu đạt tới Sắc cứu cánh thiên. Yếu nhẹ hơn là bậc Nhất lai. Yếu nhẹ hơn là bậc Nhứt chủng. Yếu nhẹ hơn là bậc gia gia (kolankolo). Yếu nhẹ hơn là bậc phải tái sanh lại nhiều nhất là bảy lần. Yếu nhẹ hơn là bậc Tùy pháp hành. Yếu nhẹ hơn là bậc Tùy tín hành.

25. V. Thanh Tịnh (S.v,205)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn.

3) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là sáu căn.

26. VI. Dòng Nước Hay Dự Lưu (S.v,205)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn... ý căn.

3) Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn căn này; khi ấy, vị Thánh đệ tử được gọi là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết định đạt tới Chánh Ðẳng Giác.

27. VII. A-La-Hán (1) (S.v,205)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn... ý căn.

3) Khi nào Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, sau khi như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn này, được giải thoát, không có chấp thủ; khi ấy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã được đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã gặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã được đoạn diệt, chánh trí, giải thoát.

28. VIII. A-La-Hán hay Phật (2) (S.v,205)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn... ý căn.

3) Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Ta chưa như thật chứng tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn này, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với các thế giới, như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Ta như thật chứng tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn này, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta mới nhận biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với các thế giới, như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

29. IX. Sa-Môn, Bà-La-Môn (1) (S.v,206)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn... ý căn.

3) Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn này; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại, không tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

4) Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn này; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

30. X. Sa-Môn, Bà-La-Môn (2) (S.v,206)

1-2) ...

3) -- Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết nhãn căn, không như thật rõ biết nhãn căn tập khởi, không như thật rõ biết nhãn căn đoạn diệt, không như thật rõ biết con đường đưa đến nhãn căn đoạn diệt... nhĩ căn... tỷ căn... thiệt căn... thân căn... không như thật rõ biết ý căn, không như thật rõ biết ý căn tập khởi, không như thật rõ biết ý căn đoạn diệt, không như thật rõ biết con đường đưa đến ý căn đoạn diệt; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại, không tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

4) Nhưng những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết nhãn căn, như thật rõ biết nhãn căn tập khởi, như thật rõ biết nhãn căn đoạn diệt, như thật rõ biết con đường đưa đến nhãn căn đoạn diệt... nhĩ căn... tỷ căn... thiệt căn... thân căn... như thật rõ biết ý căn, như thật rõ biết ý căn tập khởi, như thật rõ biết ý căn đoạn diệt, như thật rõ biết con đường đưa đến ý căn đoạn diệt; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.