BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, ngày 23  tháng 02, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 48. Tương Ưng Quyền -Phẩm Lạc Căn- SN 48.11 đến SN 48.40 -
Bài 614. KHI CẢM THỌ LÀ CĂN QUYẾN-

.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-614.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Cảm thọ là đề tài lớn trong Phật học và đặc biệt quan trọng đối với hành giả tu tập thiền quán.  Đức Phật không dạy phải ghét lạc hay trốn khổ. Ngài chỉ dạy phải thấy rõ: vị ngọt của chúng, sự nguy hiểm của chúng, và con đường vượt khỏi chúng. Vị ngọt là điều ai cũng biết; sự nguy hiểm là điều ít ai chịu nhìn; còn xuất ly là điều chỉ người thực hành mới kinh nghiệm. Ví dụ hai thanh củi lửa thật đẹp: lửa bùng lên do ma sát, và tắt khi duyên tan. Cảm thọ cũng vậy. Không có xúc, không có thọ. Không có duyên, không có sinh khởi. Khi thấy điều ấy rõ ràng, ta bắt đầu thôi xem cảm giác là bản ngã, thôi xem lạc là hạnh phúc tối hậu, thôi xem khổ là thảm kịch cá nhân.

Bài kinh về “thứ tự không đều” còn đi xa hơn: qua các tầng thiền, từng lớp cảm thọ được lắng dịu. Khổ thân lắng trong sơ thiền. Ưu tâm lắng trong nhị thiền. Lạc thân lắng trong tam thiền. Hỷ tâm lắng trong tứ thiền. Và cuối cùng, ngay cả xả cũng lặng trong diệt thọ tưởng. Con đường thiền định hiện ra như một tiến trình tinh luyện cảm thọ, không phải bằng cưỡng ép, mà bằng hiểu biết và buông bỏ.

Nhưng điều sâu sắc nhất có lẽ nằm ở sự phân biệt giữa bậc nhập lưu và A-la-hán. Bậc nhập lưu hiểu rõ bản chất của cảm thọ; bậc A-la-hán không còn chấp thủ nơi chúng. Hiểu là bước đầu; không dính mắc mới là giải thoát. Vì thế, năm căn thọ không chỉ là phân loại tâm lý. Chúng là nút xoay của đời sống. Và nơi nút xoay ấy, ánh sáng của trí tuệ có thể bừng lên — nếu ta chịu nhìn thẳng vào điều đang được cảm nhận.

Kinh Văn

Kinh Bản Giản Lược

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn. Đó là năm căn.”

Kinh Bậc Nhập Lưu

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.

“Khi nào, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử như thật hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly trong trường hợp của năm căn này, khi ấy vị ấy được gọi là Thánh đệ tử bậc nhập lưu, không còn bị ràng buộc vào đọa xứ, được an trú chắc chắn trong chánh tánh, có giác ngộ làm cứu cánh.”

Kinh A-la-hán

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.

“Khi nào, này các Tỳ khưu, sau khi như thật hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly trong trường hợp của năm căn này, một vị Tỳ khưu được giải thoát do không chấp thủ, khi ấy vị ấy được gọi là Tỳ khưu A-la-hán, vị đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, việc cần làm đã làm xong, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt đến mục tiêu của mình, đã hoàn toàn đoạn tận các kiết sử của hữu, vị được giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí.”

Kinh Sa-môn và Bà-la-môn

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.

“Này các Tỳ khưu, những sa-môn hay bà-la-môn nào không như thật hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly trong trường hợp của năm căn này … thì trong chính đời này không chứng nhập và an trú trong mục tiêu của sa-môn hay mục tiêu của bà-la-môn.

“Nhưng này các Tỳ khưu, những sa-môn và bà-la-môn nào hiểu rõ các điều ấy … thì trong chính đời này chứng nhập và an trú trong mục tiêu của sa-môn và mục tiêu của bà-la-môn.”

Kinh Sa-môn và Bà-la-môn

“Này các Tỳ khưu, những sa-môn hay bà-la-môn nào không hiểu lạc căn, nguồn gốc của nó, sự đoạn diệt của nó và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó; không hiểu hỷ căn … khổ căn … ưu căn … xả căn, nguồn gốc của nó, sự đoạn diệt của nó và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó … thì trong chính đời này không chứng nhập và an trú trong mục tiêu của sa-môn hay mục tiêu của bà-la-môn.

“Nhưng này các Tỳ khưu, những sa-môn và bà-la-môn nào hiểu rõ các điều ấy … thì trong chính đời này chứng nhập và an trú trong mục tiêu của sa-môn và mục tiêu của bà-la-môn.”

Kinh Phân Tích

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là lạc căn? Bất cứ lạc thọ nào thuộc về thân, bất cứ sự dễ chịu nào thuộc về thân, cảm thọ dễ chịu khả ý do thân xúc sanh; này các Tỳ khưu, đó được gọi là lạc căn.

“Và thế nào là khổ căn? Bất cứ khổ thọ nào thuộc về thân, bất cứ sự khó chịu nào thuộc về thân, cảm thọ khó chịu do thân xúc sanh; này các Tỳ khưu, đó được gọi là khổ căn.

“Và thế nào là hỷ căn? Bất cứ lạc thọ nào thuộc về tâm, bất cứ sự dễ chịu nào thuộc về tâm, cảm thọ dễ chịu khả ý do ý xúc sanh; này các Tỳ khưu, đó được gọi là hỷ căn.

“Và thế nào là ưu căn? Bất cứ khổ thọ nào thuộc về tâm, bất cứ sự khó chịu nào thuộc về tâm, cảm thọ khó chịu do ý xúc sanh; này các Tỳ khưu, đó được gọi là ưu căn.

“Và thế nào là xả căn? Bất cứ cảm thọ nào, dù thuộc thân hay tâm, không dễ chịu cũng không khó chịu; này các Tỳ khưu, đó được gọi là xả căn.212

“Này các Tỳ khưu, đó là năm căn.”

Kinh Phân Tích II

Như bài kinh trước, bỏ câu cuối và thêm:

“Này các Tỳ khưu, ở đây lạc căn và hỷ căn nên được thấy là lạc thọ. Khổ căn và ưu căn nên được thấy là khổ thọ. Xả căn nên được thấy là thọ không khổ không lạc.

“Này các Tỳ khưu, đó là năm căn.”

Kinh Phân Tích III

Như bài trước, nhưng hai đoạn cuối như sau:

“Này các Tỳ khưu, ở đây lạc căn và hỷ căn nên được thấy là lạc thọ. Khổ căn và ưu căn nên được thấy là khổ thọ. Xả căn nên được thấy là thọ không khổ không lạc.

“Như vậy, này các Tỳ khưu, theo phương pháp trình bày, năm căn này, khi là năm thì trở thành ba; khi là ba thì trở thành năm.”

Kinh Ví dụ hai thanh củi lửa

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.

“Do duyên xúc được cảm thọ là dễ chịu, này các Tỳ khưu, lạc căn sanh khởi. Khi đang ở trong trạng thái lạc, người ấy biết: ‘Tôi đang ở trong trạng thái lạc.’ Người ấy biết: ‘Khi xúc được cảm thọ là dễ chịu ấy chấm dứt, cảm thọ tương ứng — tức lạc căn sanh khởi do xúc ấy — cũng chấm dứt và lắng dịu.’

“Do duyên xúc được cảm thọ là đau đớn … khổ căn sanh khởi …

“Do duyên xúc được cảm thọ là hỷ … hỷ căn sanh khởi …

“Do duyên xúc được cảm thọ là ưu … ưu căn sanh khởi …

“Do duyên xúc được cảm thọ là xả … xả căn sanh khởi… Người ấy biết: ‘Khi xúc được cảm thọ là xả ấy chấm dứt, cảm thọ tương ứng … cũng chấm dứt và lắng dịu.’

“Này các Tỳ khưu, cũng như nhiệt được phát sinh và lửa được tạo ra do sự cọ xát của hai thanh củi, nhưng khi hai thanh củi được tách rời và đặt sang một bên thì nhiệt phát sinh ấy chấm dứt và lắng dịu; cũng vậy, do duyên xúc được cảm thọ là dễ chịu … đau đớn … hỷ … ưu … xả, xả căn sanh khởi… Người ấy biết: ‘Khi xúc ấy chấm dứt, cảm thọ tương ứng … cũng chấm dứt và lắng dịu.’”

Kinh Thứ Tự Không Đều

“Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Năm nào? Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.

(i) Khổ căn

“Ở đây, này các Tỳ khưu, khi một vị Tỳ khưu sống tinh cần, nhiệt tâm và kiên quyết, nơi vị ấy khổ căn sanh khởi. Vị ấy hiểu như sau: ‘Khổ căn này đã sanh nơi tôi. Nó có nền tảng, có nguồn gốc, có sự tạo tác nhân duyên, có điều kiện. Không thể nào khổ căn này sanh mà không có nền tảng, không có nguồn gốc, không có sự tạo tác nhân duyên, không có điều kiện.’ Vị ấy hiểu khổ căn, hiểu nguồn gốc của khổ căn, hiểu sự đoạn diệt của khổ căn, và hiểu nơi khổ căn đã sanh ấy chấm dứt không còn dư sót.

“Và khổ căn đã sanh ấy chấm dứt không còn dư sót ở đâu? Ở đây, này các Tỳ khưu, ly dục, ly các pháp bất thiện, vị Tỳ khưu chứng và trú thiền thứ nhất … Và chính ở đây khổ căn đã sanh ấy chấm dứt không còn dư sót.

“Đó được gọi là vị Tỳ khưu đã hiểu sự đoạn diệt của khổ căn. Vị ấy hướng tâm theo đó.”

(ii) Ưu căn

“… Với sự diệt tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai … Và chính ở đây ưu căn đã sanh ấy chấm dứt không còn dư sót.

“Đó được gọi là vị Tỳ khưu đã hiểu sự đoạn diệt của ưu căn…”

(iii) Lạc căn

“… Với sự ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm tỉnh giác, cảm thọ lạc với thân; chứng và trú thiền thứ ba … Và chính ở đây lạc căn đã sanh ấy chấm dứt không còn dư sót.”

(iv) Hỷ căn

“… Với sự xả lạc và khổ, và với sự diệt trước đó của hỷ và ưu, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư … Và chính ở đây hỷ căn đã sanh ấy chấm dứt không còn dư sót.”

(v) Xả căn

“… Sau khi hoàn toàn vượt qua xứ phi tưởng phi phi tưởng, vị ấy chứng và trú trong diệt thọ tưởng. Và chính ở đây xả căn đã sanh ấy chấm dứt không còn dư sót.

“Đó được gọi là vị Tỳ khưu đã hiểu sự đoạn diệt của xả căn. Vị ấy hướng tâm theo đó.”

Chú thích

Chữ indriya có thể dịch là  “Căn” hay “Quyền”. Ở đây tiếp tục giữ chữ “căn” để nhất quán với những bài kinh trước.

Nên lưu ý những bản liệt kê về indriya vốn rất đa dạng mà những liệt kê về cảm thọ cũng vậy.

Những con số dưới đây là đánh số bài kinh trong chương nầy.

31. Bản giản lược

Bài này chỉ nêu danh mục năm căn: lạc (thân lạc), khổ (thân khổ), hỷ (tâm lạc), ưu (tâm khổ), xả (thọ trung tính).

Ở đây “căn” (indriya) mang nghĩa yếu tố chi phối kinh nghiệm cảm thọ. Năm căn này tương ứng với hệ thống phân loại ngũ thọ trong Thắng Pháp, nhưng được trình bày trong ngữ cảnh thiền quán.

32. Bậc Nhập Lưu

Điểm trọng tâm: phải như thật biết vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn thọ.

Điều này đặt năm thọ vào cùng khuôn phân tích đã dùng cho ngũ uẩn và lục căn. Một người đạt nhập lưu không còn chấp thủ cảm thọ như tự ngã hay cứu cánh hạnh phúc.

33. A-la-hán

Khác biệt giữa nhập lưu và A-la-hán ở đây là:

  • Nhập lưu: hiểu rõ ba phương diện.
  • A-la-hán: hiểu rõ và giải thoát do không chấp thủ (anupādāya vimutta).

Như vậy, cảm thọ không còn là nền cho ái và hữu.

34–35. Sa-môn và Bà-la-môn

Hai bài này nhấn mạnh tính chuẩn mực:

  • Ai không hiểu cảm thọ theo tiến trình sanh – diệt – đạo lộ đoạn diệt thì không đạt mục tiêu phạm hạnh.
  • Cảm thọ trở thành điểm kiểm tra chân thực của tu tập.

Đặc biệt, bài 35 liên kết năm căn thọ với cấu trúc Tứ Thánh Đế:

  • Có nguồn gốc (samudaya),
  • Có đoạn diệt (nirodha),
  • Có con đường đưa đến đoạn diệt (magga).

36. Phân tích I

Đây là định nghĩa kỹ thuật:

  • Lạc & khổ: thuộc thân xúc.
  • Hỷ & ưu: thuộc ý xúc.
  • Xả: không khổ không lạc, thân hay tâm.

Sự phân biệt thân–tâm ở đây làm rõ cấu trúc kinh nghiệm:
thân lạc không đồng nghĩa với hỷ tâm, dù cả hai đều thuộc loại “dễ chịu”.

37. Phân tích II

Bài này gom năm căn thành ba loại thọ:

1.    Lạc thọ (bao gồm lạc & hỷ)

2.    Khổ thọ (bao gồm khổ & ưu)

3.    Thọ không khổ không lạc (xả)

Đây là phương pháp phân loại theo tính chất cảm thọ, không theo căn vật lý.

38. Phân tích III

Câu:“Năm thành ba, ba thành năm” Chỉ ra tính linh hoạt của hệ thống phân loại Phật giáo.

  • Ở bình diện chi tiết → năm.
  • Ở bình diện tổng quát → ba.

Điều này cho thấy giáo pháp không cứng nhắc, mà tùy mục đích phân tích.

39. Ví dụ hai thanh củi lửa

Ví dụ củi lửa minh họa tính duyên sinh của cảm thọ:

  • Cảm thọ phát sinh do xúc (phassa).
  • Khi xúc chấm dứt, thọ cũng chấm dứt.

Điểm chính: cảm thọ không tự tồn tại; nó phụ thuộc điều kiện như lửa phụ thuộc ma sát.

Đây là nền tảng cho quán vô thường và đoạn trừ ái.

40. Thứ tự không đều

Bài này trình bày năm căn theo một trình tự thiền định:

  • Khổ căn → chấm dứt ở thiền thứ nhất
  • Ưu căn → chấm dứt ở thiền thứ hai
  • Lạc căn → chấm dứt ở thiền thứ ba
  • Hỷ căn → chấm dứt ở thiền thứ tư
  • Xả căn → chấm dứt ở diệt thọ tưởng

Điều này cho thấy:

1.    Các tầng thiền là tiến trình thanh lọc dần cảm thọ.

2.    Diệt thọ tưởng là đỉnh điểm, nơi mọi thọ hoàn toàn lắng dịu.

Đây là một trong những đoạn kinh quan trọng nhất để hiểu mối liên hệ giữa thiền định và sự đoạn tận cảm thọ.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

IV. Phẩm Lạc Căn

31. I. Thanh Tịnh (S.v,207)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.

3) Những pháp này,này các Tỷ-kheo, là năm căn.

32. II. Dòng Nước (S.v,207)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn... xả căn.

3) Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi năm căn này; vị Thánh đệ tử ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết định đạt đến Chánh Ðẳng Giác.

33. III. A-La-Hán (S.v,208)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.

3) Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sau khi như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi năm căn này, được giải thoát không có chấp thủ; khi ấy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã được đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã được đoạn tận, chánh trí, giải thoát.

34. IV. Sa-Môn, Bà-La-Môn (1) (S.v,208)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn... xả căn.

3) Vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi năm căn này; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, không tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

4) Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi năm căn này; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, được chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay được chấp nhận là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

35. V. Sa-Môn, Bà-La-Môn (2) (S.v,208)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn... xả căn.

3) Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không rõ biết lạc căn, không rõ biết lạc căn tập khởi, không rõ biết lạc căn đoạn diệt, không rõ biết con đường đưa đến lạc căn đoạn diệt... không rõ biết xả căn, không rõ biết xả căn tập khởi, không rõ biết xả căn đoạn diệt, không rõ biết con đường đưa đến xả căn đoạn diệt; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, không tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

4) Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, rõ biết lạc căn, rõ biết lạc căn tập khởi, rõ biết lạc căn đoạn diệt, rõ biết con đường đưa đến lạc căn đoạn diệt... rõ biết xả căn, rõ biết xả căn tập khởi, rõ biết xả căn đoạn diệt, rõ biết con đường đưa đến xả căn đoạn diệt; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay được chấp nhận là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

36. VI. Phân Tích (1) (S.v,209)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn... xả căn.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc căn? Này các Tỷ-kheo, cái gì lạc thuộc về thân, cái gì thích thú thuộc về thân, cái gì lạc do thân xúc sanh, cái gì thích thú được cảm thọ; này các Tỷ-kheo, đây được gọi là lạc căn.

4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ căn? Này các Tỷ-kheo, cái gì khổ thuộc về thân, cái gì không thích thú thuộc về thân, cái gì khổ do thân xúc sanh, cái gì không thích thú được cảm thọ; này các Tỷ-kheo, đây được gọi là khổ căn.

5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hỷ căn (somanassa)? Này các Tỷ-kheo, cái gì lạc thuộc về tâm, cái gì thích thú thuộc về tâm, cái gì lạc do ý xúc sanh, cái gì thích thú được cảm thọ; này các Tỷ-kheo, đây được gọi là hỷ căn.

6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ưu căn? Này các Tỷ-kheo, cái gì khổ thuộc về tâm, cái gì không thích thú thuộc về tâm, cái gì khổ do ý xúc sanh, cái gì không thích thú được cảm thọ; này các Tỷ-kheo, đây được gọi là ưu căn.

7) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả căn? Này các Tỷ-kheo, cái gì không thích thú và không không thích thú thuộc về thân hay thuộc về tâm được cảm thọ; này các Tỷ-kheo, đây được gọi là xả căn.

8) Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

37. VII. Phân Tích (2) (S.v,209)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn... xả căn.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc căn?... (Như số 3, kinh trước).

4-7). .. (Như số 4 đến 7 của kinh trước) ...

8) Ở đây, này các Tỷ-kheo, cái gì thuộc lạc căn và cái gì thuộc hỷ căn, cần phải xem là lạc thọ. Ở đây, này các Tỷ-kheo, cái gì thuộc về khổ căn, và cái gì thuộc ưu căn, cần phải xem là khổ thọ. Ở đây, cái gì thuộc xả căn, cần phải xem là bất khổ bất lạc thọ.

9) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

38. VIII. Phân Tích (3) (S.v,210)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn... xả căn.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc căn?... (như trên) ...

4-8) ...(như trên) ...

9) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các căn này, trước năm sau trở thành ba, trước ba sau trở thành năm, tùy theo pháp môn.

 39. IX. Cây Quay Ra Lửa (Arani) (S.v,211)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.

3) Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc được cảm thọ là lạc, khởi lên lạc căn. Khi cảm thọ là lạc, người ấy rõ biết: "Tôi cảm giác lạc thọ". Do đoạn diệt xúc được người ấy cảm thọ là lạc ấy, lạc căn được khởi lên do duyên với xúc thích ứng (tajjam) được cảm thọ là lạc, người ấy rõ biết lạc căn ấy diệt, được tịnh chỉ.

4) Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc được cảm thọ là khổ, khởi lên khổ căn. Khi cảm thọ là khổ, người ấy rõ biết: "Tôi cảm giác khổ thọ". Do đoạn diệt xúc được người ấy cảm thọ là khổ ấy, khổ căn được khởi lên do duyên với xúc thích ứng được cảm thọ là khổ, người ấy rõ biết khổ căn ấy diệt, được tịnh chỉ.

5) Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc được cảm thọ là hỷ, khởi lên hỷ căn. Khi cảm thọ là hỷ, người ấy rõ biết: "Tôi cảm giác hỷ". Do đoạn diệt xúc được người ấy cảm thọ là hỷ ấy, hỷ căn được khởi lên do duyên với xúc thích ứng được cảm thọ là hỷ, người ấy rõ biết hỷ căn ấy diệt, được tịnh chỉ.

6) Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc được cảm thọ là ưu, khởi lên ưu căn. Khi cảm thọ là ưu, người ấy rõ biết: "Tôi cảm giác ưu thọ". Do đoạn diệt xúc được người ấy cảm thọ là ưu ấy, ưu căn được khởi lên do duyên với xúc thích ứng được cảm thọ là ưu, người ấy rõ biết ưu căn ấy diệt, được tịnh chỉ.

7) Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc được cảm thọ là xả, khởi lên xả căn. Khi cảm thọ là xả, người ấy rõ biết: "Tôi cảm giác xả thọ". Do đoạn diệt xúc được người ấy cảm thọ là xả ấy, xả căn được khởi lên do duyên với xúc thích ứng được cảm thọ là xả, người ấy rõ biết xả căn ấy diệt, được tịnh chỉ.

8) Ví như, này các Tỷ-kheo, sự xúc chạm và sự cọ xát hai thanh củi, sức nóng sanh khởi, lửa được hiện hữu. Khi hai thanh củi ấy được tách rời, được ly khai, sức nóng thích ứng ấy được đoạn diệt, được tịnh chỉ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên xúc được cảm thọ là lạc, khởi lên lạc căn. Khi cảm thọ là lạc, người ấy rõ biết: "Tôi cảm giác lạc thọ". Do đoạn diệt xúc được người ấy cảm thọ là lạc ấy, lạc căn được khởi lên do duyên với xúc thích ứng được cảm thọ là lạc, người ấy rõ biết lạc căn ấy diệt, được tịnh chỉ. Do duyên xúc được cảm thọ là khổ, khởi lên khổ căn... Do duyên xúc được cảm thọ là hỷ, khởi lên hỷ căn... Do duyên xúc được cảm thọ là ưu, khởi lên ưu căn... Do duyên xúc được cảm thọ là xả, khởi lên xả căn. Khi cảm thọ là xả, người ấy rõ biết: "Tôi cảm giác xả thọ". Do đoạn diệt xúc được người ấy cảm thọ là xả ấy, xả căn được khởi lên do duyên với xúc thích ứng được cảm thọ là xả, người ấy rõ biết xả căn ấy diệt, được tịnh chỉ.

40. X. Sanh (S.v,213)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Khổ căn, ưu căn, lạc căn, hỷ căn, xả căn.

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên khổ căn, vị ấy rõ biết như vầy: "Khổ căn này khởi lên nơi ta". Và khổ căn ấy có tướng, có nhân, có hành, có duyên. Và khổ căn ấy không tướng, không nhân, không hành, không duyên sẽ khởi lên; sự kiện như vậy không xảy ra. Và vị ấy rõ biết khổ căn, rõ biết khổ căn tập khởi, rõ biết khổ căn đoạn diệt. Từ chỗ nào, khổ căn khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết khổ căn ấy. Và tại chỗ nào khổ căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Ở đây, khổ căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của khổ căn, tập trung tâm (upasamhàsi) để đạt tới điều kiện ấy.

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên ưu căn, vị ấy rõ biết như vầy: "Trong ta khởi lên ưu căn này". Và ưu căn ấy có tướng, có nhân, có hành, có duyên. Và ưu căn ấy có thể khởi lên, không tướng, không nhân, không hành, không duyên; sự kiện như vậy không xảy ra. Và vị ấy rõ biết ưu căn, rõ biết ưu căn tập khởi, rõ biết ưu căn đoạn diệt. Từ chỗ nào, ưu căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết ưu căn ấy. Và tại chỗ nào ưu căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhứt tâm. Và ở đây, ưu căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của ưu căn, tập trung tâm để đạt tới điều kiện ấy.

5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên lạc căn; vị ấy rõ biết như vầy: "Lạc căn này khởi lên nơi ta". Lạc căn ấy có tướng, có nhân, có hành, có duyên. Và lạc căn ấy không tướng, không nhân, không hành, không duyên có thể khởi lên; sự kiện như vậy không xảy ra. Và vị ấy rõ biết lạc căn, rõ biết lạc căn tập khởi, rõ biết lạc căn đoạn diệt. Từ chỗ nào, lạc căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết lạc căn ấy. Và tại chỗ nào lạc căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Ở đây, lạc căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của lạc căn, tập trung tâm để đạt tới điều kiện ấy.

6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên hỷ căn; vị ấy rõ biết như sau: "Hỷ căn này khởi lên nơi ta". Và hỷ căn ấy có tướng, có nhân, có hành, có duyên. Và hỷ căn ấy không tướng, không nhân, không hành, không duyên có thể khởi lên; sự kiện như vậy không xảy ra. Vị ấy rõ biết hỷ căn, rõ biết hỷ căn tập khởi, rõ biết hỷ căn đoạn diệt. Từ chỗ nào khởi lên, hỷ căn được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết hỷ căn ấy. Và tại chỗ nào hỷ căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Ở đây, hỷ căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của hỷ căn, tập trung tâm để đạt tới điều kiện ấy.

7) Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên xả căn, vị ấy rõ biết như sau: "Xả căn này khởi lên nơi ta". Và xả căn ấy có tướng, có nhân, có hành, có duyên. Và xả căn ấy không tướng, không nhân, không hành, không duyên có thể khởi lên; sự kiện như vậy không xảy ra. Vị ấy rõ biết xả căn, rõ biết xả căn tập khởi, rõ biết xả căn đoạn diệt. Từ chỗ nào khởi lên, xả căn được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết xả căn ấy. Và tại chỗ nào xả căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vượt qua một cách hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định. Ở đây, xả căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của xả căn, tập trung tâm để đạt tới điều kiện ấy.