BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 25  tháng 02, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 48. Tương Ưng Quyền -Phẩm Tuổi Già- SN 48.42 -
Bài 616. HÀNH TRÌNH CHUYỂN HOÁ CỦA HÀNH GIẢ -

Kinh Bà-la-môn Uṇṇābha (Uṇṇābhabrāhmaṇasuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-616.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Bài kinh về bà-la-môn Uṇṇābha mở ra một cái nhìn rất tinh tế về đời sống nội tâm của con người. Năm căn — mắt, tai, mũi, lưỡi, thân — mỗi căn chỉ hoạt động trong phạm vi riêng của mình, không thể thay thế hay xâm nhập vào cảnh giới của nhau. Điều ấy cho thấy cấu trúc nhận thức của con người vốn phân minh, có giới hạn. Nhưng chính ở đây, Đức Phật không dừng lại ở sinh lý nhận thức, mà dẫn người nghe đi sâu hơn vào bản chất của phản ứng tâm lý.

Ngũ quan chỉ đơn thuần “biết” đối tượng: thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe. Không có tham, không có sân, không có si trong khoảnh khắc thuần túy ấy. Sự ràng buộc thật sự không nằm ở giác quan, mà nằm ở tâm tốc hành — nơi khởi sinh ưa thích, bực bội, mê lầm. Như vậy, vấn đề không phải là thế giới bên ngoài, mà là cách tâm ta tiếp nhận thế giới.

Khi Đức Phật dạy rằng năm căn nương nơi ý, ý nương nơi niệm, niệm nương nơi giải thoát, và giải thoát hướng về Niết-bàn, Ngài đang chỉ ra một trục chuyển hóa. Từ nhận thức cảm quan, con người có thể đi lên đến tự do tuyệt đối. Con đường ấy không cắt bỏ giác quan, mà thanh lọc phản ứng. Không phải đóng cửa thế giới, mà là tỉnh thức trước thế giới.

Câu hỏi “Niết-bàn nương vào đâu?” bị Đức Phật dừng lại đúng lúc. Bởi Niết-bàn không thuộc chuỗi nhân duyên. Hỏi như thế là đem logic của hữu vi áp đặt lên vô vi. Niết-bàn không cần chỗ nương, vì chính nó là cứu cánh, là điểm dừng cuối cùng của mọi tìm kiếm.

Bài kinh vì thế không chỉ là một phân tích tâm lý học Phật giáo, mà là một bản đồ tu tập. Nó nhắc ta rằng tự do không nằm ở việc kiểm soát hoàn cảnh, mà ở chỗ hiểu rõ tiến trình tâm. Khi niệm vững chắc, javana được chuyển hóa; khi javana thanh tịnh, giải thoát hiển lộ; khi giải thoát thành tựu, Niết-bàn là chân trời tối hậu. Đó là hành trình từ thấy nghe đơn thuần đến an nhiên phi phàm

Kinh Văn

512. sāvatthinidānaṃ. atha kho uṇṇābho brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṃ sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho uṇṇābho brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca —
“pañcimāni, bho gotama, indriyāni nānāvisayāni nānāgocarāni, na aññamaññassa gocaravisayaṃ paccanubhonti. katamāni pañca? cakkhundriyaṃ, sotindriyaṃ, ghānindriyaṃ, jivhindriyaṃ, kāyindriyaṃ. imesaṃ nu kho, bho gotama, pañcannaṃ indriyānaṃ nānāvisayānaṃ nānāgocarānaṃ na aññamaññassa gocaravisayaṃ paccanubhontānaṃ kiṃ paṭisaraṇaṃ, ko ca nesaṃ gocaravisayaṃ paccanubhotī”ti?
“pañcimāni, brāhmaṇa, indriyāni nānāvisayāni nānāgocarāni na aññamaññassa gocaravisayaṃ paccanubhonti. katamāni pañca? cakkhundriyaṃ, sotindriyaṃ, ghānindriyaṃ, jivhindriyaṃ, kāyindriyaṃ. imesaṃ kho, brāhmaṇa, pañcannaṃ indriyānaṃ nānāvisayānaṃ nānāgocarānaṃ na aññamaññassa gocaravisayaṃ paccanubhontānaṃ mano paṭisaraṇaṃ, manova nesaṃ gocaravisayaṃ paccanubhotī”ti.
“manassa pana, bho gotama, kiṃ paṭisaraṇan”ti? “manassa kho, brāhmaṇa, sati paṭisaraṇan”ti. “satiyā pana, bho gotama, kiṃ paṭisaraṇan”ti? “satiyā kho, brāhmaṇa, vimutti paṭisaraṇan”ti. “vimuttiyā pana, bho gotama, kiṃ paṭisaraṇan”ti? “vimuttiyā kho, brāhmaṇa, nibbānaṃ paṭisaraṇan”ti. “nibbānassa pana, bho gotama, kiṃ paṭisaraṇan”ti? “accayāsi {accasarā (sī. syā. kaṃ.), ajjhaparaṃ (pī. ka.)}, brāhmaṇa, pañhaṃ, nāsakkhi pañhassa pariyantaṃ gahetuṃ. nibbānogadhañhi, brāhmaṇa, brahmacariyaṃ vussati nibbānaparāyaṇaṃ nibbānapariyosānan”ti.
atha kho uṇṇābho brāhmaṇo bhagavato bhāsitaṃ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā pakkāmi.
atha kho bhagavā acirapakkante uṇṇābhe brāhmaṇe bhikkhū āmantesi — “seyyathāpi, bhikkhave, kūṭāgāre vā kūṭāgārasālāyaṃ vā {rasmiyo (syā. ka.)} pācīnavātapānā sūriye uggacchante vātapānena rasmi {kūṭāgāraṃ vā kūṭāgārasālaṃ vā uttarāya (ka. sī.)} pavisitvā kvāssa {kāya (syā. ka.)} patiṭṭhitā”ti? “pacchimāyaṃ, bhante, bhittiyan”ti. “evameva kho, bhikkhave, uṇṇābhassa brāhmaṇassa tathāgate saddhā niviṭṭhā mūlajātā patiṭṭhitā daḷhā asaṃhāriyā samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṃ. imamhi ce, bhikkhave, samaye uṇṇābho brāhmaṇo kālaṅkareyya, natthi saṃyojanaṃ yena saṃyojanena saṃyutto uṇṇābho brāhmaṇo puna imaṃ lokaṃ āgaccheyyā”ti. dutiyaṃ.

Nhân duyên tại Sāvatthī.

Bấy giờ, bà-la-môn Uṇṇābha đến gặp Thế Tôn và trao đổi lời chào hỏi với Ngài. Sau khi đã kết thúc những lời chào hỏi và chuyện trò thân thiện, ông ngồi xuống một bên và thưa với Thế Tôn:

“Thưa Tôn giả Gotama, năm căn này có cảnh giới riêng biệt, có phạm vi hoạt động riêng biệt; chúng không kinh nghiệm cảnh giới và phạm vi của nhau. Năm căn nào? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

Nay, thưa Tôn giả Gotama, vì năm căn này có cảnh giới riêng biệt, có phạm vi hoạt động riêng biệt, và không kinh nghiệm cảnh giới và phạm vi của nhau, vậy chúng nương tựa vào điều gì? Và cái gì kinh nghiệm cảnh giới và phạm vi của chúng?”

“Thưa bà-la-môn, năm căn này có cảnh giới riêng biệt, có phạm vi hoạt động riêng biệt; chúng không kinh nghiệm cảnh giới và phạm vi của nhau. Năm căn nào? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

Này bà-la-môn, năm căn này có cảnh giới riêng biệt, có phạm vi hoạt động riêng biệt, không kinh nghiệm cảnh giới và phạm vi của nhau — chúng nương tựa nơi ý; và chính ý là cảnh giới trải nghiệm và phạm vi của chúng.”

“Nhưng thưa Tôn giả Gotama, vậy ý nương tựa vào điều gì?”

“Này bà-la-môn, ý nương tựa nơi niệm.”

“Nhưng thưa Tôn giả Gotama, niệm nương tựa vào điều gì?”

“Này bà-la-môn, niệm nương tựa nơi giải thoát.”

“Nhưng thưa Tôn giả Gotama, giải thoát nương tựa vào điều gì?”

“Này bà-la-môn, giải thoát nương tựa nơi Niết-bàn.”

“Nhưng thưa Tôn giả Gotama, Niết-bàn nương tựa vào điều gì?”

“Này bà-la-môn, ông đã đi quá giới hạn của câu hỏi. Ông không thể nắm bắt được ranh giới của sự chất vấn. Vì, này bà-la-môn, đời sống phạm hạnh được sống với Niết-bàn làm nền tảng, Niết-bàn làm đích đến, Niết-bàn làm cứu cánh tối hậu.”

Rồi bà-la-môn Uṇṇābha, sau khi hoan hỷ và tán thán lời dạy của Thế Tôn, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Thế Tôn và ra đi, giữ Ngài về phía hữu.

Không bao lâu sau khi bà-la-môn Uṇṇābha ra đi, Thế Tôn bảo các Tỳ khưu:

“Này các Tỳ khưu, ví như trong một căn nhà hay hội trường có mái nhọn, đối diện với một cửa sổ quay về hướng đông, khi mặt trời mọc. Khi ánh sáng chiếu qua cửa sổ ấy, nó sẽ rọi vào đâu?”

“Bạch Thế Tôn, vào bức tường phía tây.”

“Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bà-la-môn Uṇṇābha đã đạt được lòng tin nơi Như Lai — một lòng tin đã an trú, bén rễ sâu, được thiết lập vững chắc, kiên cố. Không một sa-môn hay bà-la-môn nào, hay chư thiên, hay Ma vương, hay Phạm thiên, hay bất cứ ai trên đời có thể làm lay chuyển được.

Nếu vào lúc này bà-la-môn Uṇṇābha qua đời, thì không còn một kiết sử nào trói buộc để ông có thể trở lại thế gian này nữa.”

Chú Thích

Có rất ít tư liệu về bà-la-môn Uṇṇābha trong Tam Tạng ngoài bài kinh nầy.

Bài kinh đề cập về chuỗi nương tựa:

Năm căn → Ý → Niệm → Giải thoát → Niết-bàn

Đây là một cấu trúc tăng tiến từ sinh lý nhận thức đến cứu cánh giải thoát.

  • Năm căn (pañcindriya)
  • Vai trò của ý (mano)
  • Vai trò của niệm (sati)
  • Giải thoát (vimutti)
  • Niết-bàn (Nibbāna)

 “Năm căn có cảnh giới riêng”

Gocaravisaya

  • Gocara = phạm vi hoạt động
  • Visaya = đối tượng

Mỗi căn chỉ hoạt động trong phạm vi riêng của mình. Sớ        giải nhấn mạnh:

Nhãn không thể nghe. Nhĩ không thể thấy.Không căn nào xâm nhập được cảnh giới của căn khác.Điều này khẳng định nguyên lý:

Tính biệt lập của căn trong tiến trình tâm.

Vai trò của Ý (Mano)

Khi Đức Phật nói:“Chúng nương tựa nơi ý” Sớ giải chú  thích:Ở đây ý = javana-mano (tâm xử lý hay đổng lực)

Trong tiến trình tâm:

1.    Ngũ quan (cakkhuviññāṇa v.v.) chỉ là nhận biết thuần túy

2.    Không có:

o    Tham

o    Sân

o    Si

Chỉ đến giai đoạn javana:

  • Mới có thiện / bất thiện
  • Mới có tham ái
  • Mới có phản ứng tâm lý

Vì vậy năm thức chỉ “thấy – nghe – ngửi – nếm – chạm”
Chính javana mới “thích – ghét – mê” Đây là điểm cốt lõi của bài kinh.

Sớ Giải

512. dutiye gocaravisayanti gocarabhūtaṃ visayaṃ. aññamaññassāti cakkhu sotassa, sotaṃ vā cakkhussāti evaṃ ekaṃ ekassa gocaravisayaṃ na paccanubhoti. sace hi nīlādibhedaṃ rūpārammaṇaṃ samodhānetvā sotindriyassa upaneyya — “iṅgha tvaṃ tāva naṃ vavatthapehi vibhāvehi ‘kinnāmetaṃ ārammaṇan’”ti. cakkhuviññāṇaṃ vināpi mukhena attano dhammatāya evaṃ vadeyya — “are, andhabāla, vassasatampi vassasahassampi vassasatasahassampi paridhāvamāno aññatra mayā kuhiṃ etassa jānanakaṃ labhissasi, taṃ āhara, cakkhupasāde upanehi, ahametaṃ ārammaṇaṃ jānissāmi — yadi vā nīlaṃ, yadi vā pītakaṃ. na hi eso aññassa visayo, mayhameveso visayo”ti. sesadvāresupi eseva nayo. evametāni aññamaññassa gocaravisayaṃ na paccanubhonti nāma.
kiṃ paṭisaraṇanti etesaṃ kiṃ paṭisaraṇaṃ, kiṃ etāni paṭisarantīti pucchati. mano paṭisaraṇanti javanamano paṭisaraṇaṃ. manova nesanti manodvārikajavanamanova etesaṃ gocaravisayaṃ rajjanādivasena anubhoti. cakkhuviññāṇañhi rūpadassanamattameva, ettha rajjanaṃ vā dussanaṃ vā muyhanaṃ vā natthi. ekasmiṃ pana dvāre javanaṃ rajjati vā dussati vā asirena ekasmiṃ pañcakulike gāme parittakaṃ āyaṃ labhiṃsu. tesaṃ tattha macchabhāgo maṃsabhāgo, addukahāpaṇo vā yottakahāpaṇo vā māsakahāpaṇo vā aṭṭhakahāpaṇo vā soḷasakahāpaṇo vā catusaṭṭhikahāpaṇo vā daṇḍoti ettakamattameva pāpuṇāti, satavatthukaṃ pañcasatavatthukaṃ sahassavatthukaṃ mahābaliṃ rājāva gaṇhāti.
tattha pañcakulikagāmā viya pañcapasādā daṭṭhabbā, pañca dubbalabhojakā viya pañcaviññāṇāni; rājā viya javanaṃ, dubbalabhojakānaṃ parittakāayapāpuṇanaṃ viya cakkhuviññāṇādīnaṃ rūpadassanādimattaṃ, rajjanādi pana etesu natthi. rañño mahābaliggahaṇaṃ viya tesu dvāresu javanassa rajjanādīni veditabbāni. evamettha manoti kusalākusalajavanaṃ vuttaṃ.
sati paṭisaraṇanti maggasati paṭisaraṇaṃ. javanamano hi i ce, bhikkhave, samayeti kiṃ sandhāyāha? jhānānāgāmitaṃ. tasmiñhi samaye brāhmaṇassa paṭhamamaggena pañca akusalacittāni pahīnāni, paṭhamajjhānena pañca nīvaraṇānīti jhānānāgāmiṭṭhāne ṭhito. so aparihīnajjhāno kālaṃ katvā tattheva parinibbāyeyya. sace panassa puttadāraṃ anusāsantassa kammante vicārentassa jhānaṃ nassati, naṭṭhe jhāne gati anibaddhā hoti, anaṭṭhe pana nibaddhāti imaṃ jhānānāgāmitaṃ sandhāya evamāha.

512. Ở bài kinh thứ hai

“Gocaravisaya” nghĩa là cảnh giới thuộc phạm vi hoạt động của mỗi căn.

“Của nhau” nghĩa là: mắt không kinh nghiệm cảnh giới của tai, và tai cũng không kinh nghiệm cảnh giới của mắt; như vậy, mỗi căn không thể kinh nghiệm cảnh giới của căn khác.

Giả sử đem một đối tượng sắc, như màu xanh v.v…, gom lại rồi đưa đến cho nhĩ căn và nói: “Này, ngươi hãy phân biệt và xác định xem đây là đối tượng gì.”

Không cần đến nhãn thức, tự bản chất của nó, miệng như thể sẽ nói:

“Ôi kẻ ngu mù kia! Dù ngươi có chạy quanh suốt trăm năm, ngàn năm hay trăm ngàn năm, ngoài ta ra, ngươi sẽ tìm đâu được kẻ biết đối tượng này? Hãy đem nó lại đây, đặt nơi nhãn tịnh sắc; ta sẽ biết đối tượng này — hoặc là xanh, hoặc là vàng. Đây không phải cảnh giới của căn khác; đây chính là cảnh giới của ta.”

Ở các cửa còn lại cũng theo cùng một nguyên tắc như vậy.

Như thế, các căn này không kinh nghiệm cảnh giới của nhau.

“Chúng nương tựa vào điều gì?” — câu hỏi này có nghĩa: “Chúng nương tựa vào cái gì? Điều gì là chỗ nương tựa của chúng?”

“Ý là chỗ nương tựa” — ở đây, ý được nói đến là javana-mano (tâm xử lý hay đổng lực).

“Chính ý của chúng” — chính là tâm xử lý thuộc cửa ý, kinh nghiệm cảnh giới của các căn này qua sự tham ái, sân hận, hay si mê.

Vì nhãn thức chỉ đơn thuần là sự thấy sắc; trong đó không có tham, không có sân, không có si.

Nhưng nơi một cửa nào đó, khi tâm tốc hành khởi lên thì có thể tham, có thể sân, có thể si.

Đối với nhĩ thức v.v… cũng theo cùng nguyên tắc ấy.

Ở đây có ví dụ:

Có năm người ăn uống nghèo nàn phục vụ nhà vua; họ vất vả lắm mới kiếm được một ít lợi tức nhỏ trong một ngôi làng gồm năm hộ.

Phần họ nhận được chỉ là chút ít cá, chút ít thịt, hoặc một đồng tiền nhỏ, hay hai đồng, bốn đồng, tám đồng, mười sáu đồng, sáu mươi bốn đồng;

Còn khoản thu lớn trị giá một trăm, năm trăm, một ngàn thì chính nhà vua lấy.

Ở đây:

  • Ngôi làng năm hộ ví như năm sắc thần kinh.
  • Năm người ăn uống nghèo nàn ví như năm thức.
  • Nhà vua ví như tâm xử lý (javana).
  • Việc năm người chỉ nhận phần lợi tức nhỏ ví như nhãn thức v.v… chỉ đơn thuần thấy sắc mà thôi, không có tham ái v.v…
  • Việc nhà vua thu khoản lợi lớn ví như nơi các cửa ấy, tâm tốc hành khởi lên với tham, sân, si.

Như vậy, ở đây “ý” được nói là tâm tốc hành thiện hoặc bất thiện.

“Niệm là chỗ nương tựa” — ở đây là niệm thuộc Đạo (magga-sati) làm chỗ nương tựa.

Vì tâm xử lý nương tựa nơi niệm của Đạo.

“Giải thoát” — là giải thoát thuộc quả (phala-vimutti).

“Chỗ nương tựa” — đối với giải thoát thuộc quả, Niết-bàn là chỗ nương tựa; vì giải thoát ấy nương tựa vào Niết-bàn.

“Không thể nắm bắt giới hạn của câu hỏi” — nghĩa là không thể nắm được ranh giới hay mức độ của câu hỏi; đã hỏi về pháp không có chỗ nương tựa mà lại cho là có chỗ nương tựa.

Niết-bàn là pháp không có chỗ nương tựa; không nương tựa vào bất cứ gì.

“Nibbānogadha” nghĩa là thâm nhập vào Niết-bàn, ở trong Niết-bàn.

“Brahmacariya” — là phạm hạnh thuộc Đạo.

“Nibbānaparāyaṇa” — nghĩa là Niết-bàn là đích đến tối hậu; vượt ngoài đó không còn đi đến đâu nữa.

“Nibbānapariyosāna” — nghĩa là có Niết-bàn làm chỗ kết thúc, chỗ viên mãn.

“Bén rễ, được thiết lập vững chắc” — là niềm tin phát sinh nhờ Đạo.

“Này các Tỳ khưu, nếu vào lúc này…” — câu này nói đến điều gì? Đó là trạng thái Bất lai với thiền (jhānānāgāmita).

Vì vào lúc ấy, nơi vị bà-la-môn này, nhờ Đạo thứ nhất mà năm tâm bất thiện đã được đoạn trừ; và nhờ sơ thiền mà năm triền cái được chế ngự. Như vậy, ông đang đứng ở địa vị Bất lai có thiền.

Nếu ông giữ được thiền không suy giảm rồi mạng chung, ông sẽ nhập Niết-bàn ngay tại đó.

Nhưng nếu trong khi giáo huấn vợ con hoặc lo liệu công việc mà thiền bị mất, thì khi thiền mất, cảnh giới tái sinh không còn cố định; còn nếu thiền không mất thì cảnh giới tái sinh là cố định.

Chính vì nói đến trạng thái Bất lai có thiền này mà Đức Phật đã nói như vậy.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

V. Phẩm Về Già

42. II. Bà-La-Môn Unnàbha (S.v,217)

1) Ở Sàvatthi...

2) Rồi Bà-la-môn Unnàbha đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Unnàbha thưa Thế Tôn:

3) -- Có năm căn này, thưa Tôn giả Gotama, đối cảnh khác nhau (nànavisayàni), hành cảnh khác nhau (nànà - gocaràni), chúng không dung nạp (paccanubhoniti) hành cảnh đối cảnh của nhau. Thế nào là năm? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn. Thưa Tôn giả Goama, năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau, thời cái gì làm chỗ quy tựa cho chúng? Và cái gì dung nạp hành cảnh đối cảnh của chúng?

4) -- Này Bà-la-môn, có năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau. Thế nào là năm? Nhãn căn... thân căn. Này Bà-la-môn, năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau, ý làm chỗ quy tựa cho chúng, ý dung nạp hành cảnh đối cảnh của chúng.

5) -- Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy tựa cho ý?

-- Này Bà-la-môn, niệm là chỗ quy tựa cho ý.

6) -- Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy tựa cho niệm?

-- Này Bà-la-môn, giải thoát là chỗ quy tựa cho niệm.

7) -- Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy tựa cho giải thoát?

-- Này Bà-la-môn, Niết-bàn là chỗ quy tựa cho giải thoát.

8) -- Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì là chỗ quy tựa cho Niết-bàn?

-- Này Bà-la-môn, câu hỏi đi quá xa (ajjhaparam) không thể nắm được chỗ tận cùng của câu hỏi. Này Bà-la-môn, Phạm hạnh được sống để thể nhập Niết-bàn, Phạm hạnh lấy Niết-bàn làm mục đích, lấy Niết-bàn làm cứu cánh.

9) Rồi Bà-la-môn Unnàbha hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

10) Sau khi Bà-la-môn ra đi không bao lâu, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

11) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái nhà có nóc nhọn, hay một giảng đường có nóc nhọn, với cửa sổ hướng về phía Ðông, khi mặt trời mọc và các tia nắng chiếu vào ngang qua cửa sổ, chúng dựa vào chỗ nào?

-- Chúng dựa trên bức tường phía Tây, bạch Thế Tôn.

12) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, lòng tin của Bà-la-môn Unnàbha hướng về, căn cứ, được an trú trên Như Lai. Lòng tin ấy kiên cố, không bị Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chiếm đoạt. Nếu trong lúc này, này các Tỷ-kheo, Bà-la-môn Unnàbha bị mệnh chung, không có một kiết sử nào có thể cột để kéo Bà-la-môn Unnàbha trở lui về đời này.