|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 26 tháng 02, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 617. QUYỀN VÀ LỰC - Kinh Sāketa (Sāketasuttaṃ) .
Năm căn và năm lực không phải là hai hệ
thống pháp khác nhau, mà chỉ là hai cách nhìn về cùng một thực
tại tâm linh. Khi còn yếu, chúng là “căn” — làm chủ, điều hướng.
Khi được tu tập sung mãn, chúng trở thành “lực” — vững chắc,
không còn bị dao động bởi các pháp đối nghịch. Tín, khi còn là
căn, vẫn có thể bị nghi ngờ làm lung lay; nhưng khi thành lực,
nó không còn bị bất tín chi phối. Tấn, khi còn là căn, vẫn phải
đấu tranh với giải đãi; nhưng khi thành lực, nó vượt khỏi biếng
nhác. Niệm, định, tuệ cũng vậy. Cùng một pháp, nhưng độ sâu khác
nhau sẽ tạo nên sức mạnh khác nhau. Ví dụ con sông có cù lao ở
giữa thật tinh tế. Nhìn theo một hướng, chỉ thấy một dòng chảy
duy nhất — đó là sự thống nhất của năm pháp cùng xuôi về giải
thoát. Nhìn theo hướng khác, lại thấy hai dòng — đó là hai
phương diện: tính làm chủ và tính bất động. Sự sai khác không
nằm ở bản chất, mà ở cách phân tích
Kinh Văn
513. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ
bhagavā sākete viharati añjanavane migadāye. tatra kho bhagavā
bhikkhū āmantesi — “atthi nu kho, bhikkhave, pariyāyo yaṃ
pariyāyaṃ āgamma yāni pañcindriyāni tāni pañca balāni honti,
yāni pañca balāni tāni pañcindriyāni hontī”ti?
Tôi được nghe như vầy .
Một thuở, Thế Tôn ngự tại Sāketa, trong rừng Añjana, tại Vườn Nai. Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ khưu:
“Này các Tỳ khưu, có một phương pháp thuyết giảng nào mà nhờ đó năm căn
trở thành năm lực, và năm lực trở thành năm căn chăng?”
“Bạch Thế Tôn, pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm gốc, lấy Thế Tôn làm
người hướng dẫn, nương tựa nơi Thế Tôn. Lành thay nếu Thế Tôn
giải thích rõ ý nghĩa lời dạy này. Sau khi được nghe từ Ngài,
các Tỳ khưu sẽ ghi nhớ.”
“Này các Tỳ khưu, có một phương pháp thuyết giảng mà nhờ đó năm căn trở
thành năm lực, và năm lực trở thành năm căn. Và phương pháp ấy
là gì?
Điều gì là tín căn thì chính là tín lực;
Điều gì là tấn căn thì chính là tấn lực;
Điều gì là niệm căn thì chính là niệm lực;
Điều gì là định căn thì chính là định lực;
Điều gì là tuệ căn thì chính là tuệ lực;
“Này các Tỳ khưu, ví như có một con sông chảy nghiêng, xuôi và hướng về
phía đông, giữa dòng có một cù lao. Có một phương pháp thuyết
giảng mà nhờ đó con sông ấy có thể được xem là một dòng; nhưng
cũng có một phương pháp thuyết giảng mà nhờ đó nó có thể được
xem là hai dòng.
Và phương pháp nào khiến con sông ấy được xem là một dòng?
Xét đến nước ở phía đông cù lao và nước ở phía tây cù lao — theo cách nhìn
ấy, con sông được xem là một dòng.
Và phương pháp nào khiến con sông ấy được xem là hai dòng?
Xét đến nước ở phía bắc cù lao và nước ở phía nam cù lao — theo cách nhìn
ấy, con sông được xem là hai dòng.
Cũng vậy, này các Tỳ khưu, điều gì là tín căn thì chính là tín lực … điều
gì là tuệ lực thì chính là tuệ căn.
Chính do vị Tỳ khưu đã tu tập và làm cho sung mãn năm căn này mà, do đoạn
tận các lậu hoặc, ngay trong đời hiện tại vị ấy chứng đạt và an
trú trong tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, tự mình chứng
ngộ với thắng trí.”
Chú Thích
Sāketa, một thành phố cổ ở Ấn Độ thời Đức Phật, nơi Ngài thỉnh thoảng trú
ngụ (khác với Sāvatthī thường trú).
Đức Phật trực tiếp hỏi các Tỳ-kheo
về một "phương pháp thuyết giảng" (dhammapariyāya) khiến năm căn
trở thành năm lực, và năm lực trở thành năm căn. Các Tỳ-kheo
khiêm tốn xin Ngài giải thích, vì giáo pháp lấy Đức Phật làm gốc
rễ, hướng dẫn và chỗ nương tựa.
Giải thích cốt lõi:
o
Tín căn chính là tín lực, và tín lực chính là tín căn;
o
Tương tự cho tấn (nỗ lực), niệm (chánh niệm), định (tâm định), tuệ (trí
tuệ).
o
Nghĩa là: Chúng không phải hai thứ riêng biệt mà là cùng một bản chất, chỉ
khác ở cách nhìn hoặc giai đoạn phát triển.
Ví dụ minh họa: Con sông và cù lao. Đức
Phật dùng ẩn dụ đẹp về một con sông chảy về phía đông, giữa dòng
có một cù lao (đảo nhỏ):
năm căn là nền tảng (phát sinh từ
tín → tấn → niệm → định → tuệ), năm lực là trạng thái mạnh mẽ,
bất hoại khi đã trưởng thành (không bị chướng ngại lay chuyển).
Sớ Giải
513. tatiye añjanavaneti
añjanavaṇṇapupphānaṃ rukkhānaṃ ropitavane. yaṃ, bhikkhave,
saddhindriyaṃ, taṃ saddhābalanti tañhi adhimokkhalakkhaṇe
indaṭṭhena saddhindriyaṃ, assaddhiye akampanena saddhābalaṃ.
itaresaṃ paggahaupaṭṭhānāvikkhepapajānanalakkhaṇesu indaṭṭhena
indriyabhāvo, kosajjamuṭṭhasaccavikkhepāvijjāsu akampanena
balabhāvo veditabbo. evameva khoti tassā nadiyā ekasotaṃ viya
saddhāvīriyasatisamādhipaññāvasena etesaṃ ninnānākaraṇaṃ
veditabbaṃ, dve sotāni viya indaṭṭhākampanaṭṭhehi
indriyabalavasena nānākaraṇaṃ veditabbaṃ.
513. Ở bài kinh thứ ba
“Tại rừng Añjana” nghĩa là khu rừng được trồng với những cây có hoa màu
như thuốc añjana (màu đen sẫm).
“Này các Tỳ khưu, cái gì là tín căn thì đó là tín lực.”
Vì trong đặc tính quyết định
(adhimokkha-lakkhaṇa), nó được gọi là
tín căn theo nghĩa “làm chủ”
(indaṭṭha – tính chất của một căn).
Còn vì không dao động trước sự bất tín, nên được gọi là tín lực.
Đối với các pháp còn lại (tấn, niệm, định, tuệ):
Chúng được gọi là căn theo nghĩa làm
chủ (indaṭṭha).
Và do không bị dao động trước:
nên được gọi là lực (bala).
“Cũng vậy” —
Ví như con sông kia:
Tức là:
|