BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 26  tháng 02, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 48. Tương Ưng Quyền -Phẩm Tuổi Già- SN 48.43 -
Bài 617. QUYỀN VÀ LỰC -

Kinh Sāketa (Sāketasuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-617.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Năm căn và năm lực không phải là hai hệ thống pháp khác nhau, mà chỉ là hai cách nhìn về cùng một thực tại tâm linh. Khi còn yếu, chúng là “căn” — làm chủ, điều hướng. Khi được tu tập sung mãn, chúng trở thành “lực” — vững chắc, không còn bị dao động bởi các pháp đối nghịch. Tín, khi còn là căn, vẫn có thể bị nghi ngờ làm lung lay; nhưng khi thành lực, nó không còn bị bất tín chi phối. Tấn, khi còn là căn, vẫn phải đấu tranh với giải đãi; nhưng khi thành lực, nó vượt khỏi biếng nhác. Niệm, định, tuệ cũng vậy. Cùng một pháp, nhưng độ sâu khác nhau sẽ tạo nên sức mạnh khác nhau. Ví dụ con sông có cù lao ở giữa thật tinh tế. Nhìn theo một hướng, chỉ thấy một dòng chảy duy nhất — đó là sự thống nhất của năm pháp cùng xuôi về giải thoát. Nhìn theo hướng khác, lại thấy hai dòng — đó là hai phương diện: tính làm chủ và tính bất động. Sự sai khác không nằm ở bản chất, mà ở cách phân tích

Kinh Văn

513. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā sākete viharati añjanavane migadāye. tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi — “atthi nu kho, bhikkhave, pariyāyo yaṃ pariyāyaṃ āgamma yāni pañcindriyāni tāni pañca balāni honti, yāni pañca balāni tāni pañcindriyāni hontī”ti?
“bhagavaṃmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṃnettikā bhagavaṃpaṭisaraṇā. sādhu vata, bhante, bhagavantaṃyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti. “atthi, bhikkhave, pariyāyo yaṃ pariyāyaṃ āgamma yāni pañcindriyāni tāni pañca balāni honti, yāni pañca balāni tāni pañcindriyāni honti”.
“katamo ca, bhikkhave, pariyāyo yaṃ pariyāyaṃ āgamma yāni pañcindriyāni tāni pañca balāni honti, yāni pañca balāni tāni pañcindriyāni honti? yaṃ, bhikkhave, saddhindriyaṃ taṃ saddhābalaṃ, yaṃ saddhābalaṃ taṃ saddhindriyaṃ; yaṃ vīriyindriyaṃ taṃ vīriyabalaṃ, yaṃ vīriyabalaṃ taṃ vīriyindriyaṃ; yaṃ satindriyaṃ taṃ satibalaṃ, yaṃ satibalaṃ taṃ satindriyaṃ; yaṃ samādhindriyaṃ taṃ samādhibalaṃ, yaṃ samādhibalaṃ taṃ samādhindriyaṃ; yaṃ paññindriyaṃ taṃ paññābalaṃ, yaṃ paññābalaṃ taṃ paññindriyaṃ. seyyathāpi, bhikkhave, nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā, tassa majjhe dīpo. atthi, bhikkhave, pariyāyo yaṃ pariyāyaṃ āgamma tassā nadiyā eko soto tveva saṅkhyaṃ gacchati {saṅkhaṃ (sī. syā. kaṃ.)} . atthi pana, bhikkhave, pariyāyo yaṃ pariyāyaṃ āgamma tassā nadiyā dve sotāni tveva saṅkhyaṃ gacchanti.
“katamo ca, bhikkhave, pariyāyo yaṃ pariyāyaṃ āgamma tassā nadiyā eko soto tveva saṅkhyaṃ gacchati? yañca, bhikkhave, tassa dīpassa purimante {puratthimante (sī. syā. kaṃ. pī.)} udakaṃ, yañca pacchimante udakaṃ — ayaṃ kho, bhikkhave, pariyāyo yaṃ pariyāyaṃ āgamma tassā nadiyā eko soto tveva saṅkhyaṃ gacchati.
“katamo ca, bhikkhave, pariyāyo yaṃ pariyāyaṃ āgamma tassā nadiyā dve sotāni tveva saṅkhyaṃ gacchanti? yañca, bhikkhave, tassa dīpassa uttarante udakaṃ, yañca dakkhiṇante udakaṃ — ayaṃ kho, bhikkhave, pariyāyo yaṃ pariyāyaṃ āgamma tassā nadiyā dve sotāni tveva saṅkhyaṃ gacchanti. evameva kho, bhikkhave, yaṃ saddhindriyaṃ taṃ saddhābalaṃ, yaṃ saddhābalaṃ taṃ saddhindriyaṃ; yaṃ vīriyindriyaṃ taṃ vīriyabalaṃ, yaṃ vīriyabalaṃ taṃ vīriyindriyaṃ; yaṃ satindriyaṃ taṃ satibalaṃ, yaṃ satibalaṃ taṃ satindriyaṃ; yaṃ samādhindriyaṃ taṃ samādhibalaṃ, yaṃ samādhibalaṃ taṃ samādhindriyaṃ; yaṃ paññindriyaṃ taṃ paññābalaṃ, yaṃ paññābalaṃ taṃ paññindriyaṃ. pañcannaṃ, bhikkhave, indriyānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā bhikkhu āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti. tatiyaṃ.

Tôi được nghe như vầy .

Một thuở, Thế Tôn ngự tại Sāketa, trong rừng Añjana, tại Vườn Nai. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ khưu:

“Này các Tỳ khưu, có một phương pháp thuyết giảng nào mà nhờ đó năm căn trở thành năm lực, và năm lực trở thành năm căn chăng?”

“Bạch Thế Tôn, pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm gốc, lấy Thế Tôn làm người hướng dẫn, nương tựa nơi Thế Tôn. Lành thay nếu Thế Tôn giải thích rõ ý nghĩa lời dạy này. Sau khi được nghe từ Ngài, các Tỳ khưu sẽ ghi nhớ.”

“Này các Tỳ khưu, có một phương pháp thuyết giảng mà nhờ đó năm căn trở thành năm lực, và năm lực trở thành năm căn. Và phương pháp ấy là gì?

Điều gì là tín căn thì chính là tín lực;
Điều gì là tín lực thì chính là tín căn.

Điều gì là tấn căn thì chính là tấn lực;
Điều gì là tấn lực thì chính là tấn căn.

Điều gì là niệm căn thì chính là niệm lực;
Điều gì là niệm lực thì chính là niệm căn.

Điều gì là định căn thì chính là định lực;
Điều gì là định lực thì chính là định căn.

Điều gì là tuệ căn thì chính là tuệ lực;
Điều gì là tuệ lực thì chính là tuệ căn.

“Này các Tỳ khưu, ví như có một con sông chảy nghiêng, xuôi và hướng về phía đông, giữa dòng có một cù lao. Có một phương pháp thuyết giảng mà nhờ đó con sông ấy có thể được xem là một dòng; nhưng cũng có một phương pháp thuyết giảng mà nhờ đó nó có thể được xem là hai dòng.

Và phương pháp nào khiến con sông ấy được xem là một dòng?

Xét đến nước ở phía đông cù lao và nước ở phía tây cù lao — theo cách nhìn ấy, con sông được xem là một dòng.

Và phương pháp nào khiến con sông ấy được xem là hai dòng?

Xét đến nước ở phía bắc cù lao và nước ở phía nam cù lao — theo cách nhìn ấy, con sông được xem là hai dòng.

Cũng vậy, này các Tỳ khưu, điều gì là tín căn thì chính là tín lực … điều gì là tuệ lực thì chính là tuệ căn.

Chính do vị Tỳ khưu đã tu tập và làm cho sung mãn năm căn này mà, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong đời hiện tại vị ấy chứng đạt và an trú trong tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, tự mình chứng ngộ với thắng trí.”

Chú Thích

Sāketa, một thành phố cổ ở Ấn Độ thời Đức Phật, nơi Ngài thỉnh thoảng trú ngụ (khác với Sāvatthī thường trú).

 Đức Phật trực tiếp hỏi các Tỳ-kheo về một "phương pháp thuyết giảng" (dhammapariyāya) khiến năm căn trở thành năm lực, và năm lực trở thành năm căn. Các Tỳ-kheo khiêm tốn xin Ngài giải thích, vì giáo pháp lấy Đức Phật làm gốc rễ, hướng dẫn và chỗ nương tựa.

Giải thích cốt lõi:

o    Tín căn chính là tín lực, và tín lực chính là tín căn;

o    Tương tự cho tấn (nỗ lực), niệm (chánh niệm), định (tâm định), tuệ (trí tuệ).

o    Nghĩa là: Chúng không phải hai thứ riêng biệt mà là cùng một bản chất, chỉ khác ở cách nhìn hoặc giai đoạn phát triển.

Ví dụ minh họa: Con sông và cù lao. Đức Phật dùng ẩn dụ đẹp về một con sông chảy về phía đông, giữa dòng có một cù lao (đảo nhỏ):

  • Xem là một dòng sông: Khi nhìn nước phía đông cù lao và phía tây cù lao – chúng liên tục chảy thành một thể thống nhất, không phân cách.
  • Xem là hai dòng: Khi nhìn nước phía bắc cù lao và phía nam cù lao – chúng bị cù lao chia cắt, trông như hai dòng riêng biệt.

 năm căn là nền tảng (phát sinh từ tín → tấn → niệm → định → tuệ), năm lực là trạng thái mạnh mẽ, bất hoại khi đã trưởng thành (không bị chướng ngại lay chuyển).

Sớ Giải

513. tatiye añjanavaneti añjanavaṇṇapupphānaṃ rukkhānaṃ ropitavane. yaṃ, bhikkhave, saddhindriyaṃ, taṃ saddhābalanti tañhi adhimokkhalakkhaṇe indaṭṭhena saddhindriyaṃ, assaddhiye akampanena saddhābalaṃ. itaresaṃ paggahaupaṭṭhānāvikkhepapajānanalakkhaṇesu indaṭṭhena indriyabhāvo, kosajjamuṭṭhasaccavikkhepāvijjāsu akampanena balabhāvo veditabbo. evameva khoti tassā nadiyā ekasotaṃ viya saddhāvīriyasatisamādhipaññāvasena etesaṃ ninnānākaraṇaṃ veditabbaṃ, dve sotāni viya indaṭṭhākampanaṭṭhehi indriyabalavasena nānākaraṇaṃ veditabbaṃ.

513. Ở bài kinh thứ ba

“Tại rừng Añjana” nghĩa là khu rừng được trồng với những cây có hoa màu như thuốc añjana (màu đen sẫm).

“Này các Tỳ khưu, cái gì là tín căn thì đó là tín lực.”

Vì trong đặc tính quyết định (adhimokkha-lakkhaṇa), nó được gọi là tín căn theo nghĩa “làm chủ” (indaṭṭha – tính chất của một căn).

Còn vì không dao động trước sự bất tín, nên được gọi là tín lực.

Đối với các pháp còn lại (tấn, niệm, định, tuệ):

  • Trong các đặc tính:
    • Paggaha (tinh cần, nâng đỡ)
    • Upaṭṭhāna (an trú, hiện diện rõ ràng)
    • Avikkhepa (không tán loạn)
    • Pajānana (liễu tri)

Chúng được gọi là căn theo nghĩa làm chủ (indaṭṭha).

Và do không bị dao động trước:

  • Kosajja (biếng nhác)
  • Muṭṭhasacca (thất niệm)
  • Vikkhepa (tán loạn)
  • Avijjā (vô minh)

nên được gọi là lực (bala).

“Cũng vậy” —

Ví như con sông kia:

  • Khi nói là một dòng, nên hiểu là sự không sai khác (ekasota) xét theo phương diện tín, tấn, niệm, định, tuệ — chúng cùng chảy về một hướng.
  • Khi nói là hai dòng, nên hiểu là sự sai khác xét theo phương diện:
    • Tính làm chủ (indriya)
    • Tính bất động, không lay chuyển (bala)

Tức là:

  • Về phương diện căn (indriya), chúng làm chủ các pháp đối nghịch.
  • Về phương diện lực (bala), chúng không bị các pháp đối nghịch làm dao động.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

V. Phẩm Về Già

43. III. Sàketa (S.v,219)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàketa, tại rừng Anjana, vườn Lộc Uyển.

2) Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, có pháp môn nào, y theo pháp môn ấy, năm căn tức là năm lực, và năm lực trở thành năm căn?

-- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản...

3) -- Này các Tỷ-kheo, có pháp môn, y theo pháp môn ấy, năm căn tức là năm lực, và năm lực trở thành năm căn. Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo pháp môn ấy, năm căn tức là năm lực, và năm lực trở thành năm căn?

4) Cái gì là tín căn, này các Tỷ-kheo, cái ấy là tín lực. Cái gì là tín lực, cái ấy là tín căn. Cái gì là tấn căn, cái ấy là tấn lực. Cái gì là tấn lực, cái ấy là tấn căn... Cái gì là tuệ căn, cái ấy là tuệ lực. Cái gì là tuệ lực, cái ấy là tuệ căn.

5) Ví như, này các Tỷ-kheo, một con sông thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông, và giữa con sông có hòn đảo. Này các Tỷ-kheo, có pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là một. Nhưng này các Tỷ-kheo, lại có pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là hai.

6) Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo pháp môn ấy, được tính là một? Này các Tỳ-kheo, nước cuối phía Ðông và nước cuối phía Tây của hòn đảo ấy được tính là một dòng. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là một.

7) Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là hai? Này các Tỷ-kheo, nước cuối phía Bắc và nước cuối phía Nam của hòn đảo ấy được tính là hai dòng. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng sông ấy được tính là hai.

8) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì là tín căn, cái ấy là tín lực. Cái gì là tín lực, cái ấy là tín căn... Cái gì là tuệ căn, cái ấy là tuệ lực. Cái gì là tuệ lực, cái ấy là tuệ căn.

9) Này các Tỷ-kheo, do tu tập, do làm cho sung mãn năm căn này, Tỷ-kheo đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không có lậu hoặc.