BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 28  tháng 02, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 48. Tương Ưng Quyền -Phẩm Tuổi Già- SN 48.44 -
Bài 618. TẠI SAO ĐẠO PHẬT KHÔNG LÀ MỘT TÔN GIÁO -

Kinh Đông Môn Xá (Pubbakoṭṭhakasuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-618.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Tôn giả Sāriputta là vị đệ nhất trí tuệ trong hàng thanh văn đệ tử của Đức Thế Tôn. Khi Đức Phật hỏi về niềm tin đối với việc tu tập ngũ Căn dẫn đến Niết-bàn, ngài không đáp bằng lời khẳng định sùng kính hay dựa dẫm vào uy tín của bậc Đạo sư. Thay vào đó, ngài thẳng thắn tuyên bố: “Con không đi theo niềm tin nơi Đức Thế Tôn về điều này”, vì ngài đã tự mình biết, thấy, hiểu, chứng ngộ và tiếp xúc bằng trí tuệ. Câu nói ấy không phải là sự ngạo mạn hay thiếu tôn kính, mà chính là biểu hiện cao nhất của niềm tin chân chính không còn là “tin người khác”, mà trở thành trực chứng cá nhân, loại bỏ mọi hoang mang, nghi ngờ. Đức Phật tán thán “Lành thay, lành thay!” không phải vì ngài được “khen ngợi”, mà vì thấy rõ một đệ tử đã thực sự bước qua ngưỡng cửa của đức tin thông thường để đạt đến trí tuệ thấy biết như thật.

Kinh Văn

514. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati pubbakoṭṭhake. tatra kho bhagavā āyasmantaṃ sāriputtaṃ āmantesi — “saddahasi {saddahāsi (sī. pī.)} tvaṃ, sāriputta — saddhindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānaṃ ... pe ... paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānan”ti?
“na khvāhaṃ ettha, bhante, bhagavato saddhāya gacchāmi — saddhindriyaṃ ... pe ... paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānaṃ. yesañhetaṃ, bhante, aññātaṃ assa adiṭṭhaṃ aviditaṃ asacchikataṃ aphassitaṃ {apassitaṃ (sī. syā. kaṃ. ka.), aphusitaṃ (pī.)} paññāya, te tattha paresaṃ saddhāya gaccheyyuṃ — saddhindriyaṃ ... pe ... paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānaṃ. yesañca kho etaṃ, bhante, ñātaṃ diṭṭhaṃ viditaṃ sacchikataṃ phassitaṃ paññāya, nikkaṅkhā te tattha nibbicikicchā — saddhindriyaṃ ... pe ... paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānaṃ. mayhañca kho etaṃ, bhante, ñātaṃ diṭṭhaṃ viditaṃ sacchikataṃ phassitaṃ paññāya. nikkaṅkhavāhaṃ tattha nibbicikiccho saddhindriyaṃ ... pe ... paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānan”ti.
“sādhu sādhu, sāriputta! yesañhetaṃ, sāriputta, aññātaṃ assa adiṭṭhaṃ aviditaṃ asacchikataṃ aphassitaṃ paññāya, te tattha paresaṃ saddhāya gaccheyyuṃ — saddhindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānaṃ ... pe ... paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānaṃ. yesañca kho etaṃ, sāriputta, ñātaṃ diṭṭhaṃ viditaṃ sacchikataṃ phassitaṃ paññāya, nikkaṅkhā te tattha nibbicikicchā — saddhindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānaṃ ... pe ... paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānan”ti. catutthaṃ.

Tôi được nghe như vầy.

Một thuở, Đức Thế Tôn ngự tại Sāvatthī, trong Đông Môn Xá. Tại đó, Thế Tôn nói với Tôn giả Sāriputta như sau:

“Này Sāriputta, Thầy có lòng tin rằng tín căn, khi được tu tập và làm cho sung mãn, có Bất Tử làm nền tảng, Bất Tử làm đích đến, Bất Tử làm cứu cánh tối hậu chăng? … Rằng tấn căn…, niệm căn.., định căn…, tuệ căn khi được tu tập và làm cho sung mãn, có Bất Tử làm nền tảng, Bất Tử làm đích đến, Bất Tử làm cứu cánh tối hậu chăng?”

“Bạch Thế Tôn, con không y cứ nơi lòng tin đối với Thế Tôn về điều này: rằng Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, khi được tu tập và làm cho sung mãn, có Bất Tử làm nền tảng, Bất Tử làm đích đến, Bất Tử làm cứu cánh tối hậu. Những ai chưa biết, chưa thấy, chưa hiểu, chưa chứng ngộ, chưa tự mình tiếp xúc bằng trí tuệ đối với điều này—họ phải y cứ nơi lòng tin vào người khác về điều này: rằng Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn khi được tu tập và làm cho sung mãn, có Bất Tử làm nền tảng, Bất Tử làm đích đến, Bất Tử làm cứu cánh tối hậu.

Nhưng những ai đã biết, đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã tự mình tiếp xúc bằng trí tuệ đối với điều này—họ sẽ không còn phân vân hay nghi hoặc về điều này: rằng tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, khi được tu tập và làm cho sung mãn, có Bất Tử làm nền tảng, Bất Tử làm đích đến, Bất Tử làm cứu cánh tối hậu.

Bạch Thế Tôn, con là một người đã biết, đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã tự mình tiếp xúc bằng trí tuệ đối với điều này. Con không còn phân vân hay nghi hoặc về điều này: tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn khi được tu tập và làm cho sung mãn, có Bất Tử làm nền tảng, Bất Tử làm đích đến, Bất Tử làm cứu cánh tối hậu.”

“Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Những ai chưa biết … họ phải y cứ nơi lòng tin vào người khác về điều này…. Nhưng những ai đã biết … họ sẽ không còn phân vân hay nghi hoặc về điều này: rằng căn tín …… căn tuệ, khi được tu tập và làm cho sung mãn, có Bất Tử làm nền tảng, Bất Tử làm đích đến, Bất Tử làm cứu cánh tối hậu.”

Chú Thích

Đông Môn Xá (Pubbakoṭṭhaka) cổng phía đông của thành Sāvatthī. Cổng ra vào có kiến trúc của một ngôi nhà rộng lớn cho khách vãng lai sử dụng.

Câu hỏi của Đức Phật không phải là câu hỏi về công năng của ngũ quyền hay ngũ căn mà là có phải vị đệ tử do niềm tin từ đâu đó – như từ Đức Phật - về giá trị của ngũ quyền để dẫn đến sự giác ngộ viên mãn.

Câu trả lời nổi bật của tôn giả Sāriputta khẳng định mạnh mẽ:

o    Con không đi theo niềm tin nơi Đức Thế Tôn về điều này (na kho ahaṃ, bhante, bhagavati saddahanto gacchāmi).

o    Những ai chưa trực chứng (na jānaṃ, na diṭṭhaṃ, na viditaṃ, na sacchikataṃ paññāya) thì phải dựa vào niềm tin nơi người khác.

o    Còn con đã biết, thấy, hiểu, chứng ngộ, tiếp xúc bằng trí tuệ → con không còn hoang mang, nghi ngờ gì nữa.

 Đây là một trong những câu nói nổi tiếng nhất của Tôn giả Sāriputta, thể hiện sự trực chứng cá nhân (paccakkha-ñāṇa) thay vì chỉ dựa vào đức tin mù quáng. Ngay cả với Đức Phật, ngài cũng không “tin” theo kiểu thông thường, mà đã tự mình chứng nghiệm.

Lời khen của Đức Phật : Đức Phật lặp lại lời của Sāriputta để xác nhận và tán thán: “Lành thay, lành thay!” (Sādhu sādhu). Điều này cho thấy Đức Phật hoan hỷ khi thấy đệ tử đã đạt đến mức trí tuệ trực nghiệm, không còn lệ thuộc vào niềm tin từ bên ngoài.

Sớ Giải

514. catutthe amatogadhanti amatabbhantara.
amataparāyaṇanti amatanibbattikaṃ.
amatapariyosānanti amataniṭṭhaṃ.
sādhu sādhūti therassa byākaraṇaṃ pasaṃsanto sādhukāraṃ deti.

514. Trong bài kinh thứ tư:

“Amatogadha” nghĩa là nằm trong Bất Tử (ở trong phạm vi của Bất Tử).

“Amataparāyaṇa” nghĩa là hướng đến Bất Tử, đưa đến sự sinh khởi của Bất Tử.

“Amatapariyosāna” nghĩa là lấy Bất Tử làm cứu cánh, kết thúc nơi Bất Tử.

“Sādhu, sādhu” — Đức Phật tán thán lời giải đáp của vị Trưởng lão (Sāriputta) nên thốt lên lời khen ngợi.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

V. Phẩm Về Già

44. IV. Pubbakotthaka (Ngôi nhà phía Ðông) (S.v,220)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Pubbakotthaka.

2) Tại đấy, Thế Tôn bảo Tôn giả Sàriputta:

3) -- Ông có tin không, này Sàriputta, tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh...? Ông có tin không, này Sàriputta, tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh?

4) -- Ở đây, bạch Thế Tôn, con không đi với lòng tin của Thế Tôn, rằng tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Với những ai, bạch Thế Tôn, không chứng trí, không thấy, không hiểu, không chứng ngộ, không đạt tới với trí tuệ; họ cần đi với lòng tin của kẻ khác (tin rằng) : "Tín căn... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh". Còn với những ai, bạch Thế Tôn, đã chứng tri, đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; những người ấy, ở đây, không có nghi ngờ, không có phân vân (tin rằng): "Tín căn... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh". Còn con, bạch Thế Tôn, đã chứng tri, đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; con ở đây, không có nghi ngờ, không có phân vân (tin rằng): "Tín căn... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh".

5) -- Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Với những ai, này Sàriputta, không chứng tri, không thấy, không hiểu, không chứng ngộ, không đạt tới với trí tuệ; ở đây, họ cần đi với lòng tin của kẻ khác (tin rằng): "Tín căn... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh". Và còn với những ai, này Sàriputta, đã chứng tri, đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; những người ấy, ở đây không có nghi ngờ, không có phân vân (tin rằng): "Tín căn... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh".