|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 10 tháng 01, 2022
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN I-ĐỨC PHẬT
Bài 20. CON NHÀ TÔNG … Phần III-
Đức Thế
Tôn ra đời mang ánh sáng giác ngộ giải thoát đến muôn loài
chúng sanh. Những đệ tử đã lãnh hội và thành tựu được sự
chuyển hoá kỳ diệu có thể nói là vô số. Trong những vị nầy
đã có nhiều thể hiện cho thấy sự trưởng thành thật sự trong
giáo pháp và góp phần hoằng hoá lợi sanh. Mặc dù khả năng
hữu hạn so với bậc Đạo Sư nhưng con nhà tông không giống
lông cũng giống cánh. Những giai thoại về có đệ tử Phật cho
thấy sự vô uý khi tuyên thuyết chánh pháp; hiệu năng khai
thị dù người thuyết giáo xuất thân tầm thường. Tất cả đã ghi
lại một thời hoàng kim của chánh pháp khi giá trị của chân
lý vượt qua tất cả hạn cuộc của giai cấp, giới tính, giàu
nghèo. Hiểu biết về các đệ tử cũng là sự cảm nhận tánh cách
cao cả về sự ra đời của một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Lặn hụp giữa cuộc trầm luân
Có những người dù đã có duyên may tiếp xúc với ánh sáng Phật
Pháp nhưng vẫn thối thất.
Nhưng không có nghĩa vì vậy mà những gì đã học, đã tu hoàn
toàn vô bổ. Hạt giống lành tưởng như đã chết nhưng khi có
được điều kiện thích hợp thì đâm chồi nẩy tược. Không ít
những câu chuyện về một số người thời Đức Thế Tôn còn tại
thế có đôi lần trồi sụt trước khi thành tựu tuệ giác.
Một vị tỳ kheo học trò của Ngài Mahākassapa vì phiền não
nhất thời đã bỏ cuộc tu trở thành cư sĩ rồi lại vương vào
lao lý.
Nhưng nhờ duyên lành đã tìm được ánh sáng tuệ giác do sự
khai thị của Đức Phật. Câu chuyện cho thấy khả tính giác ngộ
có thể bừng khai nếu đủ duyên, đủ phước. Hình 75 ![]()
Câu
chuyện “Thầy Tỳ Kheo Bỏ Ðạo” ghi lại trong Kinh Pháp Cú:
Ðược
thoát khỏi buộc ràng...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại tinh xá Trúc lâm, liên
quan đến một thầy Tỳ-kheo hoàn tục.
Thầy
Tỳ-kheo kia vốn là đồ đệ Trưởng lão Ðại Ca-diếp, tuy đã đạt
Tứ thiền nhưng một hôm đến chơi nhà ông chú làm thợ vàng,
trông thấy nhiều đồ trang sức đẹp mắt, thầy sanh lòng tham
luyến, bèn hoàn tục. Thầy lại làm biếng chẳng chịu mó tay
vào việc gì nên bị đuổi ra khỏi nhà. Từ đấy thầy kết bạn với
kẻ xấu, chuyên sống bằng nghề cướp bóc. Một hôm người ta bắt
thầy, trói chặt hai tay sau lưng, mang đi hành hình, trên
đường cứ gặp mỗi ngã tư lại dùng roi da đánh đập thầy.
Trưởng
lão Ðại Ca-diếp vào thành khất thực, thấy thầy Tỳ-kheo bỏ
đạo bị dẫn ra cửa Nam liền làm cho dây trói lỏng đi, và bảo
thầy.
- Ông hãy
quán tưởng lại đề mục định như đã từng làm.
Vâng lời
dạy, thầy Tỳ-kheo bắt đầu thiền định, và nhập Tứ thiền. Lính
áp tải đưa thầy đến chỗ hành hình, bảo:
- Bọn ta
sẽ cho ngươi chết.
Rồi chúng
nung đỏ chông sắt lên. Nhưng tên cướp chẳng hề lo sợ mảy
may. Lính xử tội vây tứ phía đưa cao gươm giáo, lao phóng
sáng lòa.
Thấy tên
cướp không tỏ dấu sợ hãi chi cả, chúng phải kêu:
- Thưa các Ngài, hãy nhìn người này xem. Ðứng giữa
trăm người lăm lăm vũ khí, ông ta chẳng run chẳng sợ. Thật
là điều lạ lùng.
Quá kinh
ngạc và thán phục, chúng reo hò ầm ĩ, rồi đến tâu lên vua.
Nghe hết chuyện, vua phán:
- Hãy thả
người ấy ra.
Họ đến
bạch Phật câu chuyện. Ðức Thế Tôn phóng hào quang, phân thân
đến pháp trường nói kệ:
(344) Lìa
rừng lại hướng rừng,
Thoát
rừng chạy theo rừng,
Nên xem
người như vậy,
Ðược
thoát khỏi buộc ràng,
Lại chạy
theo ràng buộc.
Nghe pháp
âm mầu nhiệm, thầy Tỳ-kheo bỏ đạo đang nằm trên bàn chông
lính vây quanh kín đặc, liền quán tưởng đề mục sanh tử, quán
tam pháp ấn, thấu rõ ngã không và đắc quả Dự lưu. Trong niềm
an lạc của đạo quả vừa đắc, thầy bay lên không đến chỗ đức
Thế Tôn, đảnh lễ Ngài. Ngay giữa chúng hội, trong đó có cả
nhà vua, thầy đắc quả A-la-hán.
Trích
tích Chuyện Kinh Pháp Cú, bản dịch của Tu Viện Viên Chiếu.
Tình Yêu và Đạo Cả
Tình yêu giữa cuộc trầm luân thường tạo nhiều hệ luỵ nhưng
vẫn có những cuộc tình rất đẹp nhờ chất liệu của thiện pháp.
Trong dòng sanh tử nếu yêu thương chân thành và trợ duyên
cho nhau đúng theo lẽ đạo thì chẳng những tìm được hạnh phúc
trần gian mà còn hỗ trợ cho nhau trên đường dẫn đến giác ngộ
giải thoát. Đây là một trong những khía cạnh rất tế nhị
trong cuộc sống.
Hai vợ chồng Nakulamātā và Nakulapītā là những người có
trình độ về Phật Pháp thể hiện sự yêu thương rất đạo vị.
Tình yêu của họ được đặt trên lòng chân thành nghĩ về sự lợi
lạc thật sự cho nhau trong nhiều kiếp luân hồi. Họ đã giải
được bài toán khó là làm thế nào yêu thương mà không ích kỷ.
Hơn thế nữa là trợ duyên cho nhau để tinh tiến trên đường
đạo. Hình 83
Bài kinh sau đây ghi lại cuộc tình “Luân hồi thì vẫn có
nhau, yêu thương đến lúc bạc đầu vẫn thương”:
6.16. Cha
Mẹ Của NakuLa (1)
Một thời,
Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Cá Sấu, rừng
Bhesakàla, vườn Lộc Uyển. Lúc bấy giờ, gia chủ, cha của
Nakula bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi nữ gia chủ, mẹ
của Nakula nói với cha của Nakula như sau:
—Thưa Gia
chủ, chớ có mạng chung với tâm còn mong cầu ái luyến. Thưa
Gia chủ, đau khổ là người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái
luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung còn mong cấu
ái luyến. Thưa Gia chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ: “Nữ gia
chủ, mẹ của Nakula, sau khi ta mệnh chung, không có thể nuôi
dưỡng các con và duy trì nhà cửa”. Thưa Gia chủ, chớ có nghĩ
như vậy! Thưa Gia chủ, tôi khéo léo dệt vải và chải lông
cừu. Thưa Gia chủ, sau khi Gia chủ mệnh chung, tôi có thể
nuôi dưỡng các con và duy trì nhà cửa. Do vậy, thưa Gia chủ,
chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ,
này Gia chủ, là người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái
luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung tâm còn mong
cấu ái luyến.
Thưa Gia
chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ như sau: “Nữ Gia chủ, mẹ của
Nakula, sau khi ta mệnh chung, sẽ đi đến một gia đình khác”.
Thưa Gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Thưa Gia chủ, Gia chủ
cũng đã biết, trong mười sáu năm chúng ta sống làm người gia
chủ, tôi đã sống thực hành Phạm hạnh như thế nào. Do vậy,
thưa Gia chủ, chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái
luyến! Ðau khổ, thưa Gia chủ, là người khi mệnh chung còn
mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung
còn mong cầu ái luyến.
Thưa Gia
chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ như sau: “Nữ gia chủ, mẹ của
Nakula, sau khi ta mệnh chung, sẽ không còn muốn yết kiến
Thế Tôn, sẽ không còn muốn yết kiến chúng Tăng”. Thưa Gia
chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Sau khi gia chủ mệnh chung,
tôi sẽ muốn yết kiến Thế Tôn nhiều hơn, sẽ muốn yết kiến
chúng Tăng nhiều hơn. Do vậy, thưa Gia chủ, chớ có mệnh
chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ, này Gia chủ,
là người khi mệnh chung, còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở
trách người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến.
Thưa Gia
chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ như sau: “Nữ gia chủ, mẹ của
Nakula, sau khi ta mệnh chung, sẽ không giữ giới một cách
đầy đủ”. Thưa Gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Thưa Gia
chủ, cho đến khi nào, các nữ đệ tử gia chủ mặc áo trắng của
Thế Tôn còn giữ Giới Luật một cách đầy đủ, tôi là một trong
những người ấy. Nếu ai có nghi ngờ hay phân vân, hiện nay,
Thế Tôn đang ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Cá Sấu, rừng
Bhesakàla, vườn Lộc Uyển, người ấy hãy đi đến Thế Tôn và
hỏi. Do vậy, thưa Gia chủ, chớ có mệnh chung với tâm còn
mong cầu ái luyến! Ðau khổ, thưa Gia chủ, là người khi mệnh
chung tâm còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi
mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến.
Thưa Gia
chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ như sau: “Nữ gia chủ, mẹ của
Nakula không có chứng được nội tâm tịnh chỉ”. Thưa Gia chủ,
chớ có suy nghĩ như vậy! Thưa Gia chủ, cho đến khi nào, các
nữ đệ tử gia chủ mặc áo trắng của Thế Tôn còn chứng được nội
tâm tịnh chỉ, tôi sẽ là một trong những vị ấy. Nếu ai có
nghi ngờ hay phân vân, hiện nay Thế Tôn đang ở giữa dân
chúng Bhagga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesakàla, vườn Lộc Uyển,
người ấy hãy đi đến Thế Tôn và hỏi. Do vậy, thưa Gia chủ,
chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ,
thưa Gia chủ, là người khi mệnh chung, tâm còn mong cầu ái
luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung tâm còn mong
cầu ái luyến.
Thưa Gia
chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ như sau: “Nữ gia chủ, mẹ của
Nakula, trong Pháp và Luật này không đạt được thể nhập,
không đạt được an trú, không đạt được thoải mái, không vượt
khỏi nghi hoặc, không rời được do dự, không đạt được vô úy,
còn phải nhờ người khác sống trong lời dạy đức Bổn Sư”. Thưa
Gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Thưa Gia chủ, cho đến khi
nào, các nữ đệ tử gia chủ mặc áo trắng của Thế Tôn, trong
Pháp và Luật này đạt được thể nhập, đạt được an trú, đạt
được thoải mái, vượt khỏi nghi hoặc, rời được do dự, đạt
được vô úy, không phải nhờ người khác sống trong lời dạy đức
Bổn Sư, tôi sẽ là một trong những người ấy. Nếu có ai có
nghi ngờ hay phân vân, hiện nay Thế Tôn đang ở giữa dân
chúng Bhagga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesakàla, vườn Lộc Uyển,
người ấy hãy đi đến Thế Tôn và hỏi. Do vậy, thưa Gia chủ,
chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ,
thưa Gia chủ, là người khi mệnh chung, tâm còn mong cầu ái
luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung tâm còn mong
cầu ái luyến.
Rồi cha
của Nakula được nữ gia chủ, mẹ của Nakula giáo giới với lời
giáo giới này, bệnh hoạn liền khi ấy được khinh an và gia
chủ, cha của Nakula thoát khỏi bệnh ấy. Ðược đoạn tận như
vậy là bệnh ấy của gia chủ, cha của Nakula. Rồi gia chủ, cha
của Nakula được lành bệnh, sau khi lành bệnh không bao lâu,
chống gậy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi
ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ, cha của Nakula
đang ngồi xuống một bên:
—Thật lợi
ích thay cho Ông, này Gia chủ! Thật khéo lợi ích thay cho
Ông, này Gia chủ! Ðược nữ gia chủ, mẹ của Nakula với lòng từ
mẫn, vì muốn hạnh phúc, đã giáo giới, đã khuyên dạy Ông. Cho
đến khi nào, này Gia chủ, Ta còn có những đệ tử gia chủ mặc
áo trắng gìn giữ Giới Luật viên mãn, nữ gia chủ, mẹ của
Nakula là một trong những vị ấy. Cho đến khi nào, này Gia
chủ, Ta còn có những đệ tử gia chủ mặc áo trắng chứng được
nội tâm tịnh chỉ, nữ gia chủ, mẹ của Nakula là một trong
những vị ấy. Cho đến khi nào, này Gia chủ, Ta còn có những
đệ tử gia chủ mặc áo trắng, trong Pháp và Luật này đạt được
thể nhập, đạt được an trú, đạt được thoải mái, vượt khỏi
nghi hoặc, rời được do dự, đạt được vô úy, không còn phải
nhờ người khác sống trong lời dạy đức Bổn Sư, nữ gia chủ, mẹ
của Nakula là một trong những vị ấy. Thật lợi ích thay cho
Ông, này Gia chủ! Thật khéo lợi ích thay cho Ông, này Gia
chủ, được nữ gia chủ, mẹ của Nakula với lòng từ mẫn, vì muốn
hạnh phúc, đã giáo giới, đã khuyên dạy Ông.
Trích
Tăng Chi Bộ, bản dịch của HT Thích Minh Châu
Một Lòng Thanh Thản Giữa Những Hoạ Phúc Trong Đời
Chúng sanh là kẻ thừa tự nghiệp bao gồm cả nghiệp thiện và
nghiệp bất thiện.
Thề
gian thường quan niệm người nầy có phước, người kia vô
phước. Kỳ thật thì đa phần cuộc sống là sự pha trộn của cả
hai nghiệp tốt và xấu từ quá khứ. Hiểu được nầy bậc thức giả
sống với cõi lòng thanh thản đối với vui khổ, khen chê, đặng
thắt, vinh nhục.
Vua Bimbisara là một minh quân hiền đức nhưng do nghiệp quá
khứ bị chính đứa con trai yêu quý của mình nghe lời người
xấu mà giết cha đoạt ngôi.
Người cha bất hạnh nấy không thù oán con mình mà cũng không
sống trong đau khổ dù chịu nhiều hành hạ trong lao tù. Điểm
căn bản là hiểu và sống với đạo. Thái độ của một người thật
sự hiểu Phật Pháp đối với khổ nạn trong đời rất khác với
phàm tình. Hình 90
Câu chuyện vị vua nhân từ bị soán ngôi:
Mặc dầu rất mực minh quân và có tâm đạo nhiệt thành, Vua
Bimbisara (Bình Sa Vương) phải chịu quả xấu của tiền nghiệp,
chết một cách thê lương ảm đạm và vô cùng đau đớn.
Hoàng tử Ajatasattu (A Xà Thế) bị Devadatta (Đề Bà Đạt Đa)
xúi giục, âm mưu sát hại vua cha là Bimbisara (Bình Sa
Vương) để chiếm ngôi. Nhưng công việc bại lộ, Ajatasattu bị
bắt quả tang, và người cha đầy lòng bi mẫn không đành xử
phạt xứng đáng như quần thần xin, mà còn nhường ngôi vàng
cho hoàng tử, vì thấy con thèm muốn làm vua.
Để trả ơn, vị hoàng tử bất hiếu vừa lên ngôi liền hạ ngục
cha và ra lệnh bỏ đói cho chết dần. Chỉ một mình hoàng thái
hậu được phép vào thăm. Mỗi khi đi, bà giấu đồ ăn trong túi
áo đem cho chồng. A Xà Thế hay được quở trách mẹ. Sau lại,
bà giấu trong đầu tóc. A Xà Thế cũng biết được. Cùng đường,
bà tắm rửa sạch sẽ rồi thoa vào mình một thứ đồ ăn làm bằng
mật ong, đường và sữa. Vua gợt lấy món ăn này để nuôi sống.
Nhưng Ajatasattu (A Xà Thế) của bắt được, và cấm hẳn mẹ
không cho vào thăm vua cha nữa.
Lúc ấy Bimbisara (Bình Sa Vương) cam chịu đói, nhưng lòng
không oán trách con.
Ngài đã đắc Quả Tu Đà Hườn nên thản nhiên, cố gắng đi lên đi
xuống kinh thành, chứng nghiệm hạnh phúc tinh thần.
Thấy cha vẫn vui tươi, Ajatasattu (A Xà Thế) nhất định giết
cho khuất mắt nên hạ lệnh cho người thợ cạo vào khám, lấy
dao bén gọt gót chân vua cha, xát dầu và muối vào rồi hơ
trên lửa nóng cho đến chết.
Khi người cha bất hạnh thấy thợ cạo đến thì mừng thầm, ngỡ
rằng con mình đã ăn năn hối cải, cho người đến cạo râu tóc
để rước về. Trái với sự ước mong của Ngài, anh thợ cạo đến
chỉ để thi hành lệnh dã man của Vua A Xà Thế một cách tàn
nhẫn, đem lại cho Ngài một cái chết vô cùng thê thảm.
Cùng ngày ấy, vợ Ajatasattu (A Xà Thế) hạ sanh một hoàng
nam. Tin lành đến cùng lúc với tin vua cha Bimbisara (Bình
Sa Vương) băng hà trong ngục thất.
Tin chánh hậu hạ sanh hoàng nam được đọc trước. Nỗi vui mừng
của A Xà Thế không sao kể xiết. Cả người cảm nghe nhẹ nhàng
vui sướng. Tình thương của một người cha lần đầu tiên chớm
nở trong lòng, mặn nồng sâu sắc, thấm vô từng khớp xương ống
tủy. Đứa con đầu lòng là một nguồn yêu thương, là cơ hội để
cha mẹ thưởng thức một tình tôn giáo mới mẻ đậm đà, vô cùng
trong sạch. Cảm giác đầu tiên của người mới được đứa con đầu
lòng dường như đưa họ vào một cảnh giới kỳ lạ, khiến họ có
cảm tưởng rằng máu huyết mình đã nhỏ giọt ra để nối tiếp
mình.
Tức khắc Ajatasattu vội vã chạy đi tìm người mẹ yêu dấu và
hỏi: "Thưa Mẫu Hậu, khi con còn nhỏ, phụ hoàng có thương con
không?"
-- Tại sao con hỏi lạ vậy? Mẹ tưởng trên thế gian này không
tìm đâu ra người cha lành như cha con. Để mẹ thuật cho con
nghe. Lúc mẹ còn mang con trong lòng, ngày nọ mẹ nghe thèm
lạ lùng một món kỳ lạ. Mẹ thèm nút vài giọt máu trong bàn
tay mặt của cha con. Mà nào mẹ dám nói ra. Rồi càng ngày mẹ
càng xanh xao, và sau cùng phải thú nhận với cha con. Khi
nghe vậy cha con vui vẻ lấy dao rạch tay cho mẹ hút máu. Lúc
ấy các nhà tiên tri trong triều tiên tri rằng con sẽ là
người thù của cha con. Do đó, tên con là "Ajatasattu", có
nghĩa "kẻ thù chưa sanh". Mẹ có ý định giết con ngay trong
lòng, nhưng cha con không cho. Khi sanh con ra, mẹ nhớ đến
lời tiên tri, nên một lần nữa muốn giết con. Một lần nữa,
cha con ngăn cản mẹ.
Một hôm, con có cái nhọt trên đầu ngón tay, nhức nhối vô
cùng, khóc suốt ngày đêm, không ai dỗ được. Cha con đang
cùng bá quan phân xử việc triều đình, nghe vậy cầm lòng
không đặng, bế con trong lòng, và không ngần ngại ngậm ngón
tay của con trong miệng, nhè nhẹ nút cho con đỡ đau. Gớm
thay! Cái nhọt bể, máu mủ tuôn ra trong miệng cha con và, sợ
lấy tay ra con sẽ nghe đau, cha con nuốt luôn vào bụng cả mủ
lẫn máu! Phải, người cha hết lòng thương yêu con, vì tình
phụ tử đậm đà, nhè nhẹ nuốt hết vừa máu vừa mủ.
Nghe đến đó Vua Ajatasattu bỗng đứng phắt dậy, kêu lên như
điên: "Hãy chạy mau, thả ra lập tức người cha yêu quý của
trẫm."
Than ôi, người cha yêu quý ấy đã ra người thiên cổ!
Tin thứ nhì được trao đến tận tay Vua Ajatasattu. Vua xúc
động rơi lệ dầm dề. Bấy giờ ông mới nhận định rằng chỉ khi
bắt đầu làm cha mới biết được tình cha thương con như thế
nào.
Vua Bimbisara (Bình Sa Vương) băng hà và tức khắc tái sanh
vào cảnh Trời Catummaharajika (Tứ Đại Thiên Vương) tên là
Janavassabha.
Về sau Vua Ajatasattu (A Xà Thế) được gặp Đức Phật, trở nên
một thiện tín lỗi lạc và tạo nhiều công đức trong cuộc Kết
Tập Tam Tạng lần đầu tiên.
Trích “Đức Phật và Phật Pháp” của Ngài Narada, bản dịch Việt
của Phạm Kim Khánh.
(Còn tiếp)
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |