|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 11 tháng 01, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG III. TƯƠNG ƯNG KOSALA, PHẨM THỨ HAI (S.i,87)
@@@
Bài 8. Kinh Thiện Hữu (Kalyāṇamittasuttaṃ) -Bạn Lành Là Trợ Duyên Không Thể Thiếu
Nhiều người xem
sự thân cận thiện hữu trong đời sống tinh thần chỉ là sự lựa
chọn tùy thích: có cũng được, không có chẳng hề chi. Trong
bài kinh nầy Đức Phật nêu rõ sự thân cận bạn lành là điều
thiết yếu trong từng bước của hành trình tu tập. Một cách
nói ở đây cần được hiểu theo văn hoá Ấn Độ và văn hoá Phật
Giáo: Đức Phật là bạn lành của chúng sanh. Những ai nương
tựa và thường học hỏi những lời Phật dạy sẽ có được sự trợ
duyên quý báu trong từng bước của hành trình tu thân, hành
thiện, giải thoát.
Sāvatthinidānaṃ.
Tại Sāvatthi.
Ekamantaṃ nisinno kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṃ
etadavoca –
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi xứ Kosala bạch Thế Tôn:
‘‘idha mayhaṃ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ
cetaso parivitakko udapādi – ‘svākkhāto bhagavatā dhammo, so
ca kho kalyāṇamittassa kalyāṇasahāyassa
kalyāṇasampavaṅkassa, no pāpamittassa no pāpasahāyassa no
pāpasampavaṅkassā’’’ti.
-- Ở đây, bạch Thế Tôn,
trong khi con sống một mình nơi thanh vắng, ý nghĩ sau đây
khởi lên: "Pháp được Thế Tôn
khéo giảng. Pháp ấy dạy cho người có bạn lành, kết giao
với bạn lành, thân
thiết với bạn lành; chứ không phải cho người có bạn xấu, kết
giao với bạn xấu, thân thiết với bạn xấu
".
‘‘Evametaṃ, mahārāja, evametaṃ, mahārāja! Svākkhāto,
mahārāja, mayā dhammo. So ca kho kalyāṇamittassa
kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa, no pāpamittassa no
pāpasahāyassa no pāpasampavaṅkassāti.
-- Đúng như vậy. Này Ðại
vương, Pháp được Ta khéo giảng. Pháp ấy dạy cho người có bạn
lành, kết giao với bạn lành, thân
thiết với bạn lành; chứ không phải cho người có bạn xấu, kết
giao với bạn xấu, thân thiết với bạn xấu
‘‘Ekamidāhaṃ, mahārāja, samayaṃ sakkesu viharāmi nagarakaṃ
nāma sakyānaṃ nigamo.
Này Ðại vương, một thuở Ta ở
giữa dòng họ Sakka (Thích-ca) tại một thị trấn của các vị
Sakka có tên là Nāgaraka.
Atha kho, mahārāja, ānando bhikkhu yenāhaṃ tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā maṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ
nisinno kho, mahārāja, ānando bhikkhu maṃ etadavoca –
Này Ðại vương, rồi tỷ kheo
Ānanda đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên
và bạch rằng:
‘upaḍḍhamidaṃ, bhante, brahmacariyassa – yadidaṃ
kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā’’’ti.
"-- Bạch Thế Tôn, phân nửa
đời sống Phạm hạnh này là có bạn
lành, kết giao với bạn lành, thân thiết với bạn lành"
‘‘Evaṃ vuttāhaṃ, mahārāja, ānandaṃ bhikkhuṃ etadavocaṃ –
Này Ðại vương,
được nói vậy Ta nói
với Tỷ-kheo Ānanda:
‘‘Evaṃ vuttāhaṃ, mahārāja, ānandaṃ bhikkhuṃ etadavocaṃ – ‘mā
hevaṃ, ānanda, mā hevaṃ, ānanda! Sakalameva hidaṃ, ānanda,
brahmacariyaṃ – yadidaṃ kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā
kalyāṇasampavaṅkatā. Kalyāṇamittassetaṃ, ānanda, bhikkhuno
pāṭikaṅkhaṃ kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa ariyaṃ
aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvessati ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ
bahulīkarissati’’’.
" -- Này Ānanda, không phải
vậy. Này Ānanda, không phải vậy. Này Ānanda, thật ra toàn bộ
đời sống Phạm hạnh này là có bạn lành, kết giao với bạn
lành, thân thiết với bạn lành. Này Ānanda, Khi tỷ kheo có
bạn lành thời vị ấy sẽ huân tu Thánh đạo Tám ngành, làm cho
sung mãn Thánh đạo tám chi phần.
‘‘Kathañca, ānanda, bhikkhu kalyāṇamitto kalyāṇasahāyo
kalyāṇasampavaṅko ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃmaggaṃ bhāveti, ariyaṃ
aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bahulīkaroti?
Này Ānanda, thế nào là
Tỷ-kheo có bạn lành, kết giao với bạn lành, thân thiết với
bạn lành làm cho sung mãn Thánh đạo tám chi phần?
Idhānanda, bhikkhu sammādiṭṭhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ
virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ,
sammāsaṅkappaṃ bhāveti...pe... sammāvācaṃ bhāveti...pe...
sammākammantaṃ bhāveti...pe... sammāājīvaṃ bhāveti... pe...
sammāvāyāmaṃ bhāveti...pe... sammāsatiṃ bhāveti...pe...
sammāsamādhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ
nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. Evaṃ kho, ānanda, bhikkhu
kalyāṇamitto kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko ariyaṃ
aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāveti, ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ
bahulīkaroti.
này Ānanda, ở đây Tỷ-kheo tu
tập chánh tri kiến y cứ trên viễn ly,
y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, thành tựu sự buông xả.
tu tập chánh tư
duy..., tu tập chánh ngữ..., tu tập chánh nghiệp..., tu tập
chánh mạng..., tu tập chánh tinh tấn..., tu tập chánh
niệm..., tu tập chánh định, y cứ trên viễn ly, y cứ ly tham,
y cứ đoạn diệt, thành tựu sự buông xả.. Như vậy, này Ānanda,
Tỷ-kheo có bạn lành, kết giao với bạn lành, thân thiết với
bạn lành làm cho sung mãn Thánh đạo tám chi phần.
Tadamināpetaṃ, ānanda, pariyāyena veditabbaṃ yathā
sakalamevidaṃ brahmacariyaṃ – yadidaṃ kalyāṇamittatā
kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā’’ti.
‘‘Mamañhi, ānanda, kalyāṇamittaṃ āgamma jātidhammā sattā
jātiyā parimuccanti, jarādhammā sattā jarāya parimuccanti,
byādhidhammā sattā byādhito parimuccanti, maraṇadhammā sattā
maraṇena parimuccanti,
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammā sattā
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi parimuccanti. Iminā kho
etaṃ, ānanda, pariyāyena veditabbaṃ yathā sakalamevidaṃ
brahmacariyaṃ – yadidaṃ kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā
kalyāṇasampavaṅkatā’’ti.
Này Ānanda, chính do chúng
sanh y cứ nơi Ta là bạn lành nên chúng sanh bị già được
thoát khỏi già; bị bệnh được thoát khỏi bệnh; bị chết được
thoát khỏi chết; bi sầu, bi, khổ, ưu, ai thoát khỏi sầu, bi,
khổ, ưu, ai. Và Ānanda với phương cách này, này , cần phải
hiểu toàn bộ đời sống Phạm hạnh này là có bạn lành, kết giao
với bạn lành, thân thiết với bạn lành
‘‘Tasmātiha te, mahārāja, evaṃ sikkhitabbaṃ – ‘kalyāṇamitto
bhavissāmi kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko’ti. Evañhi te,
mahārāja, sikkhitabbaṃ.
‘‘Kalyāṇamittassa te, mahārāja, kalyāṇasahāyassa
kalyāṇasampavaṅkassa ayaṃ eko dhammo upanissāya vihātabbo –
appamādo kusalesu dhammesu.
Do vậy, này Ðại vương, cần
phải hành trì như sau: "Tôi sẽ là người có bạn lành, kết
giao với bạn lành, thân thiết với bạn lành". Như vậy, này
Ðại vương, Ðại vương cần phải thực hành.
Này Ðại vương, khi Đại vương
có bạn lành, kết giao với bạn lành, thân thiết với bạn lành
cần an trú vào một pháp làm nền tảng là không giải đãi trong
thiện pháp.
‘‘Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṃ upanissāya,
itthāgārassa anuyantassa evaṃ bhavissati – ‘rājā kho
appamatto viharati, appamādaṃ upanissāya. Handa, mayampi
appamattā viharāma, appamādaṃ upanissāyā’’’ti.
Nầy Đại vương, khi Đại vương
an trú vào pháp không giải đãi, y cứ vào pháp không giải đãi
thời các cung nhân sẽ suy nghĩ rằng: Đại vương an trú vào
pháp không giải đãi, y cứ vào pháp không giải đãi thời vậy
chúng ta hãy an trú vào pháp không giải đãi, y cứ vào pháp
không giải đãi.
‘‘Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṃ upanissāya,
khattiyānampi anuyantānaṃ evaṃ bhavissati – ‘rājā kho
appamatto viharati appamādaṃ upanissāya. Handa, mayampi
appamattā viharāma, appamādaṃ upanissāyā’’’ti.
Nầy Đại vương, khi Đại vương
an trú vào pháp không giải đãi, y cứ vào pháp không giải đãi
thời các sát đế ỵ chư hầu sẽ suy nghĩ rằng: Đại vương an trú
vào pháp không giải đãi, y cứ vào pháp không giải đãi thời
vậy chúng ta hãy an trú vào pháp không giải đãi, y cứ vào
pháp không giải đãi.
‘‘Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṃ upanissāya,
balakāyassapi evaṃ bhavissati – ‘rājā kho appamatto viharati
appamādaṃ upanissāya. Handa, mayampi appamattā viharāma,
appamādaṃ upanissāyā’’’ti.
Nầy Đại vương, khi Đại
vương an trú vào pháp không giải đãi, y cứ vào pháp không
giải đãi thời các
binh lính sẽ suy nghĩ rằng: Đại
vương an trú vào pháp không giải đãi, y cứ vào pháp không
giải đãi thời vậy chúng ta hãy an trú vào pháp không giải
đãi, y cứ vào pháp không giải đãi.
‘‘Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṃ upanissāya,
negamajānapadassapi evaṃ bhavissati – ‘rājā kho appamatto
viharati, appamādaṃ upanissāya. Handa, mayampi appamattā
viharāma, appamādaṃ upanissāyā’’’ti?
Nầy Đại vương, khi Đại vương
an trú vào pháp không giải đãi, y cứ vào pháp không giải đãi
thời dân chúng ở thành thị và thôn quê sẽ suy nghĩ rằng: Đại
vương an trú vào pháp không giải đãi, y cứ vào pháp không
giải đãi thời vậy chúng ta hãy an trú vào pháp không giải
đãi, y cứ vào pháp không giải đãi.
‘‘Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṃ upanissāya,
attāpi gutto rakkhito bhavissati – itthāgārampi guttaṃ
rakkhitaṃ bhavissati, kosakoṭṭhāgārampi guttaṃ rakkhitaṃ
bhavissatī’’ti. Idamavoca...pe...
Thưa Ðại vương, nếu Ðại
vương an trú vào pháp không giải đãi, y cứ vào pháp không
giải đãi thời bản thân được phòng hộ,
cung nhân được phòng
hộ, kho báu được phòng hộ.
‘‘Bhoge patthayamānena, uḷāre aparāpare;
Appamādaṃ pasaṃsanti, puññakiriyāsu paṇḍitā.
Với người mong tài sản
‘‘Appamatto ubho atthe, adhiggaṇhāti paṇḍito;
Trí giả không giải đãi
‘‘Bhoge patthayamānena
uḷāre aparāpare
=
Đối với người
mong cầu tài sản thường tăng thịnh.
‘‘Appamādaṃ pasaṃsanti
puññakiriyāsu paṇḍitā
=
Bậc thiện trí tán thán sự dốc lòng không chễnh mảng trong
việc tạo phước
Appamatto ubho atthe
adhiggaṇhāti
paṇḍito
Diṭṭhe dhamme ca yo attho
yo
cattho samparāyiko
=
Người có trí tinh cần không giải đãi khiến thành tựu lợi lạc
cả hai đời nầy và kiếp sau.
Atthābhisamayā dhīro
= hiền nhân luôn chuyên chú
paṇḍitoti pavuccatī’’ti
=
được gọi là bậc trí
Theo Sớ giải dù Pháp được Đức Tôn khéo giảng dạy nhưng để thật
sự đạt được lợi ích người thực hành cần biết ứng dụng thích
hợp và có được bạn lành trợ duyên như câu: Bậc thánh tu đà
huờn là bậc nghe được diệu pháp, thân cận thiện hữu..
Tỳ kheo Giác Đẳng chuyển dịch và biên soạn giáo trình
-ooOoo- |