|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 12 tháng 01, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG III. TƯƠNG ƯNG KOSALA, PHẨM THỨ HAI (S.i,89)
@@@
Bài 9. Kinh Không Con Thừa Tự, bài I (Paṭhama aputtakasuttaṃ) Vấn Đề Không Phải Đồng Tiền Mà Là Tiêu Tiền
Theo lời Phật
dạy giàu có không phải là tội lỗi mà điểm quan trọng là biết
xài tiền thích đáng hay không. Xài tiền thích đáng, cũng
theo lời Phật dạy, là biết mang lại hạnh phúc cho bản thân,
cho người chung quanh và xã hội. Những Phật ngôn trong bài
kinh nầy, một lần nữa cho thấy tính thực tiễn của Đạo Phật.
Nhiều người lên án đồng tiền nhưng quên rằng vấn đề không
phải là đồng tiền mà là cách tiêu tiền.
Tựa đề bài kinh
nầy đúng ra nên dịch là Kinh Vô Tự I có nghĩa là bài kinh
nói về câu chuyện người giàu chết đi không con cái thừa kế.
Nhưng dịch như vậy có thể bị hiểu là kinh vô tự trong Tây Du
Ký.
Sāvatthinidānaṃ.
Tại Sāvatthi.
Atha kho rājā pasenadi kosalo divā divassa yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho rājānaṃ pasenadiṃ
kosalaṃ bhagavā etadavoca –
Lúc bấy giờ vào buổi trưa
vua Pasenadi xứ Kosala, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vua :
‘‘handa, kuto nu tvaṃ, mahārāja, āgacchasi divā
divassā’’ti?
-- Này Ðại vương, Ðại vương
đi từ đâu đến trong giữa trưa như thế này?.
‘‘Idha, bhante, sāvatthiyaṃ seṭṭhi
gahapati kālaṅkato. Tamahaṃ aputtakaṃ sāpateyyaṃ
rājantepuraṃ atiharitvā āgacchāmi. Asīti, bhante,
satasahassāni hiraññasseva, ko pana vādo rūpiyassa! Tassa
kho pana, bhante, seṭṭhissa gahapatissa evarūpo bhattabhogo
ahosi – kaṇājakaṃ bhuñjati bilaṅgadutiyaṃ. Evarūpo
vatthabhogo ahosi – sāṇaṃ dhāreti tipakkhavasanaṃ. Evarūpo
yānabhogo ahosi – jajjararathakena yāti paṇṇachattakena
dhāriyamānenā’’ti.
-- Bạch Thế Tôn,
có gia chủ cự phú làm
về tài chánh ở Sàvatthi vừa mệnh chung. Người nầy không có
con con cái thừa kế. Con đến kiểm kê tài sản của vị ấy để
chuyển vào nội cung. Bạch Thế Tôn, có đến tám triệu đồng
tiền vàng, không nói đến tiền bằng bạc. Mặc dù vậy đồ ăn của
triệu phú gia chủ ấy lại chỉ gồm cơm hẩm và súp chua; còn y
phục chỉ may là ba tấm may bằng vải gai; di chuyển bằng
chiếc xe nhỏ cũ kỹ chen chắn bằng lá.
‘‘Evametaṃ, mahārāja, evametaṃ, mahārāja!
Asappuriso kho, mahārāja, uḷāre
bhoge labhitvā nevattānaṃ sukheti pīṇeti, na mātāpitaro
sukheti pīṇeti, na puttadāraṃ sukheti pīṇeti, na
dāsakammakaraporise sukheti pīṇeti, na mittāmacce sukheti
pīṇeti, na samaṇabrāhmaṇesu uddhaggikaṃ dakkhiṇaṃ
patiṭṭhāpeti sovaggikaṃ sukhavipākaṃ saggasaṃvattanikaṃ.
Tassa te bhoge evaṃ sammā aparibhuñjiyamāne [aparibhuñjamāno
(sabbattha)] rājāno vā haranti corā vā haranti aggi vā
ḍahati udakaṃ vā vahati appiyā vā dāyādā haranti. Evaṃsa te
[evaṃ sante (sī. pī.)], mahārāja, bhogā sammā
aparibhuñjiyamānā parikkhayaṃ gacchanti, no paribhogaṃ.
Quả thật vậy, này Đại vương.
Quả thật vậy, này Đại vương. Một
người tầm thường dù là cự phú cũng không tạo hạnh phúc cho
bản thân, không tạo hạnh phúc cho cha mẹ, không tạo hạnh
phúc cho vợ con, không tạo hạnh phúc cho người làm công và
người phục dịch, không tạo hạnh phúc cho người đông sự và
thân hữu. Người ấy không biết cúng dường các bậc sa môn, bà
la môn tu tập hướng thượng, dẫn đến quả lành thiên giới, tạo
nên hạnh phúc, đưa đến cảnh giới an lạc. Khi không sử dụng
tài sản chánh đáng thì của cải người ấy rồi bị vua sung vào
công quỹ, hoặc bị trộm cắp chiếm đoạt, bị lửa cháy, nước
cuốn trôi, hoặc rơi vào tay người thừa kế không ân tình. Sự
tình là vậy. Tài sản không hưởng dụng thoả đáng thì đưa đến
uổng phí, không vô ích.
‘‘Seyyathāpi, mahārāja, amanussaṭṭhāne pokkharaṇī
acchodakā sītodakā sātodakā setodakā supatitthā ramaṇīyā.
Taṃ jano neva hareyya na piveyya na nahāyeyya na
yathāpaccayaṃ vā kareyya. Evañhi taṃ, mahārāja, udakaṃ sammā
aparibhuñjiyamānaṃ [aparibhuñjamānaṃ (syā. kaṃ.)]
parikkhayaṃ gaccheyya, no paribhogaṃ. Evameva kho, mahārāja,
asappuriso uḷāre bhoge labhitvā nevattānaṃ sukheti pīṇeti,
na mātāpitaro sukheti pīṇeti, na puttadāraṃ sukheti pīṇeti,
na dāsakammakaraporise sukheti pīṇeti, na mittāmacce sukheti
pīṇeti, na samaṇabrāhmaṇesu uddhaggikaṃ dakkhiṇaṃ
patiṭṭhāpeti sovaggikaṃ sukhavipākaṃ saggasaṃvattanikaṃ.
Tassa te bhoge evaṃ sammā aparibhuñjiyamāne rājāno vā
haranti corā vā haranti aggi vā ḍahati udakaṃ vā vahati
appiyā vā dāyādā haranti. Evaṃsa te [evaṃ sante (sī. pī.)],
mahārāja, bhogā sammā aparibhuñjiyamānā parikkhayaṃ
gacchanti, no paribhogaṃ.
Nầy Đại vương, ví như một nơi không có người sinh sống ở đó
có hồ nước ngọt trong mát, sạch sẽ với bờ khả ái, hữu tình.
Nhưng lại không có người đến lấy nước, uống nước, hoặc sử
dụng cho bất cứ mục đích gì. Nước trong hồ được xem là vô
ích vì không sử dụng, uổng phí,
vô ích. Cũng vậy, một người tầm thường dù là cự phú
cũng không tạo hạnh phúc cho bản thân, không tạo hạnh phúc
cho cha mẹ, không tạo hạnh phúc cho vợ con, không tạo hạnh
phúc cho người làm công và người phục dịch, không tạo hạnh
phúc cho người đông sự và thân hữu. Người ấy không biết cúng
dường các bậc sa môn, bà la môn tu tập hướng thượng, dẫn đến
quả lành thiên giới, tạo nên hạnh phúc, đưa đến cảnh giới an
lạc. Khi tài sản
không sử dụng chánh đáng thì của cải người ấy rồi bị vua
sung vào công quỹ, hoặc bị trộm cắp chiếm đoạt, bị lửa cháy,
nước cuốn trôi, hoặc rơi vào tay người thừa kế không ân
tình. Sự tình là vậy. Tài sản không hưởng dụng thoả đáng thì
đưa đến uổng phí, vô ích.
‘‘Sappuriso ca kho, mahārāja, uḷāre bhoge labhitvā attānaṃ
sukheti pīṇeti, mātāpitaro sukheti pīṇeti, puttadāraṃ
sukheti pīṇeti, dāsakammakaraporise sukheti pīṇeti,
mittāmacce sukheti pīṇeti, samaṇabrāhmaṇesu uddhaggikaṃ
dakkhiṇaṃ patiṭṭhāpeti sovaggikaṃ sukhavipākaṃ
saggasaṃvattanikaṃ. Tassa te bhoge evaṃ sammā
paribhuñjiyamāne neva rājāno haranti, na corā haranti, na
aggi ḍahati, na udakaṃ vahati, na appiyā dāyādā haranti.
Evaṃsa te, mahārāja, bhogā sammā paribhuñjiyamānā paribhogaṃ
gacchanti, no parikkhayaṃ.
Này Đại vương một bậc thượng
nhân có tài sản lớn biết mang lại hạnh phúc cho bản thân,
tạo hạnh phúc cho cha mẹ, tạo hạnh phúc cho vợ con,
tạo hạnh phúc cho người làm công và người phục dịch,
tạo hạnh phúc cho người đông sự và thân hữu. Người ấy
biết cúng dường các bậc sa môn, bà la môn tu tập
hướng thượng, dẫn đến quả lành thiên giới, tạo nên hạnh
phúc, đưa đến cảnh giới an lạc. Khi sử dụng tài sản chánh
đáng thì của cải người ấy không bị vua sung vào công quỹ,
không bị trộm cắp chiếm đoạt, không bị lửa cháy, không nước
cuốn trôi, không rơi vào tay người thừa kế không ân tình. Sự
tình là vậy. Tài sản hưởng dụng thoả đáng thì đưa đến hữu
ích, không uổng phí.
‘‘Seyyathāpi, mahārāja, gāmassa vā nigamassa vā avidūre
pokkharaṇī acchodakā sītodakā sātodakā setodakā supatitthā
ramaṇīyā. Tañca udakaṃ jano hareyyapi piveyyapi nahāyeyyapi
yathāpaccayampi kareyya. Evañhi taṃ, mahārāja, udakaṃ sammā
paribhuñjiyamānaṃ paribhogaṃ gaccheyya, no parikkhayaṃ.
Evameva kho, mahārāja, sappuriso uḷāre bhoge labhitvā
attānaṃ sukheti pīṇeti, mātāpitaro sukheti pīṇeti,
puttadāraṃ sukheti pīṇeti, dāsakammakaraporise sukheti
pīṇeti, mittāmacce sukheti pīṇeti, samaṇabrāhmaṇesu
uddhaggikaṃ dakkhiṇaṃ patiṭṭhāpeti sovaggikaṃ sukhavipākaṃ
saggasaṃvattanikaṃ. Tassa te bhoge evaṃ sammā
paribhuñjiyamāne neva rājāno haranti, na corā haranti, na
aggi ḍahati, na udakaṃ vahati, na appiyā dāyādā haranti.
Evaṃsa te, mahārāja, bhogā sammā paribhuñjiyamānā paribhogaṃ
gacchanti, no parikkhaya’’nti.
Ví như, thưa Ðại vương, một
hồ nước không xa làng mạc hay thị trấn, với nước trong sáng,
với nước mát lạnh, với nước dịu ngọt, với nước trắng tinh,
với bờ bến tốt đẹp và khả ái. Và có người đến gánh nước, hay
uống nước, hay tắm, hay xử dụng hồ nước ấy vào bất cứ công
việc gì. Như vậy, thưa Ðại vương, nước ấy được thọ dụng chơn
chánh, sẽ đưa đến thọ hưởng, không đưa đến tổn giảm. Cũng
vậy, thưa Ðại vương, một bậc Chân nhân khi được tài sản lớn,
đem lại an lạc cho mình... ... Sự việc là vậy, các tài sản
được sử dụng chơn chánh, sẽ đưa đến thọ hưởng, không đưa đến
tổn giảm.
Nầy Đại vương, ví như có một
hồ sen trong mát ần làng mạc, thị trấn nơi
có nước ngọt trong mát, sạch sẽ với
bờ khả ái, hữu tình. Thường có
người đến lấy nước, uống nước, hoặc sử dụng cho nhiều mục
đích thích hợp. Nước trong hồ được xem là hữu ích, không
uổng phí. Tương tự như vậy, bậc thượng nhân có tài sản lớn
biết mang lại hạnh phúc cho bản thân, tạo hạnh phúc cho cha
mẹ, tạo hạnh phúc cho vợ con,
tạo hạnh phúc cho người làm công và người phục dịch,
tạo hạnh phúc cho người đông sự và thân hữu. Người ấy
biết cúng dường các bậc sa môn, bà la môn tu tập
hướng thượng, dẫn đến quả lành thiên giới, tạo nên hạnh
phúc, đưa đến cảnh giới an lạc. Khi sử dụng tài sản chánh
đáng thì của cải người ấy không bị vua sung vào công quỹ,
không bị trộm cắp chiếm đoạt, không bị lửa cháy, không nước
cuốn trôi, không rơi vào tay người thừa kế không ân tình. Sự
tình là vậy. Tài sản hưởng dụng thoả đáng thì đưa đến hữu
ích, không uổng phí.
‘‘Amanussaṭṭhāne udakaṃva sītaṃ,
Như nước mát rừng sâu
‘‘Amanussaṭṭhāne udakaṃva sītaṃ = như hồ nước mát ở nơi không có người sinh sống
Chữ seṭṭhi - thường dịch là bá hộ hay trưởng giả nhưng từ vựng
nầy không đơn giản là người giàu có mà là một người có tài
sản và thế lực lớn để cho vay tiền. Có thể nói công việc của
seṭṭhi như ngân hàng thời cổ. Ông Cấp Cô Độc cũng là một
seṭṭhi.
Sappurisa và
asappurisa thường được HT Minh Châu dịch là chân nhân và phi
chân nhân. Trong chữ Hán và văn hoá Trung Hoa chân nhân được
hiểu như một người tu tiên đạo có thành tựu mặc dù chưa đạt
đến mức thượng thừa. Hai chữ sappurisa
và asappurisa ở mức độ nào đó có cách dùng giống như
quân tử và tiểu nhân, bậc thiện trí và người ngu ác. Ở đây
dùng chữ bậc thượng nhân và người tầm thường để chỉ cho
người sống có trí tuệ, có đức hạnh đối người với người thiểu
trí, sống với ác hạnh. Tỳ kheo Giác Đẳng chuyển dịch và biên soạn giáo trình
-ooOoo- |