|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, 14 tháng 01, 2022
MÔN HỌC PHẠN NGỮ PÀLÌ
Văn phạm:
1. Biến cách danh từ nam tánh vĩ
ngữ “I”
Aggi = lửa
Số ít |
Số nhiều
Chủ cách aggi | aggī / aggayo 2. Một số danh từ nam tánh vĩ ngữ
“I”
muni / isi – bậc hiền thánh, bậc minh triết
PĀLI
VUI ĐỂ HỌC
Lòng
Người Khó Biết
Tâm thức là lãnh vực rộng lớn
trong Phật học. Riêng về từ ngữ rất đa dạng cần sự tinh
nghĩa. Những học giả Phương Tây thường nói rằng trong
Phạm ngữ có rất nhiều khái niệm về tâm lý mà chuyển dịch
sang ngôn ngữ khác rất khó tìm được chữ tương đương.
Phật học định nghĩa tâm là
biết cảnh. Thế nhưng cái biết của tưởng tri, thức tri và
tuệ tri hoàn toàn khác nhau.
Thắng Pháp trong sự trình bày
về các thuộc tánh
lại nói về những khía cạnh tâm lý cùng sanh trong
một sát na tâm thí dụ sự cảm nhận của “thọ”, sự chủ tâm
tạo tác của “tư”, sự hướng tâm suy nghĩ của “tầm”. Tất
cả nói về thế giới vĩ mô đầy tế nhị. Trong Phật học thì
chữ tư duy (saṅkappa) và tầm (vitakka) đều chỉ chung cho
sự suy nghĩ hay hướng tâm.
Có những thuật ngữ tâm lý, dù
là thuật ngữ, thì vẫn phải rất ư là cẩn thận thí dụ chữ
manasikāra thường dịch là “tác ý” như nếu là “tác ý tâm
sở (manasikāracetasika)” thì mang nghĩa rất khác với với
“khéo tác ý (yoniso manasikāra). Rắc rối hơn nữa cả hai
đều không có nghĩa là “ý định” trong cách nói tác ý bình
thường.
Ngay cả những từ vựng thường
được hiểu là “đồng nghĩa” nhưng phân tích kỹ thì rất
nhiều “bất đồng”. Có những bản liệt kê bắt đầu với “tâm
nhãn thức, tâm nhĩ thức… cuối cùng là tâm ý thức”. Tâm ý
thức có thể được hiểu là một thứ tâm ngoài 5 giác quan
biết cảnh vật chất. Thế nhưng cả ba chữ “tâm”, “ý”, và
“thức” thường được dùng để chỉ chuyển ba chữ citta,
mana, và viññāna là ba thuật ngữ riêng biệt. Chữ cítta -
thường dịch là tâm để nói chung về tâm lý (còn gọi là
danh pháp
-nāma) đối nghĩa với sắc – rūpa); chữ nầy cũng dùng để
nói riêng cho hai phần của danh pháp là tâm và tâm sở
(thuộc tánh của tâm). Cũng nên nói thêm là khi nói về
thuộc tánh của tâm, hay tâm sở, thì xài chữ ceta thay vì
citta. Trong
lúc chữ viññāna - thường dịch là thức để nói về các giác
quan như nhãn thức, nhĩ thức… Còn chữ mana - thường dịch
là ý thì chỉ cho thứ giác quan nằm ngoài ngũ quan gọi là
ý thức. (Nên phân rõ là ý thức hay thức thứ sáu trong
Phật học rất khác nghĩa với cái gọi là “giác quan thứ
sáu” theo thường thức (….). Dù có khác biệt trong cách
dùng nhưng nếu hỏi các vị pháp sư thì vẫn thường nhận
được câu trả lời: tâm, ý, thức đều đồng nghĩa. Thực tế
thì có khi đồng nghĩa, có khi khác nghĩa.
Người ta thường nói sống theo
vật chất là phức tạp mà nghiêng về tinh thần đơn giản
hơn. Thật sự không hẳn là vậy. Cũng có câu: Dò sông dò
biển dễ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người. Câu ca
dao nầy có thể hiểu nhiều cách. Nhưng áp dụng ở đây về
ngôn ngữ thì có thể nói: thuật ngữ vể tâm lý trong Phật
học rắc rối vô cùng.
PĀLI TRONG NGHI THỨC NHẬT HÀNH
Xin
Tuỳ Hỷ Phước Hạnh
Ettāvatā ca amhehi
Do chúng tôi đã tạo
Bài tập
Bài tập 25
Dịch tiếng Pāli sang
tiếng Việt
1. Munayo sīlaṃ rakkhantā girimhi guhāsu vasiṃsu =
Dịch Tiếng Việt sang tiếng Pāli 2. Bệnh tật bức bách con người sống trong đời= 3. Người đàn bà ngồi trên đất đong gạo bằng cái đấu= 4. Những gia chủ làm ác nghiệp không đãnh lễ các bậc hiền thánh= 5. Nếu bạn đào kho báu sẽ tìm thấy những viên ngọc= 6. Tôi đã giặt những y phục thường do vợ giặt giũ= Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
|