BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 15 tháng 01, 2022

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG III. TƯƠNG ƯNG KOSALA, PHẨM THỨ HAI (S.i,91)

@@@

Bài 10. Kinh Không Con Thừa Tự, bài II (Dutiyaaputtakasuttaṃ) NGHIỆP TRẮNG LẪN ĐEN TẠO QUẢ ĐEN LẪN TRẮNG.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 

 

Bài kinh trước và bài kinh nầy có câu chuyện tương tự về phú gia sống cơ cực dù giàu có và khi chết không con thừa tự. Trong bài trước Đức Phật dạy về hai hạng người ở đời: người tầm thường và bậc thượng nhân. Bài kinh nầy Đức Phật dạy về chi tiết của nghiệp quả mà trong đó có sự pha trộn giữa nghiệp lành và nghiệp xấu. Góc nhìn nầy đặc biệt đi sâu vào nghiệp duyên quá khứ và sự trỗ quả pha lẫn. Đoạn cuối cũng dạy về sự nhận thức nên về nghiệp báo trong đời sống.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Atha kho rājā pasenadi kosalo divā divassa yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho rājānaṃ pasenadiṃ kosalaṃ bhagavā etadavoca

Lúc bấy giờ vào buổi trưa vua Pasenadi xứ Kosala, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vua:

‘‘handa, kuto nu tvaṃ, mahārāja, āgacchasi divā divassā’’ti?

-- Này Ðại vương, Ðại vương đi từ đâu đến giữa trưa như thế này?.

‘‘Idha, bhante, sāvatthiyaṃ seṭṭhi gahapati kālaṅkato. Tamahaṃ aputtakaṃ sāpateyyaṃ rājantepuraṃ atiharitvā āgacchāmi. Asīti, bhante, satasahassāni hiraññasseva, ko pana vādo rūpiyassa! Tassa kho pana, bhante, seṭṭhissa gahapatissa evarūpo bhattabhogo ahosi – kaṇājakaṃ bhuñjati bilaṅgadutiyaṃ. Evarūpo vatthabhogo ahosi – sāṇaṃ dhāreti tipakkhavasanaṃ. Evarūpo yānabhogo ahosi – jajjararathakena yāti paṇṇachattakena dhāriyamānenā’’ti.

-- Bạch Thế Tôn, có gia chủ cự phú làm về tài chánh ở Sàvatthi vừa mệnh chung. Người nầy không có con cái thừa kế. Con đến kiểm kê tài sản của vị ấy để chuyển vào nội cung. Bạch Thế Tôn, có đến mưòi triệu đồng tiền vàng, không nói đến tiền bằng bạc. Mặc dù vậy đồ ăn của triệu phú gia chủ ấy lại chỉ gồm cơm hẩm và muối dưa; còn y phục chỉ may là ba tấm may bằng vải gai; di chuyển bằng chiếc xe nhỏ cũ kỹ che chắn bằng lá.

‘‘Evametaṃ, mahārāja, evametaṃ, mahārāja! Bhūtapubbaṃ so, mahārāja, seṭṭhi gahapati taggarasikhiṃ nāma paccekasambuddhaṃ piṇḍapātena paṭipādesi. ‘Detha samaṇassa piṇḍa’nti vatvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi. Datvā ca pana pacchā vippaṭisārī ahosi – ‘varametaṃ piṇḍapātaṃ dāsā vā kammakarā vā bhuñjeyyu’nti. Bhātu ca pana ekaputtakaṃ sāpateyyassa kāraṇā jīvitā voropesi.

Đúng như vậy, này Ðại vương. Đúng như vậy, này Ðại vương.  Vị phú gia ấy đời trước có cúng dường cho một vị Phật độc giác tên Tagarasikhī. Từ bảo (người làm công) “hãy cho thực phẩm tới vị sa môn đó” rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi. Sau đó hối tiếc với suy nghĩ: “phải chi thức ăn đó cho người phục dịch hay người làm công thì tốt hơn”. Sau nầy vị phú gia ấy còn giết người con duy nhất của người anh ruột để chiếm đoạt tài sản.

‘‘Yaṃ kho so, mahārāja, seṭṭhi gahapati taggarasikhiṃ paccekasambuddhaṃ piṇḍapātena paṭipādesi, tassa kammassa vipākena sattakkhattuṃ sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajji. Tasseva kammassa vipākāvasesena imissāyeva sāvatthiyā sattakkhattuṃ seṭṭhittaṃ kāresi.

Do sự bố thí đến Độc giác Phật Tagarasikhī, vị phú gia ấy được quả lành sanh thiên giới bảy lần. Phước còn lại khiến vị nầy bảy lần sanh làm phú gia ở Sāvatthī.

Yaṃ kho so, mahārāja, seṭṭhi gahapati datvā pacchā vippaṭisārī ahosi – ‘varametaṃ piṇḍapātaṃ dāsā vā kammakarā vā bhuñjeyyu’nti, tassa kammassa vipākena nāssuḷārāya bhattabhogāya cittaṃ namati, nāssuḷārāya vatthabhogāya cittaṃ namati, nāssuḷārāya yānabhogāya cittaṃ namati, nāssuḷārānaṃ pañcannaṃ kāmaguṇānaṃ bhogāya cittaṃ namati.

Này Ðại vương, do sự tiếc nuối khi bố thí: “phải chi thức ăn đó cho người phục dịch hay người làm công thì tốt hơn” nên khiến tâm vị nầy không hưởng dụng thức ăn ngon, y phục đẹp, xe cộ tốt hoặc hưởng được năm dục lạc.

Yaṃ kho so, mahārāja, seṭṭhi gahapati bhātu ca pana ekaputtakaṃ sāpateyyassa kāraṇā jīvitā voropesi, tassa kammassa vipākena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni niraye paccittha. Tasseva kammassa vipākāvasesena idaṃ sattamaṃ aputtakaṃ sāpateyyaṃ rājakosaṃ paveseti. Tassa kho, mahārāja, seṭṭhissa gahapatissa purāṇañca puññaṃ parikkhīṇaṃ, navañca puññaṃ anupacitaṃ. Ajja pana, mahārāja, seṭṭhi gahapati mahāroruve niraye paccatī’’ti.

Này Ðại vương, do vị phú gia ấy đời trước đã đoạt mạng con người anh để chiếm đoạt tài sảnh nên quả trỗ chịu nhiều thống khổ trong địa ngục hằng trăm năm, hằng ngàn năm, hằng vạn năm. Quả xấu dư xót khiến người đó đã bảy lần tài sản bị sung công vì không con thừa tự.

Này Ðại vương, người ấy phước cũ đã hết mà phước mới không tạo thêm. Hiện phú gia ấy đang chịu khổ trong địa ngục Mahāroruva.

‘‘Evaṃ, bhante, seṭṭhi gahapati mahāroruvaṃ nirayaṃ upapanno’’ti.

-- Bạch Thế Tôn, như vậy phú gia ấy đã sanh vào địa ngục Mahāroruva?

‘‘Evaṃ, mahārāja, seṭṭhi gahapati mahāroruvaṃ nirayaṃ upapanno’’ti. Idamavoca...pe....

-- Này Ðại vương, đúng như vậy. Phú gia ấy đã sanh vào địa ngục Mahāroruva.

‘‘Dhaññaṃ dhanaṃ rajataṃ jātarūpaṃ, pariggahaṃ vāpi yadatthi kiñci;
Dāsā kammakarā pessā, ye cassa anujīvino.
‘‘Sabbaṃ nādāya gantabbaṃ, sabbaṃ nikkhippagāminaṃ;
Yañca karoti kāyena, vācāya uda cetasā.

Lúa, bạc, vàng, tài sản
Hay vật sở hữu nào
Người làm công, nô dịch,
những người sống tùy thuộc
Đều bỏ lại tất cả
Không mang theo một gì
Khi rời cuộc sống nầy.

‘‘Tañhi tassa sakaṃ hoti, tañca ādāya gacchati;
Tañcassa anugaṃ hoti, chāyāva anapāyinī.

Chỉ hạnh nghiệp đã làm
Từ thân, ngữ, và ý
Thật sự của chúng sanh
Mang theo khi ra đi
Theo suốt cuộc hành trình
Như bóng không rời hình

‘‘Tasmā kareyya kalyāṇaṃ, nicayaṃ samparāyikaṃ;
Puññāni paralokasmiṃ, patiṭṭhā honti pāṇina’’ntntti.

Do vậy hãy hành thiện,
Huân tập cho đời sau,
Phưóc nâng đỡ chúng sanh
Đời nầy và cõi khác

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

‘‘Dhaññaṃ dhanaṃ rajataṃ jātarūpaṃ =Lúa, bạc, vàng, tài sản
pariggahaṃ vāpi yadatthi kiñci =Hay bất cứ vật sở hữu nào
Dāsā kammakarā pessā = nô lệ, người phục dịch, công nhân
ye cassa anujīvino = những người sống tùy thuộc
‘‘Sabbaṃ nādāya gantabbaṃ =ra đi không mang theo được gì
sabbaṃ nikkhippagāminaṃ = Tất cả đều bỏ lại
Yañca karoti kāyena vācāya uda cetasā = chỉ có hạnh nghiệp do thân, ngữ, ý.
‘‘Tañhi tassa sakaṃ hoti = có thể gọi đó của mình
tañca ādāya gacchati = ra đi mang theo
Tañcassa anugaṃ hoti = Đó là cái đi theo
chāyāva anapāyinī = như bóng với hình
‘‘Tasmā kareyya kalyāṇaṃ = Do vậy hãy làm điều lành
nicayaṃ samparāyikaṃ = huân tập cho kiếp lai sinh
Puññāni paralokasmiṃ patiṭṭhā honti pāṇina’ti = Phước nâng đỡ chúng sanh đời nầy và cảnh giới mai hậu.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

 

Phật độc giác – paccekabuddha- là vị có khả năng tự mình giác ngộ nhưng không có khả năng tuyên thuyết giáo pháp như chư Phật toàn giác.

 


Tỳ kheo Giác Đẳng chuyển dịch và biên soạn giáo trình

-ooOoo-