|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 18 tháng 01, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG III. TƯƠNG ƯNG KOSALA, PHẨM THỨ BA (S.i,93)
@@@
Bài 1. Kinh Những Hạng Người (Puggalasuttaṃ) Chỗ Đứng Và Hướng Đi Trong Đời.
Người đời thường quan trọng ý nghĩ “ta là ai?”. Người hiểu
lời Phật dạy chú trọng “hạnh nghiệp đang làm qua thân khẩu
ý” và sẽ dẫn đi về đâu. Nói cách khác nêu chỉ biết về chỗ
đứng hiện tại chưa đủ mà phải hiểu hướng đi dẫn đến đích
điểm nào. Bài kinh nầy cũng ghi lại lời Đức Phật dạy về khả
tính chuyển hoá trong kiếp nhân sinh. Con người là kết quả
của nghiệp quá khứ nhưng nghiệp quá khứ không an bài tất cả.
Những sở hành qua thân khẩu ý trong kiếp hiện tại mới chính
điều cần quan tâm vì sẽ tạo nên hướng đi cho mai hậu.
Sāvatthinidānaṃ.
Tại Sāvatthi.
Atha kho rājā pasenadi kosalo yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.
Ekamantaṃ nisinnaṃ kho rājānaṃ pasenadiṃ kosalaṃ bhagavā
etadavoca –
Bấy giờ vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn, sau khi
đến, đảnh lễ và ngồi
xuống một bên. Thế Tôn nói với vua Pasenadi:
‘‘cattārome, mahārāja, puggalā santo saṃvijjamānā
lokasmiṃ.
Katame cattāro? Tamotamaparāyano, tamojotiparāyano,
jotitamaparāyano, jotijotiparāyano’’
Này Ðại vương, có bốn loại người này hiện hữu ở đời. Bốn
hạng người gồm những gì? Hạng người từ chỗ tối hướng đến chỗ
tối; hạng người từ chỗ tối hướng đến chỗ sáng; hạng người từ
chỗ sáng hướng đến chỗ tối; và hạng người từ chỗ sáng hướng
đến chỗ sáng.
‘‘Kathañca, mahārāja puggalo tamotamaparāyano hoti? Idha,
mahārāja, ekacco puggalo nīce kule paccājāto hoti,
caṇḍālakule vā venakule [veṇakule (sī. syā. kaṃ. pī.)] vā
nesādakule vā rathakārakule vā pukkusakule vā dalidde
appannapānabhojane kasiravuttike, yattha kasirena
ghāsacchādo labbhati. So ca hoti dubbaṇṇo duddasiko
okoṭimako bavhābādho [bahvābādho (ka.)] kāṇo vā kuṇī vā
khañjo vā pakkhahato vā, na lābhī annassa pānassa vatthassa
yānassa mālāgandhavilepanassa seyyāvasathapadīpeyyassa. So
kāyena duccaritaṃ carati, vācāya duccaritaṃ carati, manasā
duccaritaṃ carati. So kāyena duccaritaṃ caritvā vācāya
duccaritaṃ caritvā manasā duccaritaṃ caritvā, kāyassa bhedā
paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjati.
Seyyathāpi, mahārāja, puriso andhakārā vā andhakāraṃ
gaccheyya, tamā vā tamaṃ gaccheyya, lohitamalā vā
lohitamalaṃ gaccheyya. Tathūpamāhaṃ, mahārāja, imaṃ puggalaṃ
vadāmi. Evaṃ kho, mahārāja, puggalo tamotamaparāyano hoti.
Này Ðại vương, thế nào là hạng người từ chỗ tối hướng đến
chỗ tối?
Ở đây có người sanh ra trong tầng lớp thấp của xã hội như
gia đình chiên đà la, đan tre, săn bắn, đóng xe, đổ rác
nghèo khó kham khổ thiếu thốn ăn mặc, thân tướng xấu xí, còm
cỏi, bệnh hoạn kinh niên, mù loà bại liệt. Người ấy không có
thu nhập được thức ăn, thức uống tốt, vải vóc đủ mặc; không
có xe cộ, vòng hoa, hương liệu; những thứ trang điểm; không
có đèn đuốc, phòng ốc, nhà cửa tiện nghi.
Người ấy lại làm các ác hạnh với thân, ác hạnh với khẩu, ác
hạnh với ý. Với đời sống như vậy thân
hoại mạng chung sanh vào cõi khổ, đoạ xứ, địa ngục.
Này Ðại
vương,
ví như một người
đi từ tối tăm này đến tối tăm khác, hay đi từ hắc ám này đến
hắc ám khác, hay từ bần uế nầy này đến bần uế khác. Ta nói
ví dụ đó chỉ cho hạng người từ chỗ tối đến chỗ tối
‘‘Kathañca, mahārāja, puggalo tamojotiparāyano hoti? Idha,
mahārāja, ekacco puggalo nīce kule paccājāto hoti,
caṇḍālakule vā venakule vā nesādakule vā rathakārakule vā
pukkusakule vā dalidde appannapānabhojane kasiravuttike,
yattha kasirena ghāsacchādo labbhati. So ca kho hoti
dubbaṇṇo duddasiko okoṭimako bavhābādho, kāṇo vā kuṇī vā
khañjo vā pakkhahato vā, na lābhī annassa pānassa vatthassa
yānassa mālāgandhavilepanassa seyyāvasathapadīpeyyassa. So
kāyena sucaritaṃ carati, vācāya sucaritaṃ carati, manasā
sucaritaṃ carati. So kāyena sucaritaṃ caritvā vācāya
sucaritaṃ caritvā manasā sucaritaṃ caritvā, kāyassa bhedā
paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati.
Seyyathāpi, mahārāja, puriso pathaviyā vā
pallaṅkaṃ āroheyya, pallaṅkā vā assapiṭṭhiṃ āroheyya,
assapiṭṭhiyā vā hatthikkhandhaṃ āroheyya, hatthikkhandhā vā
pāsādaṃ āroheyya. Tathūpamāhaṃ, mahārāja, imaṃ puggalaṃ
vadāmi. Evaṃ kho, mahārāja, puggalo tamojotiparāyano hoti.
Này Ðại vương, thế nào là hạng người từ chỗ tối đến chỗ
sáng? Ở đây có người
sanh ra trong tầng lớp thấp của xã hội như gia đình chiên đà
la, đan tre, săn bắn, đóng xe, đổ rác nghèo khó kham khổ
thiếu thốn ăn mặc, thân tướng xấu xí, còm cỏi, bệnh hoạn
kinh niên, mù loà bại liệt. Người ấy không có thu nhập được
thức ăn, thức uống tốt, vải vóc đủ mặc; không có xe cộ, vòng
hoa, hương liệu; những thứ trang điểm; không có đèn đuốc,
phòng ốc, nhà cửa tiện nghi.
Người ấy lại làm các thiện hạnh với thân, thiện hạnh với
khẩu, thiện hạnh với ý. Với đời sống như vậy thân hoại mạng
chung sanh vào cõi an lạc, thiên giới.
Này Ðại vương,
ví như một người
từ bùn đất leo lên chiếc cáng, hay từ kiệu leo lên lưng
ngựa, hay từ lưng ngựa leo lên thân voi, hay từ thân voi leo
lên lầu cao. Với ví dụ nầy ta muốn chỉ cho người từ chỗ tối
đến chỗ sáng.
‘‘Kathañca, mahārāja, puggalo jotitamaparāyano hoti? Idha,
mahārāja, ekacco puggalo ucce kule paccājāto hoti,
khattiyamahāsālakule vā brāhmaṇamahāsālakule vā
gahapatimahāsālakule vā, aḍḍhe mahaddhane mahābhoge
pahūtajātarūparajate pahūtavittūpakaraṇe pahūtadhanadhaññe.
So ca hoti abhirūpo dassanīyo pāsādiko, paramāya
vaṇṇapokkharatāya samannāgato, lābhī annassa pānassa
vatthassa yānassa mālāgandhavilepanassa
seyyāvasathapadīpeyyassa. So kāyena duccaritaṃ carati,
vācāya duccaritaṃ carati, manasā duccaritaṃ carati. So
kāyena duccaritaṃ caritvā vācāya duccaritaṃ caritvā manasā
duccaritaṃ caritvā, kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ
duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjati.
‘‘Seyyathāpi, mahārāja, puriso pāsādā vā hatthikkhandhaṃ
oroheyya, hatthikkhandhā vā assapiṭṭhiṃ oroheyya,
assapiṭṭhiyā vā pallaṅkaṃ oroheyya, pallaṅkā vā pathaviṃ
oroheyya, pathaviyā vā andhakāraṃ paviseyya. Tathūpamāhaṃ,
mahārāja, imaṃ puggalaṃ vadāmi. Evaṃ kho, mahārāja, puggalo
jotitamaparāyano hoti.
Này Ðại vương, thế nào là hạng người từ chỗ sáng đến chỗ
tối?
Và thưa Ðại vương, thế nào là người sống trong ánh sáng
hướng đến bóng tối? Ở đây có số người sanh ra trong gia đình
tầng lớp cao như gia đình sát đế lỵ hào môn, hay trong gia
đình Bà-la-môn hào môn, hay trong gia đình gia chủ hào môn
có tiền của lớn, có tài sản lớn, có nhiều vàng và bạc, có
nhiều tài sản vật dụng, nhiều tiền của, ngũ cốc. Người ấy có
ngoại hình khả ái, thanh tú, với màu da đẹp, mỹ miều. Người
ấy có dư thừa thức ăn, thức uống tốt, vải vóc y phục; xe cộ,
vòng hoa, hương liệu; những thứ trang điểm; đèn đuốc, phòng
ốc, nhà cửa tiện nghi.
Người ấy lại làm các ác hạnh với thân, ác hạnh với khẩu, ác
hạnh với ý. Với đời sống nhưng vậy thân hoại mạng chung sanh
vào cõi khổ, đoạ xứ, địa ngục.
Ví như một người leo từ lầu cao xuống lưng voi; từ lưng voi
xuống lưng ngựa; từ lưng ngựa xuống chiếc cáng, từ chiếc
cáng xuống bùn đất. Ta nói ví dụ nầy chỉ cho người từ chỗ
sáng đi đến chỗ tối.
‘‘Kathañca, mahārāja, puggalo jotijotiparāyano hoti? Idha,
mahārāja, ekacco puggalo ucce kule paccājāto hoti,
khattiyamahāsālakule vā brāhmaṇamahāsālakule vā
gahapatimahāsālakule vā, aḍḍhe mahaddhane mahābhoge
pahūtajātarūparajate pahūtavittūpakaraṇe pahūtadhanadhaññe.
So ca hoti abhirūpo dassanīyo pāsādiko, paramāya
vaṇṇapokkharatāya samannāgato, lābhī annassa pānassa
vatthassa yānassa mālāgandhavilepanassa
seyyāvasathapadīpeyyassa. So kāyena sucaritaṃ carati, vācāya
sucaritaṃ carati, manasā sucaritaṃ carati. So kāyena
sucaritaṃ caritvā vācāya sucaritaṃ caritvā manasā sucaritaṃ
caritvā, kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ
upapajjati.
Seyyathāpi, mahārāja, puriso pallaṅkā vā pallaṅkaṃ
saṅkameyya, assapiṭṭhiyā vā assapiṭṭhiṃ saṅkameyya,
hatthikkhandhā vā hatthikkhandhaṃ saṅkameyya, pāsādā vā
pāsādaṃ saṅkameyya. Tathūpamāhaṃ, mahārāja, imaṃ puggalaṃ
vadāmi. Evaṃ kho, mahārāja, puggalo jotijotiparāyano hoti.
Này Ðại vương, thế nào là hạng người từ chỗ sáng đến chỗ
sáng?
Ở đây có số người sanh ra trong gia đình tầng lớp cao như
gia đình sát đế lỵ hào môn, hay trong gia đình Bà-la-môn hào
môn, hay trong gia đình gia chủ hào môn có tiền của lớn, có
tài sản lớn, có nhiều vàng và bạc, có nhiều tài sản vật
dụng, nhiều tiền của, ngũ cốc. Người ấy có ngoại hình khả
ái, thanh tú, với màu da đẹp, mỹ miều. Người ấy có dư thừa
thức ăn, thức uống tốt, vải vóc y phục; xe cộ, vòng hoa,
hương liệu; những thứ trang điểm; đèn đuốc, phòng ốc, nhà
cửa tiện nghi.
Người ấy lại làm các thiện hạnh với thân, thiện hạnh với
khẩu, thiện hạnh với ý. Với đời sống như vậy thân hoại mạng
chung sanh vào cõi an lạc, thiên giới.
Ví như một người từ chiếc kiệu nầy bước sang chiếc kiệu
khác; từ lưng ngựa nầy bước sang lưng ngựa khác, từ lưng voi
nầy sang lưng voi khác, từ lầu nầy bước sang lầu khác. Ta
nói ví dụ nầy chỉ cho người từ chỗ sáng đi tới chỗ sáng.
Ime kho, mahārāja, cattāro puggalā santo saṃvijjamānā
lokasmin’ti.
Nầy Đại vương đó là bốn hạng người có mặt ở đời.
‘‘Daliddo puriso rāja, assaddho hoti maccharī;
Này Đại Vương, ở đời
10)
‘‘Daliddo puriso rāja, saddho hoti amaccharī;
Này Đại Vương, ở đời
‘‘Aḍḍho ce puriso rāja, assaddho hoti maccharī;
Này Đại Vương, ở đời
Có người sống giàu sang
‘‘Aḍḍho ce puriso rāja, saddho hoti amaccharī;
Này Đại Vương, ở đời
Tamotamaparāyano = Hạng người từ chỗ tối hướng đến chỗ tối;
Chữ
parāyanạ dịch là hướng đến trong hai cụm từ hướng đến chỗ
tối (tamoparāyanạ), hướng đến chỗ sáng (jotiparāyanạ )
bao gồm sở hành trong hiện kiếp và lực đẩy đến cảnh giới
kiếp sau. Đức
Phật không dạy nên phân biệt giai cấp nhưng Ngài chỉ rỏ sự
bất hạnh và diễm phúc trong kiếp hiện tại là do nghiệp đã
tạo. Và khi Phật dạy”chính hành vi thiện ác khiến người thấp
hèn hay cao quý” là một điều khác hoàn toàn với những định
kiến về giai cấp xã hội. Tỳ kheo Giác Đẳng chuyển dịch và biên soạn giáo trình
-ooOoo- |