|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 26 tháng 01, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG III. TƯƠNG ƯNG KOSALA, PHẨM THỨ BA (S.i,98)
@@@
Bài 4. Kinh Cung Thuật (Issattasuttaṃ) -Đối Tượng Cúng Dường Thù Thắng Nhất
Biết cho là đáng
quý trong cuộc sống. Biết đối tượng gọi là “ứng cúng” cần
tới sự hiểu biết sâu sắc. Người ta thường bố thí cúng dường
vì hâm mộ hay tập tục. Ít người hiểu biết cái gì tạo nên
phước điền cao quý để gieo trồng thiện nghiệp. Trong phước
sự mà cả hai người bố thí cúng dường và người thọ thí đều
thanh tịnh thì là tạo công đức thù thắng. Khi những thắng
duyên hội đủ thì người tạo phước được ngập tràn hoan hỷ và
phúc quả mỹ mãn.
Sāvatthinidānaṃ.
Tại Sāvatthi.
Ekamantaṃ nisinno kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṃ
etadavoca –
Ngồi xuống một
bên, vua Pasenadi xứ Kosala bạch Thế Tôn:
‘‘kattha nu kho, bhante, dānaṃ dātabba’’nti?
Bạch Thế Tôn,
nên bố thí cúng dường chỗ nào?
‘‘Yattha kho, mahārāja, cittaṃ pasīdatī’’ti.
Này Đại vương
chính ở nơi nào tâm tịnh tín
‘‘Kattha pana, bhante, dinnaṃ mahapphala’’nti?
Bạch Thế Tôn, bố
thí cúng dường chỗ nào được quả lớn?
‘‘Aññaṃ kho etaṃ, mahārāja, kattha dānaṃ dātabbaṃ, aññaṃ
panetaṃ kattha dinnaṃ mahapphalanti? Sīlavato kho, mahārāja,
dinnaṃ mahapphalaṃ, no tathā dussīle. Tena hi, mahārāja,
taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā, te khameyya, tathā naṃ
byākareyyāsi.
Này Ðại vương, câu hỏi “nên bố thí cúng dường chỗ nào?” là
một câu; câu “bố thí cúng dường chỗ nào được quả lớn?” lại
là một câu hỏi khác. Này Đại vương, bố thí cúng dường cho
người trì giới được quả lớn so với bố thí cúng dường đến
người không có giới.
Ta sẽ hỏi Đại vương. Hãy trả lời một cách thích hợp.
Taṃ kiṃ maññasi,
mahārāja, idha tyassa yuddhaṃ paccupaṭṭhitaṃ saṅgāmo
samupabyūḷho [samūpabbūḷho (sī.), samupabbuḷho (pī.)]. Atha
āgaccheyya khattiyakumāro asikkhito akatahattho akatayoggo
akatūpāsano bhīru chambhī utrāsī palāyī. Bhareyyāsi taṃ
purisaṃ, attho ca te tādisena purisenā’’ti?
Đại vương nghĩ
thế nào giả sử nhà vua đang trong chiến tranh và một trận
chiến sắp xẩy ra. Rồi một sát đế lỵ trẻ tuổi đi đến. Người
ấy không được nhận được sự thụ huấn, không có kỹ năng, không
có tôi luyện, không có kinh nghiệm lại nhát gan, sợ hãi,
luôn tìm cách tháo chạy. Đại vương có
thu nạp và sử dụng người ấy chăng?
‘‘Nāhaṃ, bhante, bhareyyaṃ taṃ purisaṃ, na ca me attho
tādisena purisenā’’ti.
Bạch Thế Tôn, con không muốn dùng người ấy.
‘‘Atha āgaccheyya brāhmaṇakumāro asikkhito...pe... atha
āgaccheyya vessakumāro asikkhito...pe... atha āgaccheyya
suddakumāro asikkhito...pe... na ca me attho tādisena
purisenā’’ti.
Giả sử có một Bà-la-môn trẻ tuổi không có thụ huấn...
Giả sử có một phệ xá trẻ tuổi không có thụ huấn...
Giả sử có một chiên
đà la trẻ tuổi không có thụ huấn... và Đại vương có thu nạp
và sử dụng người ấy chăng? Bạch Thế Tôn, con không muốn dùng
người ấy.
‘‘Taṃ kiṃ maññasi, mahārāja, idha tyassa yuddhaṃ
paccupaṭṭhitaṃ saṅgāmo samupabyūḷho. Atha āgaccheyya
khattiyakumāro susikkhito katahattho katayoggo katūpāsano
abhīru acchambhī anutrāsī apalāyī. Bhareyyāsi taṃ purisaṃ,
attho ca te tādisena purisenā’’ti?
Đại vương nghĩ
thế nào giả sử nhà vua đang trong chiến tranh và một trận
chiến sắp xẩy ra. Rồi một sát đế lỵ trẻ tuổi đi đến. Người
ấy có được nhận được sự thụ huấn,
có kỹ năng,
có tôi luyện,
có kinh nghiệm lại mạnh mẽ, can đảm, sẳn sàng ứng
phó. Đại vương có thu nạp và sử dụng người ấy chăng?
‘‘Bhareyyāhaṃ, bhante, taṃ purisaṃ, attho ca me tādisena
purisenā’’ti.
Bạch Thế Tôn, con sẽ thu nạp vì người ấy hữu dụng.
‘‘Atha āgaccheyya brāhmaṇakumāro...pe... atha āgaccheyya
vessakumāro...pe... atha āgaccheyya suddakumāro susikkhito
katahattho katayoggo katūpāsano abhīru acchambhī anutrāsī
apalāyī. Bhareyyāsi taṃ purisaṃ, attho ca te tādisena
purisenā’’ti?
Giả sử có một
Bà-la-môn trẻ tuổi
có thụ huấn... Giả sử có một phệ xá trẻ tuổi có thụ
huấn... Giả sử
có một chiên đà la trẻ tuổi
có thụ huấn... và Đại vương có thu nạp và sử dụng
người ấy chăng?
‘‘Bhareyyāhaṃ, bhante, taṃ purisaṃ, attho ca me tādisena
purisenā’’ti.
Bạch Thế Tôn,
con sẽ thu nạp vì người ấy hữu dụng.
‘‘Evameva kho, mahārāja, yasmā kasmā cepi [yasmā cepi (sī.
syā. kaṃ. ka.)] kulā agārasmā anagāriyaṃ pabbajito hoti, so
ca hoti pañcaṅgavippahīno pañcaṅgasamannāgato, tasmiṃ dinnaṃ
mahapphalaṃ hoti.
Tương tự như
vậy, này Ðại vương, một người đi tu dù xuất thân thế nào nếu
đoạn trừ năm chi phần và thành tựu năm chi phần thì bố thí
cúng dường cho người ấy được quả phúc lớn.
Katamāni pañcaṅgāni pahīnāni honti? Kāmacchando pahīno hoti,
byāpādo pahīno hoti, thinamiddhaṃ pahīnaṃ hoti,
uddhaccakukkuccaṃ pahīnaṃ hoti, vicikicchā pahīnā hoti.
Imāni pañcaṅgāni pahīnāni honti.
Năm chi phần
đoạn trừ là gì? Tham dục được đoạn trừ, sân độc được đoạn
trừ, hôn thuỵ được đoạn trừ, trạo hối được đoạn trừ, nghi
hoặc được đoạn trừ.
Katamehi pañcahaṅgehi samannāgato hoti? Asekkhena
sīlakkhandhena samannāgato hoti, asekkhena samādhikkhandhena
samannāgato hoti, asekkhena paññākkhandhena samannāgato
hoti, asekkhena vimuttikkhandhena samannāgato hoti,
asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti.
Imehi pañcahaṅgehi samannāgato hoti.
Năm chi phần
thành tựu là gì? Vô học giới uẩn được viên mãn, vô học định
uẩn được viên mãn, vô học tuệ uẩn được viên mãn, vô học giải
thoát uẩn được viên mãn, vô học giải thoát tri kiến uẩn được
viên mãn.
Iti pañcaṅgavippahīne pañcaṅgasamannāgate dinnaṃ
mahapphala’’nti.
Bố thí cúng
dường cho người đoạn trừ năm chi phần và thành tựu năm chi
phần như vậy được quả phúc lớn.
Idamavoca bhagavā...pe... satthā –
Sau khi dạy như vậy, Đức Thế Tôn nói thêm:
‘‘Issattaṃ [issatthaṃ (sī. syā. kaṃ.)] balavīriyañca
[balaviriyañca (sī. syā. kaṃ. pī.)], yasmiṃ vijjetha māṇave;
Taṃ yuddhattho bhare rājā, nāsūraṃ jātipaccayā.
Như vua đang lâm
trận
tatheva khantisoraccaṃ, dhammā yasmiṃ patiṭṭhitā.
Người sống đời
thánh thiện
‘‘Kāraye assame ramme, vāsayettha bahussute;
Tạo hồ nước trong rừng
Yathā hi megho thanayaṃ, vijjumālī satakkaku;
Như sấm sét mưa giông
Āmodamāno pakireti, detha dethāti bhāsati;
Như bầu trời trút mưa
‘‘Issattaṃ balavīriyañca = Người trai tráng nào thiện xảo cung thuật (xạ tiễn)
Chữ
dāna - bố thí trong kinh điển chỉ chung cho sự cho kể cả sự
cúng dường chứ không có ý là cho những kẻ thấp kém. Chữ
pasīdati không phải là sự hoan hỷ bình thường mà là khiến
tâm được thanh tịnh. Điều nầy hàm ý khi cúng dường khíến tâm
không vướng vấp bởi tham danh, tham lợi, ngã chấp mà chỉ vì
sự kính tin với đối tượng và bằng tâm tư thanh tịnh. Câu
kattha dānaṃ dātabba dịch sát là “nên cúng dường ở đâu” mang
ý nghĩa “ai là bậc nên cúng dường”. Theo Sớ giải nhà vua hỏi
câu nầy giữa đại chúng vì bấy giờ trước sự cúng dường mạnh
mẽ của quần chúng đối với Đức Phật và chư tăng khiến những
người ngoại giáo đố kỵ và xuyên tạc rằng Đức Phật chỉ dạy
cho quần chúng cúng dường bản thân Ngài và các đệ tử. Câu
hỏi tế nhị mà câu trả lời tương thích một cách ý nhị. Tỳ kheo Giác Đẳng chuyển dịch và biên soạn giáo trình
-ooOoo- |