|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 29 tháng 01, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG III. TƯƠNG ƯNG KOSALA, PHẨM THỨ BA (S.i,100)
@@@
Bài 5. Kinh Ngụ Ngôn Hòn Núi (Pabbatūpamasuttaṃ) -HIỂM HOẠ KHÔNG AI TRÁNH THOÁT.
Những tiến bộ to lớn của khoa học kỹ thuật ngày nay khiến
con người sống lâu hơn, sống tiện nghi hơn nhưng hoàn toàn
không ngăn được lão hoá nói gì đến cái chết. Tất cả chúng
sanh đều có chung cuộc là cái chết. Đó là thông điệp của sự
thật. Con người bất lực khi nhận ra rằng binh hùng, tướng
mạnh, bạc tiền không giải quyết được già và chết. Đức Phật
không đề cập sự trạng nầy với thái độ tiêu cực mà Ngài dạy
rõ: khi biết vậy nên tu thân, hành thiện để sống lợi lạc đời
nầy và đời sau. Phải đọc kỹ và đọc trọn vẹn ngụ ngôn về núi
đá mới nhận ra nét đặc thù của Phật Pháp: không chối bỏ sự
thật về cuộc sống cũng không mang thái độ tiêu cực với sự
thật phũ phàng. Người trí không ngây thơ đối với thảm hoạ
không tránh thoát được mà cũng không ủ rũ thúc thủ thở than
mà biết hành động hợp lý.
Sāvatthinidānaṃ.
Tại Sāvatthi.
Ekamantaṃ nisinnaṃ kho rājānaṃ pasenadiṃ kosalaṃ bhagavā
etadavoca –
Vua
Pasenadi
xứ Kosala đang ngồi một bên.
Thế Tôn nói với vua :
‘‘handa, kuto nu tvaṃ, mahārāja, āgacchasi divā divassā’’ti?
-- Ðại vương đi từ đâu lại
vào giữa trưa thế nầy?
‘‘Yāni tāni, bhante, raññaṃ khattiyānaṃ muddhāvasittānaṃ
issariyamadamattānaṃ kāmagedhapariyuṭṭhitānaṃ
janapadatthāvariyappattānaṃ mahantaṃ pathavimaṇḍalaṃ
abhivijiya ajjhāvasantānaṃ rājakaraṇīyāni bhavanti, tesu
khvāhaṃ, etarahi ussukkamāpanno’’ti.
Bạch Thế Tôn, con vừa xử lý
một số việc triều chính mà các vị vua sát đế lỵ đã làm lễ
quán đảnh thường làm. Các vua chúa đắm chìm trong vương
quyền, thọ hưởng dục dục lạc, an dân trị quốc, mở mang bờ
cõi.
‘‘Taṃ kiṃ maññasi, mahārāja, idha te puriso āgaccheyya
puratthimāya disāya saddhāyiko paccayiko. So taṃ
upasaṅkamitvā evaṃ vadeyya – ‘yagghe, mahārāja, jāneyyāsi,
ahaṃ āgacchāmi puratthimāya disāya. Tatthaddasaṃ mahantaṃ
pabbataṃ abbhasamaṃ sabbe pāṇe nippothento āgacchati.
Yaṃ te, mahārāja, karaṇīyaṃ, taṃ karohī’ti. Atha dutiyo
puriso āgaccheyya pacchimāya disāya...pe... atha tatiyo
puriso āgaccheyya uttarāya disāya...pe... atha catuttho
puriso āgaccheyya dakkhiṇāya disāya saddhāyiko paccayiko. So
taṃ upasaṅkamitvā evaṃ vadeyya – ‘yagghe mahārāja,
jāneyyāsi, ahaṃ āgacchāmi dakkhiṇāya disāya. Tatthaddasaṃ
mahantaṃ pabbataṃ abbhasamaṃ sabbe pāṇe nippothento
āgacchati. Yaṃ te, mahārāja, karaṇīyaṃ taṃ karohī’ti.
Evarūpe te, mahārāja, mahati mahabbhaye samuppanne dāruṇe
manussakkhaye [manussakāye (ka.)] dullabhe manussatte
kimassa karaṇīya’’nti?
Này Đại vương,
Đại vương nghĩ thé nào nếu có người tâm phúc đáng tin
cậy đến từ hướng
đông và tâu rằng: Tâu Hoàng thượng, hạ thần đến từ phương
đông có một hòn núi lớn cao tận mây xanh đang di chuyển đến
đây và nghiền nát các sinh vật. Đại vương hãy làm những gì
cần thiết. Rồi có người tâm phúc đáng tin cậy thứ hai đến từ
hướng nam … Rồi có người tâm phúc đáng tin cậy thứ hai đến
từ hướng tây … Rồi có người tâm phúc đáng tin cậy thứ hai
đến từ hướng bắc tâu rằng: Tâu Hoàng thượng, hạ thần đến từ
hướng bắc có một hòn núi lớn cao tận mây xanh đang di chuyển
đến đây và nghiền nát các sinh vật. Đại vương hãy làm những
gì cần thiết.
Này Đại vương, nếu đại hoạ
như vậy xẩy ra, một sự diệt chủng của cả nhân loại trong khi
được sanh làm người là điều khó thì Đại vương sẽ làm gì?
‘‘Evarūpe me, bhante, mahati mahabbhaye samuppanne dāruṇe
manussakkhaye dullabhe manussatte kimassa karaṇīyaṃ aññatra
dhammacariyāya aññatra samacariyāya aññatra kusalakiriyāya
aññatra puññakiriyāyā’’ti?
Bạch Thế Tôn, nếu
đại hoạ như vậy xẩy ra, một sự diệt chủng của cả nhân
loại trong khi được sanh làm người là điều khó thì con có
thể làm gì khác đươc ngoài việc sống y Pháp, sống chơn
chánh, làm các hạnh lành, làm các công đức?
‘‘Ārocemi kho te, mahārāja, paṭivedemi kho te, mahārāja,
adhivattati kho taṃ, mahārāja, jarāmaraṇaṃ. Adhivattamāne ce
te, mahārāja, jarāmaraṇe kimassa karaṇīya’’nti?
Này Đại vương, ta báo cho
Đại vương biết, ta tuyên bố Đại vương hay: già và chết đang
tiến đến chinh phục Đại vương. Khi già và chết đang tiến đến
chinh phục Đại vương thì Đại vương nên sẽ làm gì?
‘‘Adhivattamāne ca me, bhante, jarāmaraṇe kimassa karaṇīyaṃ
aññatra dhammacariyāya samacariyāya kusalakiriyāya
puññakiriyāya?
Bạch Thế Tôn, khi con bị già
và chết chinh phục thì con có thể làm gì khác đươc ngoài
việc sống y Pháp, sống chơn chánh, làm các hạnh lành, làm
các công đức?
Yāni tāni, bhante, raññaṃ khattiyānaṃ muddhāvasittānaṃ
issariyamadamattānaṃ kāmagedhapariyuṭṭhitānaṃ
janapadatthāvariyappattānaṃ mahantaṃ pathavimaṇḍalaṃ
abhivijiya ajjhāvasantānaṃ hatthiyuddhāni bhavanti; tesampi,
bhante, hatthiyuddhānaṃ natthi gati natthi visayo
adhivattamāne jarāmaraṇe.
Yānipi tāni, bhante, raññaṃ khattiyānaṃ
muddhāvasittānaṃ...pe... ajjhāvasantānaṃ assayuddhāni
bhavanti...pe... rathayuddhāni bhavanti ...pe...
pattiyuddhāni bhavanti; tesampi, bhante, pattiyuddhānaṃ
natthi gati natthi visayo adhivattamāne jarāmaraṇe.
Bạch Thế Tôn, những vị vua
sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh đắm chìm trong vương quyền,
thọ hưởng dục dục lạc, an dân trị quốc, mở mang bờ cõi
thường dấn thân vào những can qua với tượng binh.., mã
binh…, xa binh…, bộ binh nhưng không có chỗ nương, không có
biện pháp đối sách nào khi già và chết tiến đến chinh phục.
Santi kho pana, bhante, imasmiṃ rājakule mantino mahāmattā,
ye pahonti [yesaṃ honti (ka.)] āgate paccatthike mantehi
bhedayituṃ. Tesampi, bhante, mantayuddhānaṃ natthi gati
natthi visayo adhivattamāne jarāmaraṇe.
Bạch Thế Tôn, trong vương
quốc nầy có những người tinh thông huyền thuật với khả năng
tiêu diệt kẻ địch tấn công nhưng không có chỗ nương, không
có biện pháp đối sách nào khi già và chết tiến đến chinh
phục.
Saṃvijjati kho pana, bhante, imasmiṃ rājakule pahūtaṃ
hiraññasuvaṇṇaṃ bhūmigatañceva vehāsaṭṭhañca, yena mayaṃ
pahoma āgate paccatthike dhanena upalāpetuṃ. Tesampi,
bhante, dhanayuddhānaṃ natthi gati natthi visayo
adhivattamāne jarāmaraṇe.
Bạch Thế Tôn, trong vương
quốc nầy có vàng, bạc cất giữ trong các kho hay hầm chứa.
Bằng vận dụng kinh tế có khả năng tiêu diệt kẻ địch tấn công
nhưng không có chỗ nương, không có biện pháp đối sách nào
khi già và chết tiến đến chinh phục.
Adhivattamāne ca me, bhante, jarāmaraṇe kimassa karaṇīyaṃ
aññatra dhammacariyāya samacariyāya kusalakiriyāya
puññakiriyāyā’’ti?
Bạch Thế Tôn, khi con bị già
và chết chinh phục thì con có thể làm gì khác đươc ngoài
việc sống y Pháp, sống chơn chánh, làm các hạnh lành, làm
các công đức?
‘‘Evametaṃ, mahārāja, evametaṃ, mahārāja! Adhivattamāne
jarāmaraṇe kimassa karaṇīyaṃ aññatra dhammacariyāya
samacariyāya kusalakiriyāya puññakiriyāyā’’ti?
Quả thật vậy, này Đại vương.
Quả thật vậy. Khi Đại vương bị già và chết chinh phục thì có
thể làm gì khác đươc ngoài việc sống y Pháp, sống chơn
chánh, làm các hạnh lành, làm các công đức!
Idamavoca bhagavā...pe... satthā –
Sau khi dạy như vậy bậc Ðạo
Sư nói thêm:
‘‘Yathāpi selā vipulā, nabhaṃ āhacca pabbatā;
Như núi với đá tảng
‘‘Tasmā hi paṇḍito poso, sampassaṃ atthamattano;
Nên chi bậc hiền trí
‘‘Yo dhammaṃ cari [dhammacārī (sī. syā. kaṃ. pī.)] kāyena,
vācāya uda cetasā; Idheva naṃ pasaṃsanti, pecca sagge
pamodatī’’ti.
Ai sống với Chánh pháp
‘‘Yathāpi selā vipulā =
Giống như những khối đá vĩ đại
Theo Sớ giải thuật ngữ dhammacariyā - hành trì chánh pháp là tạo mười
phước hạnh (bố thí, trì giới, thiền định, cung kính, phục
vụ, thuyết pháp, thính pháp, tuỳ hỷ phước, hồi hướng phước,
vun bồi chánh kiến). Và cũng giải thích
samacariya
cũng mang ý nghĩa tương tự (…) Tỳ kheo Giác Đẳng chuyển dịch và biên soạn giáo trình
-ooOoo- |