|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 08 tháng 01, 2024
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
Phần III: Ứng Dụng Lời Phật Dạy
-BÁT CHÁNH ĐẠO- CHÁNH NIỆM.
Chánh
niệm là phương pháp tu tập vô cùng quan trọng trong Phật
Pháp. Trên cả ba phương diện từ ngữ, ý nghĩa, và sự ứng
dụng đều cần năm rõ. Không thể hiểu chánh niệm qua một
bài kinh mà cần có sự tổng hợp nhiều Phật ngôn đó đây
trong Tam Tạng. Riêng bài nầy đặc biệt lựa chọn Kinh
Quán Niệm Hơi Thở, Trung Bộ, kinh số 118.
Đây là bài kinh rất nổi tiếng với nhiều tựa đề
khác nhau. Bản kinh chữ Hán cổ xưa gọi là Kinh An Ban
Thủ Ý, vừa phiên âm vừa dịch.
Một số bản dịch hiện đại gọi là Kinh Nhập Tức
Xuất Tức Niệm. Dù là “An Ban Thủ Ý” hay “nhập tức xuất
tức niệm” đều chỉ cho niệm hơi thở. Điều nầy cho thấy sự
quan trọng của phương pháp tu tập nầy trong Phật học.
(Vì bài
kinh dài nên chia làm hai phần. Phần I chỉ là giới thiệu
đại cương. Những chú thích qua trọng sẽ có trong phần
II)
118. KINH QUÁN NIỆM HƠI THỞ (Ānāpānasati Sutta)
Tỳ khưu
Giác Đẳng dịch và chú thích
Tôi được
nghe như vầy,
Một thuở
Đức Thế Tôn ngự ở Savatthi (Xá-vệ), tại Ðông Viên
(Pubbarama), giảng đường Lộc Mẫu (Migaramatupasade) với
tôn giả danh tiếng như Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất),
Tôn giả Mahamoggallana (Ðại Mục-kiền-liên), Tôn giả
Mahakaccayana (Ðại Ca-chiên-diên), Tôn giả Mahakotthita
(Ðại Câu-hy-la), Tôn giả Mahakappina (Ðại Kiếp-tân-na),
Tôn giả Mahacunda (Ðại Thuần-đà), Tôn giả Anuruddha
(A-na-luật), Tôn giả Revata (Ly-bà-đa) và Tôn giả Ananda
(A-nan) cùng nhiều vị được biết nhiều khác nữa.
Bấy giờ
chư tôn giả hướng dẫn các tỳ khưu mới tu. Một số tôn giả
hướng dẫn mười tỳ khưu; một số hướng dẫn hai mươi… ba
mươi… bốn mươi tỳ khưu. Những tỳ khưu mới tu được hướng
dẫn đạt được sở chứng cao siêu theo tuần tự.
Vào một ngày rằm bố tát ngày tự tứ Pavāraṇā, Đức Thế Tôn ngồi
giữa với đại chúng tỳ khưu Tăng vây quanh. Đức Thế Tôn
nhìn Tăng chúng tỳ khưu tịnh lặng và nói rằng:
--Này
chư Tỳ Khưu, Ta thật sự bằng lòng với đạo lộ nầy. Tâm ta
thật sự thoả mãn với đạo lộ này. Hãy nỗ lực đạt những gì
chưa đạt; chứng những gì chưa chứng.
Ta sẽ ở đây tại Sāvatthi cho đến ngày rằm Komudī,
tháng tư.
Những tỳ
khưu trong vùng được nghe “Đức Thế Tôn sẽ ở tại
Sāvatthi cho đến ngày rằm
Komudī, tháng tư” nên vân tập về Sāvatthi để diện kiến
Đức Thế Tôn.
Chư tôn
giả dành nhiều thì giờ hơn hướng dẫn các tỳ khưu mới tu.
Một số tôn giả hướng dẫn mười tỳ khưu; một số hướng dẫn
hai mươi… ba mươi… bốn mươi tỳ khưu. Những tỳ khưu mới
tu được hướng dẫn đạt được sở chứng cao siêu theo tuần
tự.
Vào một
ngày rằm bố tát tháng Komudī, Đức Thế Tôn ngồi giữa với
đại chúng tỳ khưu Tăng vây quanh. Đức Thế Tôn nhìn Tăng
chúng tỳ khưu tịnh lặng và nói rằng:
-- Này
chư Tỳ Khưu, hội chúng nầy không có phiếm luận, không có
hý luận. Chỉ thuần là cốt lõi. Tăng chúng như vậy thật
là hội chúng xứng đáng được trọng vọng, xứng đáng được
trân quý, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chấp
tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng ở đời. Hội chúng
nầy khi cúng dường dù ít mang lại quả phúc lớn; cúng
dường nhiều thì phúc quả càng nhiều hơn.Hội chúng như vậy là hiếm có trong đời.
Một hội chúng như vậy xứng đáng được đi nhiều dậm
đường với hành trang trên vai để bái kiến.
Hội
chúng nầy có những tỳ khưu đã chứng quả a la hán lậu tận
- những vị đã viên mãn phạm hạnh, đã làm những gì nên
làm, đặt xuống gánh nặng, chứng đạt cứu cánh, đoạn tận
kiết phược, thành tựu tuệ giác tối hậu. Những tỳ khưu
như vậy có mặt trong Tăng chúng nầy.
Hội
chúng nầy có những tỳ khưu đã đoạn tận năm hạ phần kiết
sử, sẽ hoá sanh (vào cõi tịnh cư). Tại đấy cuối cùng
chứng niết bàn, không còng trở lại đời nầy nữa. Những tỳ
khưu như vậy có mặt trong Tăng chúng nầy.
Hội
chúng nầy có những tỳ khưu đã đoạn trừ ba kiết sử, giảm
thiểu tham, sân, si là bậc nhất lai, trở lại cõi đời nầy
một lần và sẽ đoạn tận khổ đau.
Những tỳ khưu như vậy có mặt trong Tăng chúng
nầy.
Hội
chúng nầy có những tỳ khưu đã đoạn trừ ba kiết sử,
là bậc dự lưu, không còn đọa vào ác đạo, chắc
chắn sẽ giác
ngộ. Những
tỳ khưu như vậy có mặt trong Tăng chúng nầy. Này chư Tỳ Khưu, hội chúng nầy có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu tứ niệm xứ; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu tứ chánh cần; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu tứ như ý túc; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu ngũ căn; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu ngũ lực; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu thất giác chi; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu bát chánh đạo. Những tỳ khưu như vậy có mặt trong Tăng chúng nầy.
Này chư
Tỳ Khưu, hội chúng nầy có những tỳ khưu dốc lòng chuyên
tu tâm từ; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu
tâm bi; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu tâm
hỷ; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu quán bất tịnh;
có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu quán vô thường; có
những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu thất giác chi; có những
tỳ khưu dốc lòng chuyên tu quán niệm hơi thở. Những tỳ
khưu như vậy có mặt trong Tăng chúng nầy.
(Quán niệm hơi thở)
Này chư
Tỳ Khưu, quán
niệm hơi thở được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến
quả lớn, lợi ích lớn. quán niệm hơi thở được tu tập,
được làm cho sung mãn khiến cho tứ niệm xứ được viên
mãn. Tứ niệm xứ được tu tập, làm cho sung mãn, khiến cho
thất giác chi được viên mãn. Thất giác chi được tu tập,
làm cho sung mãn, khiến cho minh giải thoát được viên
mãn.
Này chư
Tỳ Khưu, thế nào
là quán niệm hơi thở được tu tập, được làm cho sung mãn,
đưa đến quả lớn, lợi ích lớn?
Này chư
Tỳ Khưu, hành giả
đi đến khu rừng, cội cây, am thất trống, lưng thẳng,
hướng niệm trước mặt. Chánh niệm hơi thở vô; chánh niệm
hơi thở ra.
Khi thở vô dài vị ấy biết: đang thở vô dài; khi thở ra
dài vị ấy biết: đang thở ra dài. Khi thở vô ngắn vị ấy
biết: đang thở vô ngắn; khi thở ra ngắn vị ấy biết: đang
thở ra ngắn.
Vị ấy thực tập: cảm giác toàn thân
thở vô; vị ấy thực tập: cảm giác toàn thân thở
ra; vị ấy thực tập: an tịnh toàn thân
thở vô; vị ấy thực tập: an tịnh toàn thân
thở ra. (Còn
tiếp) Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng |