|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 24 tháng 01, 2024 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYABài 244. SỐNG VIỄN LY BAO GỒM CẢ THÂN VÀ TÂM- Kinh Theranāmaka (Theranāmakasuttaṃ).
Đa số người tu khi lập hạnh thường chú trọng về hình thức.
Sống độc cư không có nghĩ là chỉ sống”cu ki một mình là đủ”
mà mang ý nghĩa “người thật sự biết sống một mình” với tâm
vô cầu, vô chấp đối với quá khứ, hiện tại, vị lai. Sự chấp
thủ vào những ý niệm “tôi từng là”, “tôi sẽ là”, “tôi đang
là” thường rơi vào chấp thủ thị dục huyễn ngã cho du bản
thân đang sống trong hang đá ở rừng sâu núi thẳm một mình.
Chỉ có thân viễn ly không hẳn là thật sự biết sống một mình.
Tâm viễn ly là một cảnh giới cao vợi mà chỉ có bậc trí mới
thật sự hướng tới.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane
kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu
theranāmako ekavihārī ceva hoti ekavihārassa ca vaṇṇavādī.
So eko gāmaṃ piṇḍāya pavisati eko paṭikkamati eko raho
nisīdati eko caṅkamaṃ adhiṭṭhāti. Atha kho sambahulā bhikkhū
yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Ekamantaṃ nisinnā kho te
bhikkhū bhagavantaṃ etadavocuṃ – ‘‘idha, bhante, aññataro
bhikkhu theranāmako ekavihārī ekavihārassa ca vaṇṇavādī’’ti.
Một thuở Đức Thế Tôn ngự
ở Rājagaha (Vương Xá), tại tịnh xá Veluvana (Trúc
Lâm), khu vực
Kalandakanivāpa (chỗ cho sóc ăn) .
Bấy giờ có một Tỷ-kheo được gọi là Thera sống độc cư và tán
thán hạnh sống độc cư. Vị ấy đi vào làng khất thực một mình,
đi về một mình, ngồi vắng lặng một mình, đi kinh hành một
mình.
Lúc ấy một số tỳ khưu đi đến Đức Thế Tôn đảnh lễ rồi ngồi
xuống một bên rồi bạch với Đức Thế Tôn:
-- Bạch Đức Thế Tôn, có một Tỷ-kheo được gọi là Thera sống
độc cư và tán thán hạnh sống độc cư. Vị ấy đi vào làng khất
thực một mình, đi về một mình, ngồi vắng lặng một mình, đi
kinh hành một mình.
Atha kho bhagavā aññataraṃ bhikkhuṃ āmantesi – ‘‘ehi tvaṃ,
bhikkhu, mama vacanena theraṃ bhikkhuṃ āmantehi – ‘satthā
taṃ, āvuso thera, āmantetī’’’ti. ‘‘Evaṃ, bhante’’ti kho so
bhikkhu bhagavato paṭissutvā yenāyasmā thero tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā āyasmantaṃ theraṃ etadavoca – ‘‘satthā taṃ,
āvuso thera, āmantetī’’ti. ‘‘Evamāvuso’’ti kho āyasmā thero
tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.
Ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ theraṃ bhagavā etadavoca –
‘‘saccaṃ kira tvaṃ, thera, ekavihārī ekavihārassa ca
vaṇṇavādī’’ti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Yathā kathaṃ pana tvaṃ,
thera, ekavihārī ekavihārassa ca vaṇṇavādī’’ti? ‘‘Idhāhaṃ,
bhante, eko gāmaṃ piṇḍāya pavisāmi eko paṭikkamāmi eko raho
nisīdāmi eko caṅkamaṃ adhiṭṭhāmi. Evaṃ khvāhaṃ, bhante,
ekavihārī ekavihārassa ca vaṇṇavādī’’ti.
Đức Thế Tôn bảo
một tỳ khưu “Này tỳ khưu, hãy đi đến tỳ khưu Thera nhân danh
ta bảo rẳng Bậc Đạo Sư gọi vị ấy”. Tỳ khưu ấy trả lời “Thưa
vâng, bạch Đức Thế Tôn”.
Vị ấy đi đến vị tỳ khưu Thera nói rằng “Bậc Đạo Sư cho gọi
Hiền giả”. Vị tỳ khưu Thera kia trả lời “Thưa vâng, Hiền
giả” rồi đi đến Đức Thế Tôn đảnh lễ và ngồi xuống một bên.
Đức Thế Tôn nói với Tôn giả Thera:
-- Này Thera, có thật chăng thầy
sống độc cư và tán
thán hạnh độc cư?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn con đi vào làng khất thực một mình,
đi về một mình, ngồi vắng lặng một mình, đi kinh hành một
mình. Như vậy là con sống độc cư và tán thán hạnh độc cư.
-- Này Thera, Ta không phủ nhận đó là sống độc cư. Nhưng này
Thera, có một cách sống độc cư viên mãn một cách nhuần
nhuyễn. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
-- Dạ vâng, bạch Thế Tôn.
‘‘Attheso, thera, ekavihāro neso natthīti vadāmi. Api ca,
thera, yathā ekavihāro vitthārena paripuṇṇo hoti taṃ suṇāhi,
sādhukaṃ manasi karohi; bhāsissāmī’’ti. ‘‘Evaṃ, bhante’’ti
kho...pe.... ‘‘Kathañca, thera, ekavihāro vitthārena
paripuṇṇo hoti. Idha, thera, yaṃ atītaṃ taṃ pahīnaṃ, yaṃ
anāgataṃ taṃ paṭinissaṭṭhaṃ, paccuppannesu ca
attabhāvapaṭilābhesu chandarāgo suppaṭivinīto. Evaṃ kho,
thera, ekavihāro vitthārena paripuṇṇo hotī’’ti.
-- Này Thera, thế nào là sống độc cư viên mãn một cách nhuần
nhuyễn? Ở đây,
này Thera, cái gì đã qua được buông xả; cái gì sắp đến được
từ bỏ; sự ham muốn, khao khát đối với tự thân trong hiện tại
được hoàn toàn nhỗ sạch. Đó là cách sống độc cư viên mãn một
cách nhuần nhuyễn. ‘‘Sabbābhibhuṃ sabbaviduṃ sumedhaṃ, Sabbesu dhammesu anūpalittaṃ; Sabbañjahaṃ taṇhākkhaye vimuttaṃ, Tamahaṃ naraṃ ekavihārīti brūmī’’ti.
Đức Thế Tôn thuyết như vậy. Đấng Thiện Thệ , bậc Ðạo Sư lại
nói thêm: Cũng là biết tất cả Từ bỏ mọi ô nhiễm Đoạn ái, chứng giải thoát Ta nói đó là người Thật sự sống độc cư.
Chú
Thích
Không có chi tiết nào được tìm thấy trong chánh tạng hay số
giải về tỳ khưu được gọi là Thera.
Mệnh đề “ekavihāro vitthārena paripuṇṇo hoti” có thể dịch là
“sống độc cư viên mãn với từng chi tiết. Ở đây dịch thoáng
theo ngữ cảnh là “sống độc cư viên mãn một cách nhuần
nhuyễn” Câu
yaṃ atītaṃ taṃ pahīnaṃ có thể hiểu là “cái gì đã qua thì có
khả năng cho qua”. Câu
yaṃ anāgataṃ taṃ paṭinissaṭṭhaṃ có thể hiểu là “ không bận
lòng với cái chưa tới” Câu
paccuppannesu ca
attabhāvapaṭilābhesu chandarāgo suppaṭivinīto có thể hiểu là
“nhổ sạch những ham muốn, khao khát về thị dục huyễn ngã
trong hiện tại.
Trong lời dạy của Đức Phật sự độc cư nếu đơn thuần chỉ là
“thân viễn ly” thì không thể gọi là viên mãn mà còn cần tu
tập “tâm viễn ly” là từ bỏ sở chấp đối với quá khứ, vị lai,
và hiện tại. Còn có tham cầu thì chưa thể gọi là độc cư viên
mãn. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |