|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 29 tháng 01, 2024
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
Phần III: Ứng Dụng Lời Phật Dạy
- BÁT CHÁNH ĐẠO -CHÁNH NIỆM.
Chánh
niệm là phương pháp tu tập vô cùng quan trọng trong Phật
Pháp. Trên cả ba phương diện từ ngữ, ý nghĩa, và sự ứng
dụng đều cần năm rõ. Không thể hiểu chánh niệm qua một
bài kinh mà cần có sự tổng hợp nhiều Phật ngôn đó đây
trong Tam Tạng. Riêng bài nầy đặc biệt lựa chọn Kinh
Quán Niệm Hơi Thở, Trung Bộ, kinh số 118.
Đây là bài kinh rất nổi tiếng với nhiều tựa đề
khác nhau. Bản kinh chữ Hán cổ xưa gọi là Kinh An Ban
Thủ Ý, vừa phiên âm vừa dịch.
Một số bản dịch hiện đại gọi là Kinh Nhập Tức
Xuất Tức Niệm. Dù là “An Ban Thủ Ý” hay “nhập tức xuất
tức niệm” đều chỉ cho niệm hơi thở. Điều nầy cho thấy sự
quan trọng của phương pháp tu tập nầy trong Phật học.
(Vì bài
kinh dài nên chia làm hai phần. Phần I chỉ là giới thiệu
đại cương. Những chú thích qua trọng sẽ có trong phần
II)
118.
KINH QUÁN NIỆM HƠI THỞ (Ānāpānasati Sutta)
Tỳ khưu
Giác Đẳng dịch và chú thích
Tôi được
nghe như vầy,
Một thuở
Đức Thế Tôn ngự ở Savatthi (Xá-vệ), tại Ðông Viên
(Pubbarama), giảng đường Lộc Mẫu (Migaramatupasade) với
tôn giả danh tiếng như Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất),
Tôn giả Mahamoggallana (Ðại Mục-kiền-liên), Tôn giả
Mahakaccayana (Ðại Ca-chiên-diên), Tôn giả Mahakotthita
(Ðại Câu-hy-la), Tôn giả Mahakappina (Ðại Kiếp-tân-na),
Tôn giả Mahacunda (Ðại Thuần-đà), Tôn giả Anuruddha
(A-na-luật), Tôn giả Revata (Ly-bà-đa) và Tôn giả Ananda
(A-nan) cùng nhiều vị được biết nhiều khác nữa.
Bấy giờ
chư tôn giả hướng dẫn các tỳ khưu mới tu. Một số tôn giả
hướng dẫn mười tỳ khưu; một số hướng dẫn hai mươi… ba
mươi… bốn mươi tỳ khưu. Những tỳ khưu mới tu được hướng
dẫn đạt được sở chứng cao siêu theo tuần tự.
Vào một ngày rằm bố tát ngày tự tứ Pavāraṇā, Đức Thế Tôn ngồi
giữa với đại chúng tỳ khưu Tăng vây quanh. Đức Thế Tôn
nhìn Tăng chúng tỳ khưu tịnh lặng và nói rằng:
--Này
chư Tỳ Khưu, Ta thật sự bằng lòng với đạo lộ nầy. Tâm ta
thật sự thoả mãn với đạo lộ này. Hãy nỗ lực đạt những gì
chưa đạt; chứng những gì chưa chứng.
Ta sẽ ở đây tại Sāvatthi cho đến ngày rằm Komudī,
tháng tư.
Những tỳ
khưu trong vùng được nghe “Đức Thế Tôn sẽ ở tại
Sāvatthi cho đến ngày rằm
Komudī, tháng tư” nên vân tập về Sāvatthi để diện kiến
Đức Thế Tôn.
Chư tôn
giả dành nhiều thì giờ hơn hướng dẫn các tỳ khưu mới tu.
Một số tôn giả hướng dẫn mười tỳ khưu; một số hướng dẫn
hai mươi… ba mươi… bốn mươi tỳ khưu. Những tỳ khưu mới
tu được hướng dẫn đạt được sở chứng cao siêu theo tuần
tự.
Vào một
ngày rằm bố tát tháng Komudī, Đức Thế Tôn ngồi giữa với
đại chúng tỳ khưu Tăng vây quanh. Đức Thế Tôn nhìn Tăng
chúng tỳ khưu tịnh lặng và nói rằng:
-- Này
chư Tỳ Khưu, hội chúng nầy không có phiếm luận, không có
hý luận. Chỉ thuần là cốt lõi. Tăng chúng như vậy thật
là hội chúng xứng đáng được trọng vọng, xứng đáng được
trân quý, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chấp
tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng ở đời. Hội chúng
nầy khi cúng dường dù ít mang lại quả phúc lớn; cúng
dường nhiều thì phúc quả càng nhiều hơn.
Hội chúng như vậy là hiếm có trong đời.
Một hội chúng như vậy xứng đáng được đi nhiều dậm
đường với hành trang trên vai để bái kiến.
Hội
chúng nầy có những tỳ khưu đã chứng quả a la hán lậu tận
- những vị đã viên mãn phạm hạnh, đã làm những gì nên
làm, đặt xuống gánh nặng, chứng đạt cứu cánh, đoạn tận
kiết phược, thành tựu tuệ giác tối hậu. Những tỳ khưu
như vậy có mặt trong Tăng chúng nầy.
Hội
chúng nầy có những tỳ khưu đã đoạn tận năm hạ phần kiết
sử, sẽ hoá sanh (vào cõi tịnh cư). Tại đấy cuối cùng
chứng niết bàn, không còng trở lại đời nầy nữa. Những tỳ
khưu như vậy có mặt trong Tăng chúng nầy.
Hội
chúng nầy có những tỳ khưu đã đoạn trừ ba kiết sử, giảm
thiểu tham, sân, si là bậc nhất lai, trở lại cõi đời nầy
một lần và sẽ đoạn tận khổ đau.
Những tỳ khưu như vậy có mặt trong Tăng chúng
nầy.
Hội
chúng nầy có những tỳ khưu đã đoạn trừ ba kiết sử,
là bậc dự lưu, không còn đọa vào ác đạo, chắc
chắn sẽ giác
ngộ. Những
tỳ khưu như vậy có mặt trong Tăng chúng nầy. Này chư Tỳ Khưu, hội chúng nầy có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu tứ niệm xứ; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu tứ chánh cần; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu tứ như ý túc; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu ngũ căn; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu ngũ lực; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu thất giác chi; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu bát chánh đạo. Những tỳ khưu như vậy có mặt trong Tăng chúng nầy.
Này chư
Tỳ Khưu, hội chúng nầy có những tỳ khưu dốc lòng chuyên
tu tâm từ; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu
tâm bi; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu tâm
hỷ; có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu quán bất tịnh;
có những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu quán vô thường; có
những tỳ khưu dốc lòng chuyên tu thất giác chi; có những
tỳ khưu dốc lòng chuyên tu quán niệm hơi thở. Những tỳ
khưu như vậy có mặt trong Tăng chúng nầy.
(Quán niệm hơi thở)
Đây là phần đặc biệt quan trong về từ vựng và ý nghĩa
đối với cả hai pháp học và pháp hành. Rất dễ có những
ngộ nhận, nhất là về dịch thuật. Người tu tập nếu có thể
nên tham khảo chi biết chánh kinh Phạm văn để không lầm
lẫn. Mỗi đoạn sẽ có chú thích riêng với chữ nghiêng. Rất
tiếc khi post lên Facebook không viết chữ nghiêng để
phân biệt với chánh văn. Người đọc cần có gắng lưu tâm.
Khởi đầu hành giả chỉ làm thế nào ghi nhận rõ hơi thở ra
vào. Khi đã thuần thục thì tiến xa hơn thấy được hơi thở
dài ngắn, thấy rõ toàn bộ hơi thở.
Đi xa hơn, là sự gắn kết giữa hơi thở và những trạng
thái khác. Điều nầy có thể hiểu như sự kết hợp nhuần
nhuyễn giữa niêm luật và tứ thơ đối với một thi sĩ hay
sự hài hoà giữa lời ca và điệu nhạc đối với một ca sĩ.
Trong cách nói chuyên môn của Phật học là sự dung
hợp của chỉ (samatha) và quán (vipassana). Bản Sớ giải
chú thích là sự an tịnh của tâm hành (tầm tứ) và an tịnh
của thân hành (hơi thở) ở cao điểm là sự thành tựu các
thiền chứng (…)
Này chư Tỳ Khưu,
quán niệm hơi thở được tu tập, được khai triển,
đưa đến quả lớn, lợi ích lớn. Quán niệm hơi thở được tu
tập, được khai triển khiến cho tứ niệm xứ được viên mãn.
Tứ niệm xứ được tu tập, được khai triển , khiến cho thất
giác chi được viên mãn. Thất giác chi được tu tập,
được khai triển, khiến cho
minh giải thoát được viên mãn.
Những chữ bhāvitā (được tu tập), bahulīkatā (được khai
triển), paripūreti (làm cho viên mãn) là ba công đoạn
tôi luyện, đẩy mạnh, và thuần thục.
Này chư Tỳ Khưu,
thế nào là quán niệm hơi thở được tu tập, được
khai triển, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn?
Này chư Tỳ Khưu,
hành giả đi đến khu rừng, cội cây, am thất trống,
ngồi kiết già, lưng thẳng, hướng niệm trước mặt. Chánh
niệm hơi thở vô; chánh niệm hơi thở ra.
Khi thở vô dài vị ấy biết rõ: đang thở vô dài; khi thở
ra dài vị ấy biết rõ: đang thở ra dài. Khi thở vô ngắn
vị ấy biết rõ: đang thở vô ngắn; khi thở ra ngắn vị ấy
biết rõ: đang thở ra ngắn.
Các bản dịch thường dịch câu “dīghaṃ vā assasanto
‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto
‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāti”
là: “Khi thở vô dài vị ấy biết tôi thở vô dài; khi thở
ra dài vị ấy biết tôi thở ra dài”. Hai chữ cần lưu ý là
là chữ pajānāti là biết rõ, biết một cách tỉnh táo. Chữ
“tôi” không cần dịch vì trong Phạm văn luôn chia động từ
luôn luôn phải một trong ba ngôi. Thêm chữ “tôi” có thể
khiến hiểu lầm (xem chú thích các đoạn sau)
Vị ấy thực hành:
thở vô với trải nghiệm toàn thân; vị ấy thực hành: thở
ra với trải nghiệm toàn thân.
Cụm từ sabbakāyapaṭisaṃvedī gồm ba thành tố sabba+kāya+paṭisaṃvedī.
Sabba+kāya > toàn thân chỉ cho toàn bộ hơi thở trên cả
hai phương diện: tác động hơi thở đối với toàn thân như
“phồng xệp” và thời gian từ lúc bắt đầu đến lúc ngưng
lại đối của hơi thở ra hoặc vào. Chữ paṭisaṃvedī là trải
nghiệm, cảm nhận, nhiều bản dịch là cảm giác.
Vị
ấy thực hành: thở vô với an tịnh thân hành; vị ấy thực
hành: thở ra với an tịnh thân hành.
Cụm từ
passambhayaṃ
kāyasaṅkhāraṃ được dịch là “an tịnh thân hành” theo cách
dùng thuật ngữ. Kāyasaṅkhāra – thân hành - chỉ cho hơi
thở. Passambhaya chỉ cho sự bình thường, không gượng
gạo, không điều khiển. Ở đây Hán tạng dịch là “điều tức”
hay “thở tự nhiên”.
Vị ấy thực hành:
thở vô với trải nghiệm hỷ thọ; vị ấy thực hành: thở ra
với trải nghiệm hỷ thọ.
Vị ấy thực hành: thở vô với trải nghiệm lạc thọ; vị ấy
thực hành: thở ra với trải nghiệm lạc thọ.
Pīti là vui hay hỳ. Sukha là sướng hay lạc. Hai trạng
thái hạnh phúc khác biệt. Hỷ lạc ở đây là thành phẩm của
sự tu tập chứ không phải sự vui sướng ngoài chánh niệm.
Nói cách khác là sự vui sướng do giảm thiểu phiền não.
Vị ấy thực hành: thở vô với an tịnh tâm hành; vị ấy thực
hành: thở ra với an tịnh tâm hành.
Cụm từ passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ được dịch là “an tịnh tâm hành” theo
cách dùng thuật ngữ. Cittasaṅkhāra – tâm hành - chỉ cho
sự suy tư và thẩm sát cảnh hay tầm tứ. An tịnh tâm hành
là chánh niệm mà “không vật lộn, hay vận dụng suy tư”
giống người lái xe thành thạo chỉ lái xe mà không cố
gắng điều khiển. An tịnh tâm hành chỉ cho trạng thái
thật sự thư giãn khi quán niệm hơi thở không còn suy tư
điều nầy điều kia.
Vị ấy thực hành: thở vô với trải nghiệm tâm thái; vị ấy
thực hành: thở ra với trải nghiệm tâm thái.
Cụm từ “cittapaṭisaṃvedī - trải nghiệm tâm thái” ở đây
là sự cảm nhận nội tại hay tâm thức đối lập với
“dhammapaṭisaṃvedī - trải nghiệm pháp” hay cảnh của tâm.
Quán sát tâm thái và quán sát tâm cảnh (pháp) là cảm
nhận thế giới chủ quan và thế giới khách quan.
Vị ấy thực hành: thở vô với trải nghiệm tâm hân hoan; vị
ấy thực hành: thở ra với trải nghiệm tâm hân hoan.
Vị ấy thực hành: thở vô với trải nghiệm tâm tập chú; vị
ấy thực hành: thở ra với trải nghiệm tâm tập chú.
Vị ấy thực hành: thở vô với trải nghiệm tâm thanh thản;
vị ấy thực hành: thở ra với trải nghiệm tâm thanh thản.
Tâm hân hoan (abhippamodaya citta) chỉ cho trạng thái
thư thới; tâm tập chú (samādaha citta) chỉ cho tâm trụ
bền bỉ; tâm thanh thản (vimocaya ctta) là tâm thái vượt
thoát sự chi phối của phiền não.
Vị ấy thực hành: thở vô với tùy quán vô thường; vị ấy
thực hành: thở ra với tùy quán vô thường.
Vị ấy thực hành: thở vô với tùy quán sự tan biến; vị ấy
thực hành: thở ra với tùy quán sự tan biến.
Vị ấy thực hành: thở vô với tùy quán tịch tịnh; vị ấy
thực hành: thở ra với tùy quán tịch tịnh.
Vị ấy thực hành: thở vô với tùy quán từ bỏ; vị ấy thực
hành: thở ra với tùy quán từ bỏ.
Này chư Tỳ Khưu,
đó là quán niệm hơi thở được tu tập, được làm cho
sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn.
Vô thường là sự thay đổi không giữ nguyên trạng của pháp
thế gian hay pháp hữu vi. Biến hoại là sự tan biến của
dục tham (đôi khi dịch là ly tham). Tịch tịch là sự chấm
dứt khổ đau. Từ bỏ là sự buông xả những chấp thủ để thể
nhập đạo và chứng giải thoát. Bốn pháp nầy là sự quán
niệm đối với tâm cảnh.
(còn tiếp)
Này chư Tỳ Khưu, thế nào là quán niệm hơi thở được tu
tập, được khai triển khiến cho tứ niệm xứ được viên mãn?
Này chư Tỳ Khưu,
khi thở vô dài vị ấy biết: đang thở vô dài; khi thở ra
dài vị ấy biết: đang thở ra dài. Khi thở vô ngắn vị ấy
biết: đang thở vô ngắn; khi thở ra ngắn vị ấy biết: đang
thở ra ngắn. Vị ấy thực hành: thở vô với trải nghiệm
toàn thân; vị ấy thực hành: thở ra với trải nghiệm toàn
thân. Vị ấy thực hành: thở vô với an tịnh thân hành; vị
ấy thực hành: thở ra với an tịnh thân hành. Trong khi
ấy, hành giả quán thân là thân, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm, bỏ một bên sự ham muốn hay phiền muộn đối
với cuộc đời. Ta nói rằng hơi thở ra vào chính là
thân trong các thân.
Đó là tại sao trong khi ấy, hành giả quán
thân là thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, bỏ một
bên sự ham muốn hay phiền muộn đối với cuộc đời.
Này chư Tỳ Khưu,
khi hành giả thực hành: thở vô với trải nghiệm hỷ
thọ; vị ấy thực hành: thở ra với trải nghiệm hỷ thọ.
Vị ấy thực hành: thở vô với trải nghiệm lạc thọ;
vị ấy thực hành: thở ra với trải nghiệm lạc thọ.
Vị ấy thực hành: thở vô với an tịnh tâm hành; vị
ấy thực hành: thở ra với an tịnh tâm hành. Trong khi ấy,
hành giả quán cảm thọ là cảm thọ,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, bỏ một bên sự ham muốn
hay phiền muộn đối với cuộc đời. Ta nói rằng quán
niệm hơi thở ra vào chính là cảm thọ trong các cảm thọ.
Đó là tại sao trong khi ấy, hành giả cảm thọ là
cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, bỏ một bên sự
ham muốn hay phiền muộn đối với cuộc đời.
Vị ấy thực hành: thở vô với trải nghiệm tâm thái; vị ấy
thực hành: thở ra với trải nghiệm tâm thái. Vị ấy thực
hành: thở vô với trải nghiệm tâm tập chú; vị ấy thực
hành: thở ra với trải nghiệm tâm tập chú. Vị ấy thực
hành: thở vô với trải nghiệm tâm thanh thản; vị ấy thực
hành: thở ra với trải nghiệm tâm thanh thản.
Trong khi ấy, hành giả quán tâm
là tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, bỏ một bên sự
ham muốn hay phiền muộn đối với cuộc đời. Ta không
nói rằng có sự tu tập quán niệm hơi thở ra vào đối với
người thất niệm hay không chánh niệm hoàn toàn.
Đó là tại sao trong khi ấy, hành giả quán tâm là
tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, bỏ một bên sự ham
muốn hay phiền muộn đối với cuộc đời.
Vị ấy thực hành: thở vô với tùy quán vô thường; vị ấy
thực hành: thở ra với tùy quán vô thường. Vị ấy thực
hành: thở vô với tùy quán biến hoại; vị ấy thực hành:
thở ra với tùy quán biến hoại. Vị ấy thực hành: thở vô
với tùy quán tịch tịnh; vị ấy thực hành: thở ra với tùy
quán tịch tịnh. Vị ấy thực hành: thở vô với tùy quán từ
bỏ; vị ấy thực hành: thở ra với tùy quán từ bỏ.
Trong khi ấy, hành giả quán pháp là pháp, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm, bỏ một bên sự ham muốn hay phiền
muộn đối với cuộc đời. Thấy với minh sát từ bỏ ham
muốn hay phiền muộn vị ấy nhìn bằng sự bình tâm.
Đó là tại sao trong khi ấy, hành giả quán tâm là
tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, bỏ một bên sự ham
muốn hay phiền muộn đối với cuộc đời.
Này chư Tỳ Khưu,
đó là quán niệm hơi thở được tu tập, được khai
triểnkhiến cho tứ niệm xứ được viên mãn
(Còn
tiếp) Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng |