|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 04 tháng 01, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 358. KHÁI NIỆM VỀ TOÀN BỘ- Kinh Nhất Thiết (sabbasuttaṃ). ******
Trong quan niệm sống cũng như tư duy triết học chữ
“tất cả” thường tạo ra nhiều
điểm gai góc. Đối với một vị
tướng thủ thành với trọng trách
canh giữ tất cả cửa ra vào thì
chữ “tất cả” là một khẳng định
không thể sai khác. Đối với một
người khi trãi nghiệm món ăn
ngon cho rằng đây là món ngon
nhất trong tất cả món ăn thì chữ
“tất cả” đó nên hiểu mang tính
tương đối vì bản thân người ăn
không thể bao gồm mọi văn hoá,
trãi nghiệm, hoàn cảnh… là những
thứ cần thiết để xác định ngon
dở của ẩm thực. Ngay cả với
người tu tập thì chữ “nhất
thiết” hay “tất cả” cũng chứa
đựng “công án” lớn. Khi không cò
có bất cứ trạng thái hay sự vật
nào để chấp thủ “đây lả của ta,
là ta, là tự ngã của ta” thì đạt
đến chỗ khai phóng toàn diện.
Nhưng vấn đề là khi nghĩ tới
buông xã tất cá, mấy ai không
ngại ngùng trưóc khoảng không
chơi vơi trưóc mặt?
23. sāvatthinidānaṃ.
“sabbaṃ vo, bhikkhave,
desessāmi. taṃ suṇātha. kiñca,
bhikkhave, sabbaṃ? cakkhuñceva
rūpā ca, sotañca {sotañceva (?)
evamitarayugalesupi} saddā ca,
ghānañca gandhā ca, jivhā ca
rasā ca, kāyo ca phoṭṭhabbā ca,
mano ca dhammā ca — idaṃ
vuccati, bhikkhave, sabbaṃ. yo,
bhikkhave, evaṃ vadeyya —
‘ahametaṃ sabbaṃ paccakkhāya
aññaṃ sabbaṃ paññāpessāmī’ti,
tassa vācāvatthukamevassa
{vācāvatthurevassa (sī. pī.),
vācāvatthudevassa (syā. kaṃ.)};
puṭṭho ca na sampāyeyya,
uttariñca vighātaṃ āpajjeyya.
taṃ kissa hetu? yathā taṃ,
bhikkhave, avisayasmin”ti.
paṭhamaṃ.
23. Tất Cả
Tại Sāvatthī.
“Này chư Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các
Thầy về ‘nhất thiết.’ Hãy lắng
nghe ...
“Này chư Tỳ
khưu, thế nào là ‘nhất thiết’?
Đó là mắt và các cảnh sắc, tai
và cảnh thinh, mũi và cảnh khí,
lưỡi và cảnh vị, thân và cảnh
xúc, ý và cảnh pháp. Đây được
gọi là ‘nhất thiết.’
“Này chư Tỳ
khưu, nếu có ai nói như sau: ‘Từ
bỏ cái gọi là tất cả này, ta sẽ
làm rõ một cái tất cả khác’—thì
lời nói đó chỉ là một sự khoe
khoang trống rỗng từ người ấy.
Nếu bị chất vấn, người ấy sẽ
không thể trả lời. Hơn nữa,
người ấy sẽ gặp phiền luỵ. Vì
sao? Bởi vì, này chư Tỳ khưu, điều
đó không thuộc phạm vi (hiểu
biết) của người ấy.”
Chú Thích
Theo Sớ Giải chữ sabba – “nhất thiết” hay “tất cả” có bốn phạm trù:
1.
Sabbasabbaṃ - tất cả toàn diện –
là cảnh giới nhận thức của nhất
thiết chủng trí của chư vị chánh
đẳng chánh giác tức bậc toàn
tri.
2.
Āyatanasabbaṃ - tất cả thuộc về
các căn và cảnh - tức là tất cả
những gì thuộc tâm thức và đối
tượng nhận thức.
3.
Sakkāyasabbaṃ: - tất cả thuộc về
tự thân - tức năm uẩn (sắc, thọ,
tưởng, hành, thức).
4.
Padesasabbaṃ: Tất cả thuộc về
từng phần trong phạm vi riêng
biệt.
Như vậy khi nói “tất cả” hay toàn bộ thì không có nghĩa là bao trùm mọi
phạm trù.
Theo Sớ giải thì bốn phạm trù kể trên cái sau hẹp hơn cái trước. Sở tri
của chư vị chánh đẳng chánh giác
bao gồm tất cả pháp kể cả điều
có thể và không thể. Phạm trù
thứ hai chỉ bao gồm hai sự thật
tục đế và chân đế. Phạm trù thứ
bao không bao gồm chân đế vô vi.
Phạm trù thứ tư chỉ trong phạm
vi giới hạn cá biệt thí dụ nói
về “thân đồng tưởng đồng, thân
đồng tưởng dị….”
Đối với phàm nhân thì phạm trù nhận thức nằm trong mười hai xứ hoặc năm
uẩn. Những suy luận về niết bàn
chỉ có thể hiều một cách tương
đối. Cố gắng vẽ vời cái “thực
hữu” dù là “chân không” ngoài
mười hai xứ chỉ là cách nói khoa
trương.
Nên lưu ý “cảnh pháp” của ngoại xứ trong phẩm nầy không kể niết bàn như
trong Thắng Pháp vì Đức Phật dạy
cảnh pháp ở đây của vô thường,
khổ não
Sớ Giải
23. sabbavaggassa paṭhame sabbaṃ vo, bhikkhaveti sabbaṃ nāma
catubbidhaṃ — sabbasabbaṃ,
āyatanasabbaṃ, sakkāyasabbaṃ,
padesasabbanti. tattha —
“na tassa addiṭṭhamidhātthi kiñci,
atho aviññātamajānitabbaṃ.
sabbaṃ abhiññāsi yadatthi neyyaṃ,
tathāgato tena samantacakkhū”ti. (mahāni. 156; cūḷani.
dhotakamāṇavapucchāniddeso 32;
paṭi. ma. 1.121) —
idaṃ sabbasabbaṃ nāma. “sabbaṃ vo, bhikkhave, desessāmi, taṃ
suṇāthā”ti (saṃ. ni. 4.24) idaṃ
āyatanasabbaṃ nāma.
“sabbadhammamūlapariyāyaṃ vo,
bhikkhave, desessāmī”ti (ma. ni.
1.1) idaṃ sakkāyasabbaṃ nāma.
“sabbadhammesu vā pana
paṭhamasamannāhāro uppajjati
cittaṃ mano mānasaṃ ... pe ...
tajjāmanodhātū”ti idaṃ
padesasabbaṃ nāma. iti
pañcārammaṇamattaṃ padesasabbaṃ.
tebhūmakadhammā sakkāyasabbaṃ.
catubhūmakadhammā āyatanasabbaṃ.
yaṃkiñci neyyaṃ sabbasabbaṃ.
padesasabbaṃ sakkāyasabbaṃ na
pāpuṇāti, sakkāyasabbaṃ
āyatanasabbaṃ na pāpuṇāti,
āyatanasabbaṃ sabbasabbaṃ na
pāpuṇāti. kasmā?
sabbaññutaññāṇassa ayaṃ nāma
dhammo ārammaṇaṃ na hotīti
natthitāya. imasmiṃ pana sutte
āyatanasabbaṃ adhippetaṃ.
paccakkhāyāti paṭikkhipitvā. vācāvatthukamevassāti, vācāya
vattabbavatthumattakameva
bhaveyya. imāni pana
dvādasāyatanāni atikkamitvā ayaṃ
nāma añño sabhāvadhammo atthīti
dassetuṃ na sakkuṇeyya. puṭṭho
ca na sampāyeyyāti, “katamaṃ
aññaṃ sabbaṃ nāmā”ti? pucchito,
“idaṃ nāmā”ti vacanena
sampādetuṃ na sakkuṇeyya.
vighātaṃ āpajjeyyāti dukkhaṃ
āpajjeyya. yathā taṃ, bhikkhave,
avisayasminti ettha tanti
nipātamattaṃ. yathāti
kāraṇavacanaṃ, yasmā avisaye
puṭṭhoti attho. avisayasmiñhi
sattānaṃ vighātova hoti,
kūṭāgāramattaṃ silaṃ sīsena
ukkhipitvā gambhīre udake
taraṇaṃ avisayo, tathā
candimasūriyānaṃ ākaḍḍhitvā
pātanaṃ, tasmiṃ avisaye
vāyamanto vighātameva āpajjati,
evaṃ imasmimpi avisaye
vighātameva āpajjeyyāti
adhippāyo.
1.
Sabbasabbaṃ: Tất cả toàn diện.
2.
Āyatanasabbaṃ: Tất cả thuộc về các căn
và đối tượng.
3.
Sakkāyasabbaṃ: Tất cả thuộc về năm uẩn
(sắc, thọ, tưởng, hành, thức).
4.
Padesasabbaṃ: Tất cả thuộc về từng phần
hoặc từng phạm vi nhỏ.
Sabbasabbaṃ
là
khái niệm toàn diện nhất, bao
trùm tất cả những gì cần được
hiểu biết và nhận thức. Trong
bài kinh, điều này được minh họa
bằng bài kệ:
“Không gì
trong thế gian này không được
thấy,
Āyatanasabbaṃ như đã dạy trong bài kinh Saṃyutta Nikāya 4.24, đây
là tất cả bao gồm sáu căn (mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và sáu
đối tượng tương ứng (sắc, thanh,
khí, vị, xúc, pháp).
Sakkāyasabbaṃ như đề cập trong bài kinh Mūlapariyāya Sutta (Majjhima
Nikāya 1.1), đây là tất cả
những gì thuộc về năm uẩn, tức
là thân và tâm trong sự hiện hữu
của một chúng sinh.
Padesasabbaṃ là khái niệm giới hạn, đề cập đến từng phần của pháp giới. Ví
dụ, trong phần mô tả tâm và ý
thức xuất hiện qua từng đối
tượng cụ thể, như chỉ dựa trên
năm căn và đối tượng tương ứng.
Điều này xảy ra vì mỗi khái niệm chỉ phản ánh một phạm vi giới hạn trong
pháp giới. Chỉ có
Sabbasabbaṃ—toàn diện tất cả—mới
là khái niệm bao trùm hoàn toàn.
Ví dụ minh họa về “avisaya”:
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
III. Phẩm Tất Cả
23.I. Tất Cả (S.iv,15)
1) Sàvatthi...
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về tất cả. Hãy lắng
nghe.
3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả? Mắt và các sắc;
tai và các tiếng ; mũi và các hương; lưỡi và các vị ; thân và
các xúc; ý và các pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là tất cả.
4) Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Sau khi từ bỏ tất cả
này, ta sẽ tuyên bố (một) tất cả khác", thời lời nói người ấy
chỉ là khoa ngôn. Và bị hỏi, người ấy không thể chứng minh gì.
Và hơn nữa, người ấy có thể rơi vào ách nạn. Vì sao? Này các
Tỷ-kheo, như vậy ra ngoài giới vức (avisaya) của người ấy!
-ooOoo- |