|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 05 tháng 01, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 583. ĐỈNH CAO CỦA TỪ, BI, HỶ, XẢ - Kinh Câu Hữu Với Từ tâm (Mettāsahagatasuttaṃ) .
...
.
Trong sự tu tập, có phương về cách nâng tầm các tâm cao thượng từ cấp độ
đức hạnh thông thường lên đỉnh cao của định lực và tuệ giác.
Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở việc kết hợp Tứ Vô Lượng Tâm với
Thất Giác Chi, biến tình thương và sự buông xả thành những công
cụ sắc bén để thanh lọc tâm thức. Tâm Từ dẫn đến sự thanh tịnh
(Cái Đẹp), tâm Bi giúp lìa bỏ sắc chất để chứng Không vô biên,
tâm Hỷ mở lối vào Thức vô biên và tâm Xả chạm đến Vô sở hữu xứ.
Đây là lộ trình chuyển hóa từ những cảm xúc đối với chúng sinh
thành các tầng thiền định vô sắc siêu việt. Bài kinh còn dạy ta
nghệ thuật làm chủ tâm thức (Ariyiddhi), giúp hành giả giữ tâm
bình thản, có thể nhìn cái uế nhiễm là thanh tịnh và ngược lại
để không bị cảnh trần lôi cuốn. Cuối cùng, đỉnh cao của các pháp
này không chỉ là định mà là sự giải thoát hoàn toàn, nơi mọi bám
chấp đều được đoạn tận.
Kinh Văn
235. ekaṃ samayaṃ bhagavā koliyesu viharati haliddavasanaṃ nāma
koliyānaṃ nigamo. atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṃ
nivāsetvā pattacīvaramādāya haliddavasanaṃ piṇḍāya pavisiṃsu.
atha kho tesaṃ bhikkhūnaṃ etadahosi — “atippago kho tāva
haliddavasane piṇḍāya carituṃ. yaṃnūna mayaṃ yena
aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā”ti.
Một thuở, Đức Thế Tôn ngự giữa dân Koliya, tại một thị trấn của dân Koliya
tên là Haliddavasana. Rồi vào buổi sáng, một số tỳ-khưu đắp y,
mang bát và y, đi vào Haliddavasana để khất thực. Rồi các vị ấy
nghĩ như sau:
Rồi các tỳ-khưu ấy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo. Các vị chào
hỏi các du sĩ ấy, và sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân
mật, liền ngồi xuống một bên. Khi ấy, các du sĩ nói với các Tỳ
khưu:
“Chúng tôi cũng vậy, này các bạn, dạy pháp cho các đệ tử như vầy:
Khi ấy, các tỳ-khưu ấy không hoan hỷ cũng không bác bỏ lời nói của các du
sĩ ấy. Không hoan hỷ, không bác bỏ, các vị đứng dậy rời đi, suy
nghĩ:
6. “Này các tỳ-khưu, khi các du sĩ ngoại đạo nói như vậy,
họ nên được hỏi rằng:
Khi được hỏi như vậy, các du sĩ ấy sẽ không thể trả lời, và hơn nữa, họ sẽ
gặp sự bối rối, phiền não. Vì sao vậy? Vì điều ấy không thuộc
phạm vi của họ. Này các tỳ-khưu, Ta không thấy có ai trong thế
giới này — với chư thiên, Ma-ra và Phạm thiên; trong thế hệ này
— với các sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người — có thể
làm thỏa mãn tâm bằng câu trả lời cho những câu hỏi ấy, ngoại
trừ Như Lai, hoặc đệ tử của Như Lai, hoặc người đã được nghe từ
các vị ấy.”
“Và này các tỳ-khưu, tâm giải thoát do từ được tu tập như thế nào? Nó có
gì làm chỗ hướng đến, làm chỗ thành tựu, làm quả, làm cứu cánh
tối hậu?
Nếu vị ấy ước muốn: ‘Mong rằng ta an trú, quán thấy sự không đáng chán
trong cái đáng chán,’ thì vị ấy an trú quán thấy sự không đáng
chán trong đó.
Nếu vị ấy ước muốn: ‘Mong rằng ta an trú, quán thấy sự đáng chán trong cả
cái không đáng chán và cái đáng chán,’thì vị ấy an trú quán thấy
sự đáng chán trong đó.
Nếu vị ấy ước muốn: ‘Mong rằng ta an trú, quán thấy sự không đáng chán
trong cả cái đáng chán và cái không đáng chán,’ thì vị ấy an trú
quán thấy sự không đáng chán trong đó.
Nếu vị ấy ước muốn:‘Tránh xa cả cái đáng chán và cái không đáng chán, mong
rằng ta an trú với xả, có niệm, tỉnh giác,’ thì vị ấy an trú như
vậy, với xả, có niệm, tỉnh giác. Hoặc là, vị ấy đi vào và an trú
trong sự giải thoát bởi cái đẹp.
“Và này các tỳ-khưu, tâm giải thoát do bi được tu tập như thế nào? …Hoặc
là, với sự vượt thoát hoàn toàn các tưởng về sắc, với sự diệt
tận các tưởng về xúc chạm, với sự không tác ý đến các tưởng về
sai biệt, biết rằng: ‘Không gian là vô biên,’ vị ấy đi vào và an
trú trong không vô biên xứ. Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng tâm
giải thoát do bi lấy xứ không vô biên làm chỗ thành tựu, đối với
một tỳ-khưu có trí ở đây, khi vị ấy chưa chứng đạt một sự giải
thoát cao thượng hơn.
“Và này các tỳ-khưu, tâm giải thoát do hỷ được tu tập như thế nào? …
“Và này các tỳ-khưu, tâm giải thoát do xả được tu tập như thế nào? …
Chú Thích
Trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) bài kinh này được trích dẫn với tên
là Kinh Haliddavasana (Haliddavasana Sutta).
Đây là bài kinh rất hiếm hoi vễ ý nghĩa và lý giải khi Đức Phật dạy về sự
kết hợp tứ vô lượng tâm, bảy giác chi, và các tầng thiền sắc
giới cùng vô sắc giới. Rõ ràng những lời dạy nầy một phần do lời
tuyên bố của các du sĩ ngoại đạo liên quan đến những pháp kể
trên.
Một điều thường có sự sai biệt trong cách giải thích kinh điển tại các
quốc gia Phật giáo Nam truyền là tứ vô lượng tâm được xem như
pháp tu lợi lạc trong đời sống bình thường và nếu tu tập như
thiền án thì chỉ chứng các tầng thiền sắc giới trong chừng mực
nào đó (…). Thực sự thì trong Kinh Tạng ghi lại rất nhiều trường
hợp Đức Phật dạy về sự tu tập tứ vô lượng tâm và quả chứng nhiều
hơn cách các vị giảng sư thường trình bày. Thí dụ trong trong
Kinh Từ Mẫn (Mettasutta) ở đoạn chót có Phật ngôn là sự tu tập
tâm từ có thể dẫn đến cao điểm là “không còn sanh vào thai bào
nữa” hay nhiều đoạn kinh mà Đức Phật nhấn mạnh về cách tu tập
“vị tỳ khưu sau khi đi khất thực, thọ trai, ngồi kiết già lưng
thẳng với tâm từ câu hữu hướng trước mặt, sau lưng, bên phải,
bên trái…
Trường hợp tu tứ vô lượng tâm dẫn đến chứng các tầng thiền vô sắc không vô
biên, thức vô biên, vô sở hữu đặc biệt rất hiếm hoi dù là trong
chánh tạng, sớ giải hay sự giảng giải thông thường.
Theo Sớ giải khả năng dùng tam muội định để chuyển hoá đối tướng được gọi
là “một thần lực
thánh thiện, không lậu hoặc, không thủ đắc, cao quý”(ayaṃ iddhi
anāsavā anupadhikā ariyā). Trong Paṭisambhidāmagga I 212–213,
pháp này được gọi là:“thần lực của các bậc Thánh” (ariyiddhi).
Giải thích chi tiết hơn được trình bày tại Visuddhimagga 381–382
(Ppn 12:36–38).
Phần sau đây được tóm lược từ Sớ
giải:
(i) Quán đáng chán trong cái không đáng chán (appaṭikkūle paṭikkūlasaññī):
(ii) Quán không đáng trong cái đáng chán (paṭikkūle appaṭikkūlasaññī):
(iii) và (iv): chỉ là sự mở rộng hai cách quán đầu, áp dụng đồng thời cho
cả hai loại đối tượng.
(v): tự nó đã rõ nghĩa.
Theo Sớ giải, giáo lý này được
trình bày cho người không thể chứng A-la-hán sau khi đã quán các
hành pháp dựa trên thiền định được phát triển từ từ tâm.
Sớ giải chú thích từ idhapaññassa
như thể đó là một bahubbīhi hợp từ, mang nghĩa là “người có trí
tuệ thế gian” (lokiyapaññassa). Cụm từ này cũng xuất hiện tại
Dhammapada 375b và AN V 300,14. Tuy nhiên, Manorathapūraṇī (Mp)
V 78,10–11 giải thích cụm này là: “trí tuệ đối với giáo pháp
này” (imasmiṃ sāsane paññā), và cách giải thích này có vẻ thuyết
phục hơn cách giải thích của Sớ
giải.
Trong các bộ chú giải, bốn Phạm trú được xem là những pháp tu đưa đến
thiền sắc giới (xem Vism 111,15–16; Ppn 3:107). Tuy các bộ
Nikāya không trực tiếp liên kết Phạm trú với các tầng thiền cụ
thể, nhưng ở nhiều chỗ, chúng mô tả Phạm trú như là phương tiện
dẫn đến tái sinh vào cõi Phạm thiên hoặc cõi sắc giới (xem chú
thích 109). Vì vậy, Sớ
giải buộc phải đưa ra một cách giải thích khá gượng ép cho những
quy định có vẻ khó hiểu ở đây về “giới hạn tối thượng” của từng
đề mục thiền, đặc biệt là đối với các chứng đắc vô sắc; đoạn này
cũng xuất hiện tại Visuddhimagga 324–325 (Ppn 9:120–123). Tóm
lược như sau:
(i) Người an trú trong từ tâm có thể dễ dàng hướng tâm đến một đề mục
kasiṇa sắc đẹp, và nhanh chóng chứng đạt sự giải thoát bởi cái
đẹp (tức là thiền dựa trên kasiṇa sắc).
(ii) Người an trú trong bi tâm nhận ra sự nguy hiểm trong sắc pháp, nên
phát triển xứ không vô biên, là lối thoát khỏi sắc giới.
(iii) Người an trú trong hỷ tâm nhận biết thức hoan hỷ của chúng sinh, nên
dễ dàng nhập vào xứ thức vô biên.
(iv) Người an trú trong xả tâm khéo léo trong việc chuyển hướng tâm khỏi
lạc và khổ, nên có thể dễ dàng hướng tâm đến sự vắng mặt của mọi
thực thể cụ thể, tức xứ vô sở hữu.
Sớ Giải
235. catutthe mettāsahagatena cetasātiādi sabbaṃ sabbākārena
visuddhimagge (visuddhi. 1.240 241) vitthāritameva.
mayampi kho, āvuso, sāvakānaṃ evaṃ dhammaṃ desemāti idampi
te purimanayeneva satthu dhammadesanaṃ sutvā vadanti.titthiyānañhi samaye
pañcanīvaraṇappahānaṃ vā mettādibrahmavihārabhāvanā vā natthi.
kiṃ gatikā hotīti kiṃ nipphatti hoti. kiṃ paramāti kiṃ uttamā.
kiṃ phalāti kiṃ ānisaṃsā. kiṃ pariyosānāti kiṃ niṭṭhā.
mettāsahagatanti mettāya sahagataṃ saṃsaṭṭhaṃ sampayuttaṃ.
eseva nayo sabbattha. vivekanissitādīni vuttatthāneva.
235-. Trong câu “kết hợp với từ tâm” (mettāsahagatena cetasā) v.v., tất cả
đều đã được trình bày chi tiết mọi khía cạnh trong Thanh Tịnh
Đạo (Visuddhimagga, chương 1, đoạn 240-241).
Câu “Chúng tôi cũng vậy, này các bạn, dạy pháp cho các đệ tử như thế” –
các ngoại đạo ấy cũng nói như vậy sau khi nghe Đức Thế Tôn dạy
pháp. Vì trong tông phái của các ngoại đạo không có việc đoạn
trừ năm triền cái hoặc tu tập các phạm trú từ, bi v.v.
Kiṃ gatikā hoti: có đích đến gì. Kiṃ paramā: có đỉnh
cao gì. Kiṃ phala: có quả gì (lợi ích gì). Kiṃ pariyosāna: có
cứu cánh gì.
Câu hữu với từ (mettāsahagataṃ): cùng sinh với từ,
kết hợp với từ, đồng hành với từ. Cách này áp dụng khắp nơi.
Các từ “dựa trên viễn ly” (vivekanissita) v.v. đã được giải thích ở chỗ đã
nói.
Không đáng ghê tởm (appaṭikūla): có hai loại không đáng
ghét – chúng sinh không đáng ghét và các hành không đáng ghét. Ý
nghĩa là trong cái không đáng ghét, tức đối tượng đáng yêu ấy.
Quán bất tịnh (paṭikūlasaññī): quán với tưởng không
khả ái.
Nhưng làm sao an trú như vậy? Bằng cách biến mãn bất tịnh hoặc tác ý vô
thường. Đã nói trong Phân Tích Đạo (Paṭisambhidāmagga): “Làm sao
an trú quán bất tịnh trong cái không đáng ghét? Biến mãn bất
tịnh trong đối tượng đáng yêu, hoặc quy về vô thường.”
Còn trong cái đáng ghét, tức đối tượng không đáng yêu, bằng cách biến mãn
từ hoặc tác ý các giới (đất, nước, lửa, gió) thì gọi là an trú
với tưởng không đáng ghét. Như đã nói: “Làm sao an trú quán
không đáng ghét trong cái đáng ghét? Biến mãn từ trong đối tượng
không đáng yêu, hoặc quy về các giới.” (Paṭi. ma. 2.17).
Trong các đoạn hỗn hợp cả hai cũng cách ấy. Vì trong cả không đáng ghét
lẫn đáng ghét, bằng cách biến mãn bất tịnh hoặc tác ý vô thường
thì gọi là an trú quán bất tịnh. Còn trong cả đáng ghét lẫn
không đáng ghét, bằng cách biến mãn từ hoặc tác ý các giới thì
gọi là an trú quán không đáng ghét.
Còn việc đã nói theo cách “Sau khi thấy sắc với mắt, không vui, không
buồn” v.v. (Paṭi. ma. 2.17) thì khi khởi xả lục phần
(chaḷaṅgupekkhā) nên hiểu là “Tránh cả không đáng ghét lẫn đáng
ghét, an trú xả ở đó, chánh niệm, tỉnh giác.”
Đến đây, vì đã chỉ cho vị Tỳ-kheo này – sau khi chứng tam tứ thiền với từ
làm đề mục, lấy thiền ấy làm cận y, tăng trưởng quán tuệ và
chứng A-la-hán – các giác chi đạo kết hợp với quán và thần thông
Thánh, nên bài giảng có thể kết thúc.
Nhưng ở đây, dù lấy thiền từ làm cận y để quán các hành, vị ấy vẫn không
thể chứng A-la-hán, vì từ tâm của vị ấy không phải là từ tâm tối
thượng dẫn đến A-la-hán. Còn cái nào là tối thượng thì cần chỉ
rõ. Vì vậy bài giảng này được khởi để chỉ rõ điều ấy.
Trong các đoạn sau “hoàn toàn vượt qua các tưởng sắc” v.v. cũng nên hiểu
lý do khởi bài giảng theo cách này.
Tịnh làm đỉnh cao (subhaparamā): tịnh làm cứu cánh, tịnh
làm cực điểm, tịnh làm thành tựu.
Người có trí ở đây (idhapaññassa): có trí ở đây, không
vượt qua thế giới này – tức người có trí thế gian.
Không thâm nhập giải thoát thù thắng hơn (uttarivimuttiṃ appaṭivijjhato):
không thâm nhập pháp siêu thế.
Còn người có thể thâm nhập thì từ tâm của vị ấy mới là từ tâm tối thượng
dẫn đến A-la-hán – đó là ý nghĩa.
Trong bi v.v. cũng cách ấy.
Tại sao Đức Thế Tôn nói rằng các từ, bi v.v. có tịnh làm đỉnh cao v.v.? Vì
tùy theo sự tương đồng và sở y của mỗi cái.
Với người an trú từ trú, chúng sinh trở nên không đáng ghét; do quen thuộc
với cái không đáng ghét, khi quy tâm vào các màu thanh tịnh như
xanh v.v. trong cái không đáng ghét, tâm dễ dàng hướng vào đó mà
không khó khăn. Do vậy từ là sở y cho tịnh giải thoát, không
vượt hơn, nên gọi là tịnh làm đỉnh cao.
Với người an trú bi trú, khi quán khổ của chúng sinh do các nguyên nhân
như nóng bức, tổn thương v.v., bi có thể khởi; do vậy hành khổ
được thấu triệt rõ ràng. Do thấu triệt rõ hành khổ, khi phá một
biến xứ như địa biến xứ v.v. và quy tâm vào không gian – chỗ
thoát ly sắc – tâm dễ dàng hướng vào đó mà không khó khăn. Do
vậy bi là sở y cho vô biên hư không xứ, không vượt hơn, nên gọi
là vô biên hư không xứ làm đỉnh cao.
Với người an trú hỷ trú, khi quán thức của các chúng sinh khởi hỷ do các
nguyên nhân hỷ lạc, hỷ có thể khởi; do quen thuộc với việc nắm
thức, khi vượt qua vô biên hư không xứ đã chứng theo thứ lớp và
quy tâm vào thức trong tướng không gian, tâm dễ dàng hướng vào
đó mà không khó khăn. Do vậy hỷ là sở y cho vô biên thức xứ,
không vượt hơn, nên gọi là vô biên thức xứ làm đỉnh cao.
Với người an trú xả trú, do không có tác ý “mong chúng sinh được lạc,
thoát khổ, không mất lạc đã được” nên tâm không nắm cực điểm lạc
khổ v.v., sinh khởi từ việc không nắm cái không tồn tại. Do tâm
quen với việc không nắm cực điểm và tâm khổ do nắm cái không tồn
tại, khi vượt qua vô biên thức xứ đã chứng theo thứ lớp – vốn có
thể sinh khởi – và quy tâm vào sự không có thức thực có cực
điểm, tâm dễ dàng hướng vào đó mà không khó khăn. Do vậy xả là
sở y cho vô sở hữu xứ, không vượt hơn, nên gọi là vô sở hữu xứ
làm đỉnh cao.
Khi bài giảng kết thúc, năm trăm Tỳ-kheo chứng A-la-hán.
VI. Phẩm Tổng Nhiếp Giác Chi
54.IV. Từ (Tạp 27,32, Ðại 2, 197b)
(S.v,115)
1) Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koliya, tại thị
trấn của dân Koliya tên là Haliddavasana.
2) Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y cầm y, bát
đi vào Haliddavasana để khất thực.
3) Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ : "Thật là quá sớm để đi vào
Haliddavasana khất thực. Vậy, chúng ta hãy đi đến khu vườn của
các du sĩ ngoại đạo".
4) Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo;
sau khi đến nói lên với những du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào
đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân
hữu, họ liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với
các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:
5) -- Này chư Hiền, Sa-môn Gotama có thuyết pháp như sau cho
các đệ tử : "Hãy đến, này các Tỷ-kheo, sau khi đoạn tận năm
triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy
trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, với
phương thứ hai; cũng vậy, với phương thứ ba; cũng vậy, với
phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang,
hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến
mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không
sân... với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với
tâm câu hữu với xả; cũng vậy, với phương thứ hai; cũng vậy, với
phương thứ ba; cũng vậy, với phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp
thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô
biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng
đại vô biên, không hận, không sân".
6) Này chư Hiền, chúng tôi cũng thuyết pháp cho các đệ tử
như sau : "Hãy đến, này chư Hiền, sau khi đoạn tận năm triền
cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy trú,
biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ... với tâm câu hữu
với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả...
không hận, không sân".
7) Ở đây, này chư Hiền, cái gì là đặc thù, cái gì là thù
thắng, cái gì là sai biệt giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức
là về thuyết pháp hay về giáo giới?
Rồi các Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ, không bác bỏ lời nói các
du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi
đứng dậy, họ ra đi với ý nghĩ : "Chúng ta sẽ được biết ý nghĩa
lời nói này từ nơi Thế Tôn".
8) Rồi các Tỷ-kheo ấy sau khi đi khất thực ở Haliddavasana,
sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn;
sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một
bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :
9) -- Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con, vào buổi sáng, đắp y
cầm y bát đi vào Haliddavasana để khất thực. Rồi, bạch Thế Tôn,
chúng con suy nghĩ như sau : "Thật là quá sớm để đi vào
Haliddavasana khất thực. Vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn các du
sĩ ngoại đạo". Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đi đến khu vườn các
du sĩ ngoại đạo... (như trên) ... Rồi chúng con, bạch Thế Tôn,
không hoan hỷ, không bác bỏ lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy;
không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chúng con ra
đi với ý nghĩ : "Chúng ta sẽ được biết ý nghĩa lời nói này từ
Thế Tôn".
10) -- Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải nói với các
du sĩ ngoại đạo ấy như sau :
"Nhưng này chư Hiền, từ tâm giải thoát tu tập như thế nào?
Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào?
Cứu cánh như thế nào? Và này chư Hiền, bi tâm giải thoát tu tập
như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả
như thế nào? Cứu cánh như thế nào? Và này chư Hiền, hỷ tâm giải
thoát... xả tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế
nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế
nào? " Khi được hỏi như vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại
đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó khăn.
11) Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt ngoài
giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên
giới, thế giới này ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần
chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa
mãn tâm với câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như
Lai, hay đệ tử Như Lai, hay những ai được nghe từ hai vị ấy.
12) Và này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát tu tập như thế
nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế
nào? Cứu cánh như thế nào?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu
với từ... tu tập xả giác chi câu hữu với từ, liên hệ đến viễn
ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Nếu vị ấy muốn : "Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không
ghê tởm", vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm. Nếu vị ấy muốn :
"Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm", vị ấy
trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: "Ta sẽ trú
với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm và pháp ghê tởm",
vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm. Nếu vị ấy muốn : "Ta sẽ trú
với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm và pháp không ghê
tởm", vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn :
"Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm
tỉnh giác", vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác, hay
đạt đến giải thoát được gọi là thanh tịnh, vị ấy an trú. Này các
Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát là thanh tịnh tối thượng, Ta tuyên bố
như vậy. Ở đây là trí tuệ đối với Tỷ-kheo không đạt tới giải
thoát cao hơn.
13) Và này các Tỷ-kheo, bi tâm giải thoát tu tập như thế
nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế
nào? Cứu cánh như thế nào?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu
với bi... tu tập xả giác chi câu hữu với bi liên hệ đến viễn ly,
liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu
vị ấy muốn : "Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê
tởm", vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm... Nếu vị ấy muốn : "Từ
bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm
tỉnh giác", vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác. Vượt
qua một cách hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các tưởng đối
ngại, không tác ý các tưởng sai biệt, vị ấy nghĩ rằng : "Hư
không là vô biên", vị ấy đạt đến và trú Không vô biên xứ. Này
các Tỷ-kheo, Ta nói rằng từ tâm giải thoát lấy Không vô biên xứ
làm tối thắng. Ở đây là trí tuệ của Tỷ-kheo không đạt tới giải
thoát cao hơn.
14) Và này các Tỷ-kheo, tu tập hỷ tâm giải thoát như thế
nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế
nào? Cứu cánh như thế nào?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu
với hỷ... tu tập xả giác chi câu hữu với hỷ liên hệ đến viễn ly,
liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu
vị ấy muốn: "Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê
tởm", vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm... Nếu vị ấy muốn: "Từ
bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm
tỉnh giác", vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác... Vượt
qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, vị ấy nghĩ rằng: "Thức
là vô biên", vị ấy đạt đến và trú Thức vô biên xứ. Này các
Tỷ-kheo, Ta nói rằng hỷ tâm giải thoát lấy Thức vô biên xứ làm
tối thắng. Ở đây là trí tuệ của Tỷ-kheo không đạt tơùi giải
thoát cao hơn.
15) Và này các Tỷ-kheo, tu tập xả tâm giải thoát như thế
nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế
nào? Cứu cánh như thế nào?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu
với xả... tu tập xả giác chi câu hữu với xả liên hệ đến viễn ly,
liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu
vị ấy muốn: "Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê
tởm", vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: "Ta sẽ
trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm", vị ấy trú ở
đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: "Ta sẽ trú với
tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm và pháp không ghê tởm",
vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: "Từ bỏ
cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh
giác", vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác. Sau khi
vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn với ý nghĩ: "Không
có vật gì", vị ấy chứng đạt và trú Vô sở hữu xứ. Ta nói rằng,
này các Tỷ-kheo, xả tâm giải thoát lấy Vô sở hữu xứ làm tối
thắng. Ở đây là trí tuệ của Tỷ-kheo không đạt tới giải thoát cao
hơn.
VI. Phẩm Tổng Nhiếp Giác Chi
53.III. Lửa (Tạp 27,3, Ðại 2, 191c)
(S.v,112)
1) ...
2) Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y cầm y bát,
đi vào Sàvatthi để khất thực.
3-10) ... (Giống như kinh Pháp Môn 52)
11) -- Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo
cần được trả lời như sau : "Này chư Hiền, khi tâm thụ động
(linam), trong khi ấy, tu tập giác chi nào là không phải thời,
trong khi ấy, tu tập giác chi nào là phải thời? Nhưng, này chư
Hiền, trong khi tâm dao động (uddhatam), trong khi ấy, tu tập
giác chi nào là không phải thời, trong khi ấy, tu tập giác chi
nào là phải thời?" Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ
ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó khăn.
12) Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt ngoài
giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên
giới, thế giới này, ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần
chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa
mãn tâm với câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như
Lai, hay đệ tử Như Lai, hay những ai được nghe từ hai vị ấy.
I. Phi Thời
13)-- Trong khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy,
không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là
tu tập định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì
sao? Khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, thật khó làm tâm phát
khởi nhờ những pháp này.
14) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn
lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ ướt, phân bò ướt, củi ướt, để
ngọn lửa ấy giữa mưa, gió và rắc bụi lên trên; người ấy có thể
nhen đỏ ngọn lửa nhỏ ấy không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong
khi ấy, không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải
thời là tu tập định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác
chi. Vì sao? Vì rằng, khi tâm thụ động, thật khó làm tâm phát
khởi nhờ những pháp này.
II. Phải Thời
15) -- Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi
ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập
tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì
rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát
khởi nhờ những pháp này.
16) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn
lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ khô, phân bò khô, củi khô, dùng
miệng thổi, không có rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen đỏ
ngọn lửa ấy không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong
khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu
tập tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao?
Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát
khởi nhờ những pháp này.
III. Không Phải Thời
17) -- Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi
ấy, không phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải
thời là tu tập tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ
giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, tâm dao động, thật
khó được tịnh chỉ do những pháp ấy.
18) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn dập tắt một đống
lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ khô, phân bò khô và củi khô,
lấy miệng thổi, và không rắc bụi lên trên. Người ấy có thể dập
tắt đống lửa lớn ấy không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, không
phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu
tập tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì
sao? Vì rằng, tâm dao động, thật không dễ được tịnh chỉ nhờ
những pháp ấy.
IV. Phải Thời
19) -- Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi
ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập
định giác chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng,
tâm dao động thật dễ được tịnh chỉ nhờ những pháp này.
20) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người muốn dập tắt một đống
lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ ướt, ném vào phân bò ướt,
ném vào củi ướt, để giữa gió và mưa, và rắc bụi lên trên. Người
ấy có thể dập tắt ngọn lửa lớn ấy không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong
khi ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu
tập định giác chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì
rằng, tâm dao động, thật dễ được tịnh chỉ nhờ các pháp này.
21) Nhưng đối với niệm, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lợi ích
trong mọi trường hợp.
|