|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 06 tháng 01, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 584. TƯƠNG QUAN GIỮA TÂM VÀ TRÍ - Kinh Saṅgārava (saṅgāravasuttaṃ) .
...
.
Người ta thường cho rằng trí nhớ suy
giảm vì thời gian, nhưng theo Phật Pháp, phần lớn do tâm trí bị
che mờ bởi năm triền cái. Đức Phật dùng hình ảnh các bát nước để
minh họa cách mà dục, sân, hôn trầm, trạo cử và nghi hoặc làm
biến dạng khả năng nhận thức. Khi tâm bị ô nhiễm, con người
không chỉ quên điều đã học, mà còn không thấy rõ lợi ích của
chính mình và người khác. Ngược lại, khi tâm trong sáng, ngay cả
những điều chưa từng ôn tập cũng có thể tự nhiên hiện khởi. Điều
này cho thấy niệm và định là nền tảng của trí nhớ chân thật, chứ
không phải sự học thuộc máy móc.
Đức Phật cũng dạy rằng rằng học pháp mà không thanh lọc
tâm thì chỉ là tích lũy chữ nghĩa. Chỉ khi tâm không bị chướng
ngại, tuệ giác và giải thoát mới có thể sinh khởi.
Kinh Văn
236. sāvatthinidānaṃ. atha kho
saṅgāravo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
bhagavatā saddhiṃ sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ
vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho saṅgāravo
brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca — “ko nu kho, bho gotama, hetu,
ko paccayo yenekadā dīgharattaṃ sajjhāyakatāpi mantā
nappaṭibhanti, pageva asajjhāyakatā? ko pana, bho gotama, hetu,
ko paccayo yenekadā dīgharattaṃ asajjhāyakatāpi mantā
paṭibhanti, pageva sajjhāyakatā”ti? Nhân duyên tại Sāvatthī. “Thưa Tôn giả Gotama, nhân duyên gì, lý do
gì mà đôi khi những kinh chú đã tụng thuộc từ lâu lại không hiện
lên trong tâm, huống chi là những bài chưa từng tụng? Nhân duyên
gì, lý do gì mà đôi khi những kinh chú chưa từng tụng từ lâu lại
hiện lên trong tâm, huống chi là những bài đã tụng thuộc?”
(i.
Vì sao các kinh chú không hiện lên trong tâm) “Này bà-la-môn, khi một người có tâm thái
bị tham dục chi phối, bị tham dục áp đảo, và không như thực biết
con đường thoát ly tham dục đã sinh, vào dịp ấy người ấy không
biết không thấy như thực lợi ích của mình, lợi ích của người,
lợi ích của cả hai. Do vậy, ngay cả những kinh chú đã tụng thuộc
từ lâu cũng không hiện lên trong tâm, huống chi là những bài
chưa từng tụng. Ví như, này bà-la-môn, một bát nước bị pha với
sơn, nghệ, xanh dương hoặc đỏ thẫm. Nếu một người có mắt tốt
nhìn bóng mặt mình trong đó, người ấy sẽ không biết không thấy
như thực. Cũng vậy, này bà-la-môn, khi một người có tâm thái bị
tham dục chi phối… [122]… vào dịp ấy ngay cả những kinh chú đã
tụng thuộc từ lâu cũng không hiện lên trong tâm, huống chi là
những bài chưa từng tụng. “Lại nữa, này bà-la-môn, khi một người có
tâm thái bị sân hận chi phối, bị sân hận áp đảo, và không như
thực biết con đường thoát ly sân hận đã sinh, vào dịp ấy người
ấy không biết không thấy như thực lợi ích của mình, lợi ích của
người, lợi ích của cả hai. Do vậy, ngay cả những kinh chú đã
tụng thuộc từ lâu cũng không hiện lên trong tâm, huống chi là
những bài chưa từng tụng. Ví như, này bà-la-môn, một bát nước
đang được đun trên lửa, sôi sùng sục, sôi trào. Nếu một người có
mắt tốt nhìn bóng mặt mình trong đó, người ấy sẽ không biết
không thấy như thực. Cũng vậy, này bà-la-môn, khi một người có
tâm thái bị sân hận chi phối… vào dịp ấy ngay cả những kinh chú
đã tụng thuộc từ lâu cũng không hiện lên trong tâm, huống chi là
những bài chưa từng tụng. “Lại nữa, này bà-la-môn, khi một người có
tâm thái bị hôn trầm thụy miên chi phối, bị hôn trầm thụy miên
áp đảo, và không như thực biết con đường thoát ly hôn trầm thụy
miên đã sinh, vào dịp ấy người ấy không biết không thấy như thực
lợi ích của mình, lợi ích của người, lợi ích của cả hai. Do vậy,
ngay cả những kinh chú đã tụng thuộc từ lâu cũng không hiện lên
trong tâm, huống chi là những bài chưa từng tụng. “Ví như, này
bà-la-môn, một bát nước bị phủ đầy rong rêu và tảo. Nếu một
người có mắt tốt nhìn bóng mặt mình trong đó, người ấy sẽ không
biết không thấy như thực. Cũng vậy, này bà-la-môn, khi một người
có tâm thái bị hôn trầm thụy miên chi phối… vào dịp ấy ngay cả
những kinh chú đã tụng thuộc từ lâu cũng không hiện lên trong
tâm, huống chi là những bài chưa từng tụng. “Lại nữa, này bà-la-môn, khi một người có
tâm thái bị trạo cử hối quá chi phối, bị trạo cử hối quá áp đảo,
và không như thực biết con đường thoát ly trạo cử hối quá đã
sinh, vào dịp ấy người ấy không biết không thấy như thực lợi ích
của mình, lợi ích của người, lợi ích của cả hai. Do vậy, ngay cả
những kinh chú đã tụng thuộc từ lâu cũng không hiện lên trong
tâm, huống chi là những bài chưa từng tụng. Ví như, này
bà-la-môn, một bát nước bị gió khuấy động, gợn sóng, lăn tăn,
cuộn sóng. Nếu một người có mắt tốt nhìn bóng mặt mình trong đó,
người ấy sẽ không biết không thấy như thực. Cũng vậy, này
bà-la-môn, khi một người có tâm thái bị trạo cử hối quá chi
phối… vào dịp ấy ngay cả những kinh chú đã tụng thuộc từ lâu
cũng không hiện lên trong tâm, huống chi là những bài chưa từng
tụng. “Lại nữa, này bà-la-môn, khi một người có
tâm thái bị nghi hoặc chi phối, bị nghi hoặc áp đảo, và không
như thực biết con đường thoát ly nghi hoặc đã sinh, vào dịp ấy
người ấy không biết không thấy như thực lợi ích của mình, lợi
ích của người, lợi ích của cả hai. Do vậy, ngay cả những kinh
chú đã tụng thuộc từ lâu cũng không hiện lên trong tâm, huống
chi là những bài chưa từng tụng. Ví như, này bà-la-môn, một bát
nước đục ngầu, không lắng, bùn lầy, đặt trong bóng tối. Nếu một
người có mắt tốt nhìn bóng mặt mình trong đó, người ấy sẽ không
biết không thấy như thực. Cũng vậy, này bà-la-môn, khi một người
có tâm thái bị nghi hoặc chi phối… vào dịp ấy ngay cả những kinh
chú đã tụng thuộc từ lâu cũng không hiện lên trong tâm, huống
chi là những bài chưa từng tụng. “Đây, này bà-la-môn, là nhân duyên, là lý
do mà ngay cả những kinh chú đã tụng thuộc từ lâu cũng không
hiện lên trong tâm, huống chi là những bài chưa từng tụng.
(ii. Vì sao các kinh chú hiện lên trong tâm) “Này bà-la-môn, khi một người có tâm thái
không bị tham dục chi phối, không bị tham dục áp đảo, và như
thực biết con đường thoát ly tham dục đã sinh, vào dịp ấy người
ấy biết và thấy như thực lợi ích của mình, lợi ích của người,
lợi ích của cả hai. Do vậy, ngay cả những kinh chú chưa từng
tụng từ lâu cũng hiện lên trong tâm, huống chi là những bài đã
tụng thuộc. Ví như, này bà-la-môn, một bát nước không bị pha với
sơn, nghệ, xanh dương hoặc đỏ thẫm. Nếu một người có mắt tốt
nhìn bóng mặt mình trong đó, người ấy sẽ biết và thấy như thực.
Cũng vậy, này bà-la-môn, khi một người có tâm thái không bị tham
dục chi phối… vào dịp ấy ngay cả những kinh chú chưa từng tụng
từ lâu cũng hiện lên trong tâm, huống chi là những bài đã tụng
thuộc. “Lại nữa, này bà-la-môn, khi một người có
tâm thái không bị sân hận chi phối… vào dịp ấy ngay cả những
kinh chú chưa từng tụng từ lâu cũng hiện lên trong tâm, huống
chi là những bài đã tụng thuộc. Ví như, này bà-la-môn, một bát
nước không được đun trên lửa, không sôi sùng sục, không sôi
trào. Nếu một người có mắt tốt nhìn bóng mặt mình trong đó,
người ấy sẽ biết và thấy như thực. [125] Cũng vậy, này
bà-la-môn, khi một người có tâm thái không bị sân hận chi phối…
vào dịp ấy ngay cả những kinh chú chưa từng tụng từ lâu cũng
hiện lên trong tâm, huống chi là những bài đã tụng thuộc. “Lại nữa, này bà-la-môn, khi một người có
tâm thái không bị hôn trầm thụy miên chi phối… vào dịp ấy ngay
cả những kinh chú chưa từng tụng từ lâu cũng hiện lên trong tâm,
huống chi là những bài đã tụng thuộc. Ví như, này bà-la-môn, một
bát nước không bị phủ đầy rong rêu và tảo. Nếu một người có mắt
tốt nhìn bóng mặt mình trong đó, người ấy sẽ biết và thấy như
thực. Cũng vậy, này bà-la-môn, khi một người có tâm thái không
bị hôn trầm thụy miên chi phối… vào dịp ấy ngay cả những kinh
chú chưa từng tụng từ lâu cũng hiện lên trong tâm, huống chi là
những bài đã tụng thuộc. “Lại nữa, này bà-la-môn, khi một người có
tâm thái không bị trạo cử hối quá chi phối… vào dịp ấy ngay cả
những kinh chú chưa từng tụng từ lâu cũng hiện lên trong tâm,
huống chi là những bài đã tụng thuộc. Ví như, này bà-la-môn, một
bát nước không bị gió khuấy động, không gợn sóng, không lăn tăn,
không cuộn sóng. Nếu một người có mắt tốt nhìn bóng mặt mình
trong đó, người ấy sẽ biết và thấy như thực. Cũng vậy, này
bà-la-môn, khi một người có tâm thái không bị trạo cử hối quá
chi phối… vào dịp ấy ngay cả những kinh chú chưa từng tụng từ
lâu cũng hiện lên trong tâm, huống chi là những bài đã tụng
thuộc. “Lại nữa, này bà-la-môn, khi một người có
tâm thái không bị nghi hoặc chi phối… vào dịp ấy ngay cả những
kinh chú chưa từng tụng từ lâu cũng hiện lên trong tâm, huống
chi là những bài đã tụng thuộc. Ví như, này bà-la-môn, một bát
nước trong sạch, lắng đọng, trong suốt, đặt nơi sáng. Nếu một
người có mắt tốt nhìn bóng mặt mình trong đó, người ấy sẽ biết
và thấy như thực. Cũng vậy, này bà-la-môn, khi một người có tâm
thái không bị nghi hoặc chi phối… vào dịp ấy ngay cả những kinh
chú chưa từng tụng từ lâu cũng hiện lên trong tâm, huống chi là
những bài đã tụng thuộc. “Đây, này bà-la-môn, là nhân duyên, lý do
mà ngay cả những kinh chú chưa từng tụng từ lâu cũng hiện lên
trong tâm, huống chi là những bài đã tụng thuộc. Này bà-la-môn,
bảy giác chi này là không chướng ngại, không triền cái, không ô
nhiễm tâm; khi được tu tập và làm cho sung mãn, chúng dẫn đến
chứng quả chánh trí và giải thoát. Bảy giác chi gồm những gì?
Niệm giác chi không chướng ngại, trạch pháp giác chi không
chướng ngại, cần giác chi không chướng ngại, hỷ giác cho không
chướng ngại, khinh an giác chi không chướng ngại, định giác chi
không chướng ngại, xả giác chi không chướng ngại. Bảy giác chi
này là không chướng ngại, không triền cái, không ô nhiễm tâm;
khi được tu tập và làm cho sung mãn, chúng dẫn đến chứng quả
chánh trí và giải thoát.” Khi được nghe vậy, bà-la-môn Saṅgārava bạch
Đức Thế Tôn: “Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama!… Từ nay
xin Đức Thế Tôn nhận biết cho con là một cư sĩ đã trọn đời quy y
Tam Bảo.”
Chú Thích Saṅgārava là một bà-la-môn rất uyên bác
ở làng Candalakappa. Một ngày nọ, ông thấy nữ bà la môn
Dhānañjānī vấp ngã và nghe bà thốt lên ba lần: “Quy mạng Đức
Phật, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.” Ông trách bà vì ca ngợi
một “sa-môn đầu trọc” như vậy, nhưng khi bà kể về những phẩm
chất kỳ diệu của Đức Phật, ông sinh lòng mong muốn được gặp
Ngài. Sau đó một thời gian, Đức Phật đến Candalakappa và trú tại
vườn xoài của Todeyya. Khi Dhānañjānī báo tin cho Saṅgārava, ông
đến thăm và hỏi Đức Phật về quan điểm của Ngài đối với các
bà-la-môn. Đức Phật đáp rằng Ngài rất kính trọng những bà-la-môn
đã tự mình chứng ngộ mục tiêu ngay trong hiện tại, khám phá một
giáo pháp trước đây chưa từng được biết. Chính Ngài là một trong
số ấy. Sau đó Ngài kể về việc Ngài xuất gia và dần dần chứng
ngộ. Saṅgārava hỏi thêm liệu có chư thiên không. Đức Phật trả
lời rằng điều ấy không nghi ngờ gì; toàn thế giới đều đồng ý về
điểm ấy. Saṅgārava hoan hỷ và quy y Đức Phật làm thầy
(M.ii.209ff)[trung bộ kinh tập II trang 209 và tiếp theo].
Chú giải Buddhaghosa (MA.ii.808-Chú
giải Trung Bộ Kinh (Papañcasūdanī), quyển II, trang 808
(bản PTS)) nói rằng Saṅgārava là em út trong các anh em
Bhāradvāja – anh em chồng của Dhānañjānī.
Kinh chú – manta
trong
bài kinh không chỉ chung chung cho lời tụng, mà chỉ trực tiếp
đến các chú thuật trong Veda (mantra) – nền tảng tri thức thiêng
liêng của truyền thống Bà-la-môn. Đối với một Bà-la-môn như
Saṅgārava, khả năng ghi nhớ chính xác và dài lâu các bản tụng
này được xem là dấu hiệu của trí tuệ, phẩm giá tôn giáo và địa
vị xã hội. Do đó, câu hỏi của ông không thuần túy mang tính tâm
lý, mà hàm chứa mối quan tâm sâu xa về sự suy giảm giá trị bản
thân và tính chính thống của tri thức tôn giáo.
Đức Phật chuyển trọng tâm từ trí nhớ sang trạng thái tâm.
Thay vì trả lời theo hướng sinh lý hay
học thuật (ví dụ: trí nhớ kém, học chưa đủ), Đức Phật tái định
vị vấn đề: gốc rễ của sự quên nhớ nằm ở tâm thái, không phải ở
lượng tri thức. Đây là một bước chuyển quan trọng từ tri thức
(epistemology) sang thanh tịnh hoá (soteriology). Trí nhớ, theo
Phật pháp, không phải một năng lực độc lập, mà là hệ quả của một
tâm không bị che lấp. Như vậy, vấn đề không phải “nhớ được bao
nhiêu”, mà là tâm đang ở trong tình trạng nào.
Năm triền cái như năm cách “làm méo mó tấm gương tâm”.
Năm triền cái (dục tham, sân hận, hôn
trầm–thụy miên, trạo cử–hối quá, nghi hoặc) không chỉ được liệt
kê như các chướng ngại trừu tượng, mà được Đức Phật minh họa
bằng những hình ảnh rất cụ thể của nước. Nước vốn trong, phản
chiếu rõ, tượng trưng cho tâm nguyên sơ có khả năng nhận thức
đúng sự thật. Khi bị nhuộm màu, đun sôi, che phủ, khuấy động hay
để trong tối, nước không còn phản chiếu chính xác – cũng như tâm
khi bị triền cái chi phối không thể “thấy như thật”
(yathābhūtaṃ). Ẩn dụ này cho thấy triền cái không hủy hoại đối
tượng, mà làm biến dạng khả năng tri nhận của chủ thể.
Sự phục hồi tự nhiên
của nhận thức và ký ức.
Một điểm
tinh tế của bài kinh là: khi triền cái được đoạn trừ, khả năng
nhớ lại không cần cố gắng. Đức Phật nói rõ rằng ngay cả những
bài chưa tụng đọc từ lâu cũng có thể hiện lại trong tâm. Điều
này hàm ý rằng ký ức không mất đi, mà chỉ bị che lấp. Khi các
chướng ngại được dỡ bỏ, tâm trở lại trạng thái sáng trong vốn
có, và tri thức tự nhiên hiển lộ. Đây là một quan điểm rất khác
với tâm lý học hiện đại dựa thuần trên cơ chế lưu trữ–truy xuất.
Bảy giác chi như đối trọng trực tiếp với năm triền cái.
Việc Đức Phật kết luận bài kinh bằng
bảy giác chi (bojjhaṅga) không phải ngẫu nhiên. Trong truyền
thống chú giải, bảy giác chi được xem là những yếu tố làm cho
tâm “không bị chướng ngại, không bị ô nhiễm”, đối lập trực tiếp
với năm triền cái.
Sớ Giải
236. pañcame pagevāti paṭhamaññeva. kāmarāgapariyuṭṭhitenāti
kāmarāgagahitena. kāmarāgaparetenāti kāmarāgānugatena.
nissaraṇanti tividhaṃ kāmarāgassa nissaraṇaṃ
vikkhambhananissaraṇaṃ tadaṅganissaraṇaṃ samucchedanissaraṇanti. 236-. Trong bài kinh thứ năm, chữ “pageva”
(huống chi) cũng giống như câu đầu tiên. “pañcame pagevā”: nghĩa là ngay từ đoạn
đầu tiên. “kāmarāgapariyuṭṭhitena”: nghĩa là bị
dục tham bao trùm. “nissaraṇaṃ” (lối thoát) của dục tham có ba
loại:
1.
Vikkhambhana-nissaraṇa – lối thoát do
đè nén
2.
Tadaṅga-nissaraṇa – lối thoát do đoạn
trừ từng phần
3.
Samuccheda-nissaraṇa – lối thoát do
đoạn tận hoàn toàn Trong đó:
Cụm từ “taṃ tividhampi nappajānātī”
có nghĩa là: không hiểu biết đúng như thật cả ba loại lối
thoát ấy. Trong cụm từ “attatthampītiādīsu”:
Theo phương thức này, ý nghĩa trong tất cả
các đoạn còn lại cũng nên được hiểu tương tự. Theo cách này nên hiểu “lợi ích” trong tất
cả các trường hợp. Sự khác biệt ở đây: Trong các câu “con
đường thoát ly sân hận” v.v. chỉ có hai loại thoát ly – chế ngự
và đoạn tận. Trong đó: Đối với sân hận, sơ thiền từ
(mettā-jhāna) là lối thoát do đè nén, đạo Bất lai
(Anāgāmī-magga) là lối thoát do đoạn tận. Đối với hôn trầm–thụy miên, tưởng ánh sáng
(āloka-saññā) là lối thoát do đè nén, đạo A-la-hán là lối thoát
do đoạn tận. Đối với trạo cử–hối quá, bất kỳ pháp chỉ
(samatha) nào cũng là lối thoát do đè nén; trong đó: trạo cử
được đoạn tận bởi đạo A-la-hán, hối quá được đoạn tận bởi đạo
Bất lai. Đối với nghi hoặc, sự phân định rõ pháp
(dhammavavatthāna) là lối thoát do đè nén, còn đạo Dự lưu
(Sotāpatti-magga) là lối thoát do đoạn tận. Các ví dụ đã nêu như “Ví như, này
bà-la-môn, một bát nước bị pha với sơn” v.v.:
Trong bài kinh này, Đức Thế Tôn đã kết thúc
bài pháp bằng đỉnh cao là A-la-hán quả, sau khi trình bày giáo
pháp liên hệ đến ba cõi hữu. Riêng vị Bà-la-môn thì chỉ an trú ở
mức quy y (chưa chứng đạt Thánh quả).
VI. Phẩm Tổng Nhiếp Giác Chi
55. V. Sangàrava (S.v,121)
1) Sàvatthi...
2) Rồi Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói
với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những
lời chào đón hỏi thăm thân hữu, vị ấy liền ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, Bà-la-môn Sangàrava thưa với Thế Tôn:
3) -- Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi
các chú thuật (mantà) mà tôi học thuộc lòng lâu ngày
(sajjhàyakatà:đọc tụng) lại không nhớ đến được, còn nói gì các
chú thuật không được học thuộc lòng? Do nhân gì, do duyên gì,
thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật mà tôi không học thuộc
lòng lâu ngày, lại nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật được
học thuộc lòng?
I
4) -- Này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị dục tham (kàmaràga)
xâm chiếm, bị dục tham chi phối và không như thật rõ biết sự
xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không
như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như
thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như
thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được
học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ đến được, còn nói gì các
chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trộn lẫn với thuốc nhuộm
gôm lắc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng, và ở đây
một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, không có thể như
thật biết được, thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi
trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối, không
như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi
ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong
khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi
ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú
thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ đến được, còn
nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
5) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị sân xâm chiếm,
bị sân chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi sân đã khởi
lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích
của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của
người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai.
Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không
thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc
lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước được lửa đun sôi, sôi
lên sùng sục, sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn
ngắm mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng
vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị sân xâm chiếm...
Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng không thể nhớ đến
được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
6) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị hôn trầm thụy
miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối, không như thật
biết sự xuất ly ra khỏi hôn trầm thụy miên đã khởi lên; trong
khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình;
trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người;
trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho
nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể
nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc
lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị rong rêu che phủ. Ở
đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của mình, không thể
như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi
trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm... còn nói gì các
chú thuật không được học thuộc lòng.
7) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm
chiếm, bị trạo hối chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi
trạo hối đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết
và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và
thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và
thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng
lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật
không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị gió thổi, dao động,
chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt
của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này
Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm... còn nói gì
các chú thuật không được học thuộc lòng.
8) Lại nữa, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị nghi
hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, và không như thật biết sự
xuất ly khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không
như thật biết và thấy sự lợi ích của mình; trong khi ấy, không
như thật biết và thấy sự lợi ích của người; trong khi ấy, không
như thật biết và thấy sự lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật
được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói
gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị khuấy động, khuấy
đục, khuấy bùn, đặt trong bóng tối. Ở đây, một người có mắt muốn
ngắm khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được.
Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm,
bị nghi hoặc chi phối... còn nói gì các chú thuật không được học
thuộc lòng.
9) Ðây là nhân, đây là duyên, này Bà-la-môn, có khi các chú
thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được,
còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
II
10) -- Này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị dục tham xâm
chiếm, không bị dục tham chi phối, lại như thật rõ biết sự xuất
ly của dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy như thật
biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, như thật biết và
thấy lợi ích của người; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi
ích cả hai. Cho nên, các chú thuật không được học thuộc lòng lâu
ngày được nhớ đến, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc
lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không trộn lẫn với thuốc
gôm lắc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng. Ở đây, một
người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết
và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị
dục tham xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc
lòng.
11) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị sân xâm
chiếm... còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không được lửa đun sôi,
không sôi lên sùng sục, không sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một
người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết
và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị
sân xâm chiếm, không bị sân chi phối... còn nói gì các chú thuật
đã được học thuộc lòng.
12) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị hôn
trầm thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm thụy miên chi
phối... còn nó gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị rong rêu che
phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể
như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi
trú với tâm không bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, không bị hôn
trầm thụy miên chi phối... còn nói gì các chú thuật đã được học
thuộc lòng.
13) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị trạo
hối xâm chiếm, không bị trạo hối chi phối... còn nói gì các chú
thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị gió thổi, không
bị dao động, không bị chấn động, không bị nổi sóng. Ở đây, một
người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết
và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm
không bị trạo hối xâm chiếm, không bị trạo hối chi phối... còn
nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
14) Lại nữa, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị
nghi hoặc xâm chiếm, không bị nghi hoặc chi phối... còn nói gì
các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trừng tịnh, trong sáng,
không bị khuấy động, đặt giữa ánh sáng. Ở đây, một người có mắt
muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được.
Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị nghi
hoặc xâm chiếm, không bị nghi hoặc chi phối và như thật biết sự
xuất ly khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy như
thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, như thật biết
và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, như thật biết và thấy
lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật không được học thuộc lòng
lâu ngày được nhớ đến, còn nói gì các chú thuật đã được học
thuộc lòng.
15) Ðây là nhân, đây là duyên, này Bà-la-môn, có khi các chú
thuật không được học thuộc lòng lâu ngày lại có thể nhớ đến
được, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
16) Có bảy giác chi này, này Bà-la-môn, không chướng ngại,
không triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm
cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Thế nào
là bảy? Niệm giác chi, này Bà-la-môn, không phải là chướng ngại,
triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho
sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát... Xả giác
chi, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm
tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả
minh và giải thoát. Bảy giác chi này, này Bà-la-môn, không phải
là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập,
được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.
17) Khi được nói vậy, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!... từ nay cho đến mạng
chung, con trọn đời quy ngưỡng.
|