|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 07 tháng 01, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 585. NHỮNG ĐIỀU KHIẾN THÂN TÂM AN LẠC - Kinh Abhaya (Abhayasuttaṃ) .
...
.
Phật Pháp dạy rằng cả sự hiểu biết lẫn
thiếu hiểu biết đều không tự nhiên có, mà do nhân duyên. Đức
Phật phủ nhận quan điểm cực đoan cho rằng mê lầm hay giác ngộ là
ngẫu nhiên, qua đó khẳng định tính duyên khởi của đời sống tâm
linh. Năm triền cái được nêu lên như những lực che mờ trực tiếp,
khiến con người tuy có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe
pháp đúng như thật. Điểm then chốt của vô tri không nằm ở sự
hiện diện của phiền não, mà ở chỗ không thấy được lối thoát khỏi
chính phiền não ấy. Ngược lại, tri kiến phát sinh khi tâm được
tu tập trên nền tảng viễn ly, ly tham và đoạn diệt, tiêu biểu
qua các giác chi. Điều này cho thấy trí tuệ không chỉ là tri
thức suy luận, mà là tuệ giác được nuôi dưỡng bằng thực hành.
Kinh Văn
237. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati
gijjhakūṭe pabbate. atha kho abhayo rājakumāro yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ
nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho abhayo rājakumāro bhagavantaṃ
etadavoca — “pūraṇo, bhante, kassapo evamāha — ‘natthi hetu,
natthi paccayo aññāṇāya adassanāya. ahetu, appaccayo {appaccayā
(sī.), appaccayaṃ (?)} aññāṇaṃ adassanaṃ hoti. natthi hetu,
natthi paccayo ñāṇāya dassanāya. ahetu, appaccayo ñāṇaṃ dassanaṃ
hotī’ti. Tôi được nghe như vầy. Này Hoàng tử, có nhân, có duyên để không
biết, để không thấy. Không biết, không thấy có nhân, có duyên.
Này Hoàng tử, có nhân, có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy
có nhân, có duyên.
(i. Nhân của không biết, không thấy)
(ii. Nhân của thấy và biết)
Tu tập trạch pháp giác chi ...,
Tu tập cần giác chi ..., hỷ giác chi
...,
Tu tập khinh an giác chi ...,
Tu tập định giác chi ...,
Chú Thích
Abhaya,
thường được gọi là Abhayarājakumāra. Ông là con trai của vua
Bimbisāra (Tần-bà-sa-la) và bà Padumavatī (Liên Hoa Thị), mỹ
nhân của thành Ujjeni (Ujjain). Khi cậu bé lên bảy tuổi, mẹ gửi
cậu đến với nhà vua, và cậu lớn lên cùng các hoàng tử trong
triều đình. Ban đầu, ông chịu ảnh hưởng của Nigaṇṭha Nātaputta
(Ni-kiền Tử, giáo chủ Kỳ-na giáo), người dạy ông một câu hỏi nan
giải để chất vấn "Sa-môn Gotama" (Đức Phật). Trong câu trả lời
của Đức Phật, hoàng tử nhận ra sự thất bại của Nigaṇṭha và sự
Giác Ngộ tối thượng của Đấng Thế Tôn, rồi trở thành đệ tử của
Ngài. Sau này, khi vua cha qua đời, Abhaya tâm trí bất an và
xuất gia. Nhân dịp Đức Phật thuyết kinh Tālacchiggalūpama Sutta
, ông chứng quả A-la-hán (Thag.26-trưởng lão tăng kệ bài 26; ThagA.i.83-84 Chú
giải TLTK, tập I, trang 83 đến 84, cũng
ThagA.39. Trong ThagA., tên mẹ ông không được đề cập). Kinh
Abhayarājakumāra Sutta (M.i.392ff-trung bộ tập I, trang 392 vấcc trang tiếp theo,
tiếng Việt: Kinh Vương Tử Vô Úy) kể về sự kiện câu hỏi nan giải
này. Kinh cũng đề cập rằng lúc ấy hoàng tử có một đứa con trai
nhỏ mà ông rất yêu quý. Trong Luật Tạng (Vinaya, i.269), Abhaya
được nhắc đến là người đã phát hiện Jīvaka Komārabhacca (Kỳ-bà)
bị bỏ trên đống phân (theo lệnh của mẹ cậu, kỹ nữ Sālāvatī), và
nuôi dưỡng cậu bé lớn lên.
Pūraṇa Kassapa một trong
sáu vị thầy ngoại đạo nổi tiếng thời bấy giờ. Trong khi Kassapa
cho rằng tri thức hay sự ngu si là ngẫu nhiên, không do nỗ lực
hay điều kiện nào tạo nên, thì Đức Phật khẳng định mọi trạng
thái tâm thức đều tuân theo luật nhân duyên. Trí tuệ không phải
là một sự may mắn, và vô minh không phải là một định mệnh không
thể thay đổi.
"không biết, không thấy" không đơn thuần là thiếu
thông tin, mà là trạng thái tâm bị ám ảnh và chế ngự. Khi tâm bị
vây hãm bởi tham, sân, hay nghi ngờ, nó giống như một thấu kính
bị vẩn đục hoặc bị bẻ cong, khiến hành giả không thể nhìn thấy
sự vật đúng như thật (Yathābhūta).
Tầm quan trọng của "Lối thoát" (Nissaraṇa) là một điểm nhấn tinh tế trong đoạn 5 và 6
là cụm từ: "không biết lối thoát khỏi [triền cái] đã khởi lên".
Điều này cho thấy sai lầm không nằm ở chỗ triền cái xuất hiện
(vì đó là lẽ tự nhiên), mà nằm ở chỗ thiếu trí tuệ nhận diện và
phương pháp để giải tỏa chúng. "Biết lối thoát" chính là bước
đầu tiên của sự kiến đạo. Đức Phật xác nhận định danh
"Pháp cái hay pháp ngăn ngại"
(Nīvaraṇā) tạo nên
những trạng thái tâm tiêu cực. Thái tử Abhaya đã rất tinh sắc
khi nhận xét rằng: chỉ cần một chướng ngại thôi cũng đủ làm mù
mắt trí tuệ. Điều này nhắc nhở hành giả về sự nguy hiểm của việc
xem thường những lỗi nhỏ trong tâm thức.
Thất Giác Chi: Nhân duyên của sự sáng suốt được nêu rõ.
Ngược lại với Triền cái, Bảy Giác Chi (Niệm, Trạch pháp,
Tinh tấn, Hỷ, Khinh an, Định, Xả) được trình bày như là nhân
duyên tất yếu để tạo ra tri kiến. Đặc biệt, các pháp này phải đi
kèm với lộ trình: Y cứ viễn ly – Ly tham – Đoạn diệt – Hướng đến
giải thoát. Đây là công thức biến các trạng thái tâm trở thành
năng lực giác ngộ thực thụ. Lời khẳng định cuối cùng của Thái tử
Abhaya về việc sự mệt mỏi tan biến mang ý nghĩa tâm linh sâu
sắc. Sớ giải (Atthakathā) cho biết Abhaya đã chứng quả
Tu-đà-hoàn (Kiến đạo) ngay tại chỗ. Sự "mát mẻ" và "lắng dịu"
không chỉ là do khí hậu trên núi Linh Thứu, mà là kết quả của
việc tâm được gột rửa sạch các triền cái ngay khi thấu triệt
Giáo pháp, khiến nỗi nhọc nhằn của thân xác cũng trở nên nhẹ
nhõm.
Sớ Giải
237. chaṭṭhe aññāṇāya adassanāyāti
aññāṇatthāya adassanatthāya. taggha bhagavā nīvaraṇāti ekaṃsena
bhagavā nīvaraṇā. kāyakilamathoti kāyadaratho. cittakilamathoti
cittadaratho. sopi me paṭippassaddhoti tassa kira satthu santike
sītalaṃ utusappāyaṭṭhānaṃ pavisitvā nisinnassa kāyadaratho
paṭipassambhi, tasmiṃ paṭipassaddhe tadanvayeneva
cittadarathopi. apica maggenevassa etaṃ ubhayampi passaddhanti
veditabbaṃ. 237. Trong bài kinh số sáu (của phẩm nầy): “chaṭṭhe aññāṇāya adassanāyā” “taggha bhagavā nīvaraṇā” “kāyakilamatho” “cittakilamatho” “sopi me paṭippassaddho” Giải thích rằng: vị ấy, khi đến gần bậc
Đạo Sư, đi vào một nơi có khí hậu mát mẻ, dễ chịu, rồi ngồi
xuống; khi ấy, sự mệt mỏi của thân được lắng dịu. Khi sự mệt mỏi
của thân đã lắng dịu, thì sự mệt mỏi của tâm, nương theo đó,
cũng lắng dịu theo. Hơn nữa, cần phải hiểu rằng: cả hai sự
lắng dịu ấy (của thân và của tâm) cũng được lắng dịu nhờ chính
Đạo (magga).
VI. Phẩm Tổng Nhiếp Giác Chi
56. VI. Abhaya (Vô úy) (Tạp 27,1, Ðại
2,191a) (S.v,126)
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Linh
Thứu.
2) Rồi hoàng tử Abhaya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, hoàng tử Abhaya
bạch Thế Tôn:
3) -- Bạch Thế Tôn, Puurana Kassapa nói như sau:
-- "Không có nhân, không có duyên để không biết, không thấy.
Không biết, không thấy không có nhân, không có duyên. Không có
nhân, không có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy không có
nhân, không có duyên". Ở đây, Thế Tôn đã nói như thế nào?
4) -- Này Hoàng tử, có nhân, có duyên để không biết, để
không thấy. Không biết, không thấy có nhân, có duyên. Này Hoàng
tử, có nhân, có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy có nhân, có
duyên.
I
5) -- Do nhân nào, do duyên nào, bạch Thế Tôn, để không
biết, để không thấy? Như thế nào không biết, không thấy có nhân,
có duyên?
6) -- Này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị dục tham xâm
chiếm, bị dục tham chi phối và như thật không biết, không thấy
sự xuất ly khỏi dục và tham đã sanh; đây là nhân, đây là duyên,
này Hoàng tử, để không biết, để không thấy. Như vậy, không biết,
không thấy có nhân, có duyên.
7) Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị sân xâm
chiếm, bị sân chi phối...
8) Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị hôn trầm
thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối...
9) Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị trạo hối
xâm chiếm, bị trạo hối chi phối...
10) Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị nghi hoặc
xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, và thật sự không biết, không
thấy sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã sanh; đây là nhân, đây là
duyên, này Hoàng tử, để không biết, không thấy. Như vậy, không
biết, không thấy có nhân, có duyên.
11) -- Bạch Thế Tôn, pháp môn này được gọi là gì?
-- Này Hoàng tử, được gọi là các triền cái.
-- Thật vậy, chúng là triền cái, bạch Thế Tôn. Thật vậy,
chúng là triền cái, bạch Thiện Thệ. Chỉ bị chinh phục bởi một
triền cái mà thôi, bạch Thế Tôn, cũng không có thể biết như
thật, thấy như thật, còn nói gì bị cả năm triền cái chinh phục.
II
12) -- Nhưng, bạch Thế Tôn, do nhân nào, do duyên nào để
biết, để thấy? Như thế nào biết và thấy có nhân, có duyên?
13) -- Ở đây, này Hoàng tử, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi
liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt,
hướng đến từ bỏ. Vị ấy nhờ tâm được tu tập niệm giác chi nên như
thật biết và thấy. Ðây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để
biết, để thấy. Như vậy, biết và thấy có nhân, có duyên.
14-18) Lại nữa, này Hoàng tử, Tỷ-kheo...
19) Lại nữa, này Hoàng tử, Tỷ-kheo tu tập xả giác chi liên
hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt,
hướng đến từ bỏ. Vị ấy nhờ tâm được tu tập xả giác chi nên như
thật biết và thấy. Ðây là nhân, đây là duyên để biết, để thấy.
Như vậy, thấy và biết có nhân, có duyên.
20) -- Bạch Thế Tôn, pháp môn này được gọi là gì?
-- Này Hoàng tử, được gọi là các giác chi.
-- Thật vậy, chúng là giác chi, bạch Thế Tôn. Thật vậy,
chúng là giác chi, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, chỉ được đầy đủ
với một giác chi mà thôi đã có thể như thật thấy và biết, còn
nói gì đầy đủ cả bảy giác chi.
Bạch Thế Tôn, sự mệt nhọc về thân và mệt nhọc về tâm khi con
leo lên núi Linh Thứu đã đươc khinh an, nhẹ nhàng và pháp đã
được con hoàn toàn chứng đắc. |