|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 08 tháng 01, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 586. MỘT SỐ CÁC BÀI KINH VỀ QUÁN TƯỞNG HÀI CỐT - Kinh Có Quả Lớn (Aṭṭhikamahapphalasuttaṃ), Kinh Một trong hai quả (Aññataraphalasuttaṃ), Kinh Lợi ích lớn (Mahatthasuttaṃ), Kinh An Ổn Thoát Trói Buộc (Yogakkhemasuttaṃ), Kinh Tâm Khẩn Thiết (Saṃvegasuttaṃ), Kinh Trú An Lạc (Phāsuvihārasuttaṃ), Kinh Quán Tưởng Tử Thi Bị Dòi Bọ Ăn (Puḷavakasuttaṃ), Kinh Quán Tưởng Tử Thi Tím Bầm (Vinīlakasuttaṃ), Kinh Quán Tưởng Tử Thi Nứt Nẻ (vicchiddakasuttaṃ), Kinh Quán Tưởng Tử Thi Trương Phồng (Uddhumātakasuttaṃ), Kinh Tu Tập Tâm Từ (Mettāsuttaṃ), Kinh Tu Tập Tâm Bi (Karuṇāsuttaṃ), Kinh Tu Tập Tâm Hỷ (Muditāsuttaṃ), Kinh Tu Tập Tâm Xả upekkhāsuttaṃ, Kinh Chánh Niệm Hơi Thở (ānāpānasuttaṃ). .
...
.
Trong sự tu tập có những pháp môn thoạt nghe mang
tính phản cảm. Quán tưởng tử thi và hài cốt hoàn toàn không nhằm tạo ra
tâm lý sợ hãi tiêu cực, mà là một phương pháp tuệ quán mạnh mẽ để phá vỡ
ảo tưởng ái chấp thân xác. Khi những ảo tưởng về sự mỹ miều giả tạm bị
đập tan, tham dục sẽ tự nhiên suy yếu, trả lại cho hành giả một tâm thức
nhẹ nhàng, nhu nhuyến và dễ dàng hướng về trạng thái viễn ly. Chính tâm
cấp thiết (saṃvega) phát sinh từ sự thấu triệt tính chất tàn tạ của sắc
thân đã trở thành động lực tự thân, thúc đẩy hành giả tinh tấn không
ngừng nghỉ trên đạo lộ. Tuy nhiên, đạo lộ này không hề khô khan hay yếm
thế nhờ sự hiện diện của các pháp Từ, Bi, Hỷ, Xả giúp quân bình tâm thức
và nuôi dưỡng lòng trắc ẩn. Sự kết hợp giữa quán bất tịnh và các tâm vô
lượng tạo nên một trạng thái viễn ly mềm mại, nơi hành giả vừa xa lìa
tham ái vừa không rơi vào trạng thái cực đoan chán ghét. Niệm hơi thở là
thiền án trung tính dung nhiếp cả chỉ và quán để làm lắng dịu mọi vọng
tâm còn sót lại.
Kinh Văn
Kinh Có Quả Lớn (Aṭṭhikamahapphalasuttaṃ)
238.
Tại Sāvatthī.
“Và này các Tỳ-khưu, quán tưởng hài cốt
được tu tập và làm cho sung mãn như thế nào để có quả lớn, có lợi ích
lớn? Ở đây, này các Tỳ-khưu, một Tỳ-khưu tu tập niệm giác chi đi cùng
với quán tưởng hài cốt … tu tập xả giác chi đi cùng với quán tưởng hài
cốt , y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, đưa đến thành thục
trong giải thoát.
Kinh Một trong hai quả
(Aññataraphalasuttaṃ) “aṭṭhikasaññāya, bhikkhave, bhāvitāya bahulīkatāya dvinnaṃ phalānaṃ aññataraṃ phalaṃ pāṭikaṅkhaṃ — diṭṭheva dhamme aññā, sati vā upādisese anāgāmitā. kathaṃ bhāvitāya ca kho, bhikkhave, aṭṭhikasaññāya kathaṃ bahulīkatāya dvinnaṃ phalānaṃ aññataraṃ phalaṃ pāṭikaṅkhaṃ — diṭṭheva dhamme aññā, sati vā upādisese anāgāmitā? idha, bhikkhave, bhikkhu aṭṭhikasaññāsahagataṃ satisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... aṭṭhikasaññāsahagataṃ upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ bhāvitāya kho, bhikkhave, aṭṭhikasaññāya evaṃ bahulīkatāya dvinnaṃ phalānaṃ aññataraṃ phalaṃ pāṭikaṅkhaṃ — diṭṭheva dhamme aññā, sati vā upādisese anāgāmitā”ti.
“Này các Tỳ-khưu, khi
quán tưởng hài cốt được tu tập và
làm cho sung mãn, thì có thể mong đợi một trong hai quả: hoặc là
tuệ giác tối hậu ngay trong đời này, hoặc nếu
còn dư y thì chứng quả bất lai.
“Và này các Tỳ-khưu,
quán tưởng hài cốt được tu tập và
làm cho sung mãn như thế nào để có thể mong đợi một trong hai quả: hoặc
là tuệ giác tối hậu ngay trong đời này, hoặc nếu còn dư y thì chứng quả
bất lai? Ở đây, này các Tỳ-khưu, một Tỳ-khưu tu tập niệm giác chi đi
cùng với quán tưởng hài cốt … tu
tập xả giác chi đi cùng với quán
tưởng hài cốt, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, đưa đến thành
thục trong giải thoát.
Chính như vậy, này các Tỳ-khưu,
quán tưởng hài cốt được tu tập và
làm cho sung mãn để có thể mong đợi một trong hai quả: hoặc là trí cứu
cánh ngay trong đời này, hoặc nếu còn dư y chấp thủ thì chứng quả Bất
Lai.”
Kinh Lợi ích lớn (Mahatthasuttaṃ) “aṭṭhikasaññā, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahato atthāya saṃvattati. kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, aṭṭhikasaññā kathaṃ bahulīkatā mahato atthāya saṃvattati? idha, bhikkhave, bhikkhu aṭṭhikasaññāsahagataṃ satisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... aṭṭhikasaññāsahagataṃ upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, aṭṭhikasaññā evaṃ bahulīkatā mahato atthāya saṃvattatī”ti.
“Này các Tỳ-khưu, khi
quán tưởng hài cốt được tu tập và
làm cho sung mãn, thì dẫn đến lợi ích lớn.
“Và này các Tỳ-khưu,
quán tưởng hài cốt được tu tập và
làm cho sung mãn như thế nào để dẫn đến lợi ích lớn? Ở đây, này các
Tỳ-khưu, một Tỳ-khưu tu tập niệm giác chi đi cùng với
quán tưởng hài cốt … tu tập xả
giác chi đi cùng với quán tưởng
hài cốt, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, đưa đến thành thục
trong giải thoát.
Chính như vậy, này các Tỳ-khưu,
quán tưởng hài cốt được tu tập và
làm cho sung mãn để dẫn đến lợi ích lớn.”
Kinh An Ổn Thoát Trói Buộc
(Yogakkhemasuttaṃ) “aṭṭhikasaññā, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahato yogakkhemāya saṃvattati. kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, aṭṭhikasaññā kathaṃ bahulīkatā mahato yogakkhemāya saṃvattati? idha, bhikkhave, bhikkhu aṭṭhikasaññāsahagataṃ satisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... aṭṭhikasaññāsahagataṃ upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, aṭṭhikasaññā evaṃ bahulīkatā mahato yogakkhemāya saṃvattatī”ti.
“Này các Tỳ-khưu, khi
quán tưởng hài cốt được tu tập và
làm cho sung mãn, thì dẫn đến an ổn lớn khỏi trói buộc.
“Và này các Tỳ-khưu,
quán tưởng hài cốt được tu tập và
làm cho sung mãn như thế nào để dẫn đến an ổn lớn khỏi trói buộc?…”
Kinh Tâm Cấp Thiết (Saṃvegasuttaṃ) “aṭṭhikasaññā, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahato saṃvegāya saṃvattati. kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, aṭṭhikasaññā kathaṃ bahulīkatā mahato saṃvegāya saṃvattati? idha, bhikkhave, bhikkhu aṭṭhikasaññāsahagataṃ satisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... aṭṭhikasaññāsahagataṃ upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, aṭṭhikasaññā evaṃ bahulīkatā mahato saṃvegāya saṃvattatī”ti.
“Này các Tỳ-khưu, khi
quán tưởng hài cốt được tu tập và
làm cho sung mãn, thì dẫn đến tâm cấp thiết.
“Và này các Tỳ-khưu,
quán tưởng hài cốt được tu tập và
làm cho sung mãn như thế nào để dẫn đến tâm khẩn thiết lớn?…”
Kinh Trú An Lạc (Phāsuvihārasuttaṃ) “aṭṭhikasaññā, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahato phāsuvihārāya saṃvattati. kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, aṭṭhikasaññā kathaṃ bahulīkatā mahato phāsuvihārāya saṃvattati? idha, bhikkhave, bhikkhu aṭṭhikasaññāsahagataṃ satisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... aṭṭhikasaññāsahagataṃ upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, aṭṭhikasaññā evaṃ bahulīkatā mahato phāsuvihārāya saṃvattatī”ti. paṭhamaṃ.
“Này các Tỳ-khưu, khi
quán tưởng hài cốt được tu tập và
làm cho sung mãn, thì dẫn đến trú trong an lạc lớn.
“Và này các Tỳ-khưu,
quán tưởng hài cốt được tu tập và
làm cho sung mãn như thế nào để dẫn đến trú trong an lạc lớn?…”
(Mỗi bài kinh tiếp theo, từ §§58–76,
đều được triển khai theo phương pháp sáu phần của §57.)
Kinh Quán Tưởng Tử Thi Bị Dòi Bọ Ăn
(Puḷavakasuttaṃ)
239. “puḷavakasaññā {puḷuvakasaññā (ka.)}, bhikkhave, bhāvitā ... pe ... dutiyaṃ.
“Này các Tỳ-khưu, khi quán tưởng về tử
thi bị dòi bọ ăn được tu tập …”
Kinh Quán Tưởng Tử Thi Tím Bầm
(Vinīlakasuttaṃ)
240. “vinīlakasaññā, bhikkhave ... pe ... tatiyaṃ.
“Này các Tỳ-khưu, khi quán tưởng về tử
thi tím bầm được tu tập …”
Kinh Quán Tưởng Tử Thi Nứt Nẻ
vicchiddakasuttaṃ
241. “vicchiddakasaññā, bhikkhave ... pe ... catutthaṃ.
“Này các Tỳ-khưu, khi quán tưởng về tử
thi nứt nẻ được tu tập …”
Kinh Quán Tưởng Tử Thi Trương Phồng
(Uddhumātakasuttaṃ)
242. “uddhumātakasaññā, bhikkhave ... pe ... pañcamaṃ.
“Này các Tỳ-khưu, khi quán tưởng về tử
thi trương phồng được tu tập …”
Kinh Tu Tập Tâm Từ (Mettāsuttaṃ)
243. “mettā, bhikkhave, bhāvitā ... pe ... chaṭṭhaṃ.
“Này các Tỳ-khưu, khi tâm từ được tu
tập …”
Kinh Tu Tập Tâm Bi (Karuṇāsuttaṃ)
244. “karuṇā, bhikkhave, bhāvitā ... pe ... sattamaṃ.
“Này các Tỳ-khưu, khi tâm bi được tu
tập …”
Kinh Tu Tập Tâm Hỷ (Muditāsuttaṃ)
245. “muditā, bhikkhave, bhāvitā ... pe ... aṭṭhamaṃ.
“Này các Tỳ-khưu, khi tâm hỷ được tu
tập …”
Kinh
Tu Tập Tâm Xả upekkhāsuttaṃ
246. “upekkhā, bhikkhave, bhāvitā ... pe ... navamaṃ.
“Này các Tỳ-khưu, khi tâm xả được tu
tập …” [132]
Kinh Chánh Niệm Hơi Thở (ānāpānasuttaṃ)
247. “ānāpānassati, bhikkhave, bhāvitā ... pe ... dasamaṃ. “Này các Tỳ-khưu, khi niệm hơi thở được tu tập …”
Chú Thích
Phẩm Thở Ra Vào – ānāpānavaggo - lấy theo tên của bài kinh cuối cùng.
Đây là trường hợp khá đặc biệt về cách đặt tên. Phần lớn các bài kinh
trong phẩm đề cập đến quán tưởng hài cốt. Phẩm kinh này không nhằm dạy
nhiều đề mục rời rạc, mà trình bày một lộ trình thanh lọc tâm để phát
sinh giác chi từ đó hướng đến giải thoát. Do vậy gom chung một bài học.
Chữ saññā - thường được dịch là “tưởng”
trong ngữ cảnh tu tập nên được hiểu là:
Dùng một hình ảnh thật như tử thi hay hài cốt làm ấn tượng ghi lại trong
tâm để sau đó quán tưởng “thân nầy bản chất cũng giống như vậy”. Trong
trường hợp tu tập thiền chỉ (samatha) thì đó là ấn tượng gom tâm. Trong
ngữ cảnh các bài kinh phẩm nầy dịch là “quán tưởng” tránh được chữ
“tưởng” theo cách hiểu thông thường.
Quán tưởng hài cốt (aṭṭhikasaññā) là một trong mười bất tịnh quán
(asubha), được Sớ giải xác định là đối trị tham dục (rāga) một cách trực
tiếp, đặc biệt là kāmarāga được hiểu là sắc dục và nhục dục.
“Hài cốt” ở đây bao
gồm cả hình ảnh trước mắt và ấn tượng đã được định tướng (nimitta-gata)
sau khi hành giả đã vượt qua giai đoạn quán thô. Sớ giải nhấn mạnh:
saññā ở đây là quán tưởng có năng lực định tâm, không phải hồi tưởng tán
loạn.
“Được tu tập và làm cho sung mãn” (bhāvitā bahulīkatā)
nên hiểu: Bhāvitā: tu tập cho sinh khởi đúng cách. Bahulīkatā: lập đi
lập lại, làm cho quen thuộc, đến mức tưởng trở thành nền tảng thường
trực của tâm. Sớ giải chú thích: nếu chỉ quán nhất thời thì chưa gọi là
bahulīkatā.
Sớ giải nêu lên câu hỏi: Vì sao liên hệ với Thất Giác Chi?
Và xác
định rõ: Bất kỳ đề mục thiền định đúng pháp nào, nếu được tu tập bằng
như lý tác ý, đều có thể làm nền cho Thất Giác Chi sinh khởi. Ở đây,
aṭṭhikasaññā không phải chỉ dẫn đến chỉ (samatha), mà được dùng làm căn
bản cho quán (vipassanā). Do đó, kinh lặp lại cùng một công thức: niệm
giác chi → … → xả giác chi “Một trong hai quả” – Sớ giải giải thích: “Tuệ giác
tối hậu ngay trong đời này”
“Dẫn đến tâm cấp thiết” (saṃvega) theo
Sớ giải do sự chấn động nội tâm trước
vô thường – khổ – bất tịnh của thân. Aṭṭhikasaññā là đề mục tạo saṃvega
mạnh, vì nó phá tan ảo tưởng về thân khả ái. “An trú trong an lạc”
– được Sớ giải chú thích: An lạc (phāsuvihāra) ở đây không phải lạc thô,
mà là lạc do ly dục, lạc do tâm không còn bị thân chi phối Nói cách khác
khi tham dục suy yếu thì tâm nhẹ, ổn, không dao động. Các
thiền án từ kinh số 58 đến 61 về tử thi biến tướng với những hình
thái: bị dòi bọ ăn, có màu
tím bầm, nứt nẻ, sình trương đều
là biến thể của asubha, khác nhau chỉ ở tướng đối trị. Sớ giải ghi
rõ:Không cần tu tất cả; một đề mục hợp căn tính là đủ.
Theo Sớ giải: Sau khi tham dục bị làm suy yếu, tâm trở nên
nhu nhuyến, dễ triển khai từ, bi, hỷ, xả.
Brahmavihāra ở đây không phải thiền án
đơn thuần, mà là: Phương cách thanh lọc tâm, hỗ trợ Thất Giác Chi
Thuật ngữ “Ānāpānasati”
dịch sát nghĩa là “chánh niệm hơi thở
ra vào”. Vì mang ý nghĩa rất chuyên môn trong thiền học Phật giáo nên
các học giả Trung Ho thời xưa chọn cách phiên âm “an ban thủ ý” hay dịch
là “nhập tức xuất tức niệm” . Sớ giải chú thích: Ānāpānasati được tu tập
theo cả hai chỉ và quán; thích hợp cho mọi căn cơ. Nhưng hiệu lực mạnh
nhất khi: đã có tâm khẩn thiết (saṃvega)
từ quán bất tịnh và đã có tâm nhu nhuyến do tu từ, bi, hỷ, xả.
brahmavihāra
Sớ Giải Vì phần Sớ Giải cho trọn phẩm quá dài nên lượt dịch
và đưa vào chú thích vì vậy không có bản dịch Sớ giải riêng từng bài.
VII. Phẩm Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra
57. I. Bộ Xương (Tạp
27,38, Ðại 2,198a) (S.v,129)
I. Quả Lớn, Lợi Ích Lớn
1) Sàvatthi...
2) -- Tu tập cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn, được
quả lớn, được lợi ích lớn.
3) Này các Tỷ-kheo, cốt tưởng tu tập như thế nào, làm cho sung
mãn như thế nào, đưa đến quả lớn, đưa đến lợi ích lớn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu
với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ
đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tu tập xả giác chi câu hữu với
cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến
đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
5) Này các Tỷ-kheo, cốt tưởng được tu tập như vậy, được làm cho
sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn.
II. Trí Và Bất Hoàn (Annàsativà)
1) ...
2) -- Tu tập, làm cho sung mãn cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, một
trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí,
hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.
3) Tu tập cốt tưởng như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào,
này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện
tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu
với cốt tưởng... tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng liên
hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt,
hướng đến từ bỏ.
5) Tu tập cốt tưởng như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, này
các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại
được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.
III. Nghĩa Lợi Lớn
1) ...
2) -- Cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung
mãn, đưa đến nghĩa lợi lớn.
3) Cốt tưởng, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào,
này các Tỷ-kheo, đưa đến nghĩa lợi lớn?... (Như số 4,5 đoạn
trên).
IV. An Ổn Lớn Khỏi Khổ Ách
(Như kinh trên, chỉ khác là đưa đến an ổn lớn, khỏi khổ ách)
V. Hứng Khởi Lớn (Samvegà) (S.v,130)
(Như trên, chỉ khác là đưa đến hứng khởi lớn)
VI. Lạc Trú (S.v,131)
(Như kinh trên, chỉ khác là đưa đến lạc trú)
58. II. Côn Trùng Ăn (Pulavaka)
I-VI) Tu tập tưởng bị côn trùng ăn, này các Tỷ-kheo...
59.III. Xanh Bầm (Vinilaka)
I-VI. Tu tập tưởng xác bị xanh bầm, này các Tỷ-kheo...
60. IV. Bị Nứt Nẻ (Vicchiddaka)
I-VI. Tu tập tưởng xác bị nứt nẻ, này các Tỷ-kheo...
61.V. Sưng Phồng Lên (Uddhumàtaka)
I-VI. Tu tập tưởng xác bị sưng phồng lên, này các Tỷ-kheo...
62. VI. Từ (Tạp
27,33, Ðại 2,197c)
I-VI. Tu tập từ tâm, này các Tỷ-kheo...
63. VII. Bi
I-VI. Tu tập bi tâm, này các Tỷ-kheo...
64. VIII. Hỷ
I-VI. Tu tập hỷ tâm, này các Tỷ-kheo...
65. IX. Xả
I-VI. Tu tập xả tâm, này các Tỷ-kheo...
66. X. Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra
I-VI. Tu tập hơi thở vô hơi thở ra, này các Tỷ-kheo... |