BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 08 tháng 01, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 46. Tương Ưng Giác Chi - Phẩm Thở Vào Ra- SN 46.57 đen SN 46. 66
Bài 586. MỘT SỐ CÁC BÀI KINH VỀ QUÁN TƯỞNG HÀI CỐT -
Kinh Có Quả Lớn (Aṭṭhikamahapphalasuttaṃ), Kinh Một trong hai quả (Aññataraphalasuttaṃ), Kinh Lợi ích lớn (Mahatthasuttaṃ), Kinh An Ổn Thoát Trói Buộc (Yogakkhemasuttaṃ), Kinh Tâm Khẩn Thiết (Saṃvegasuttaṃ), Kinh Trú An Lạc (Phāsuvihārasuttaṃ), Kinh Quán Tưởng Tử Thi Bị Dòi Bọ Ăn (Puḷavakasuttaṃ), Kinh Quán Tưởng Tử Thi Tím Bầm (Vinīlakasuttaṃ), Kinh Quán Tưởng Tử Thi Nứt Nẻ (vicchiddakasuttaṃ), Kinh Quán Tưởng Tử Thi Trương Phồng (Uddhumātakasuttaṃ), Kinh Tu Tập Tâm Từ (Mettāsuttaṃ), Kinh Tu Tập Tâm Bi (Karuṇāsuttaṃ), Kinh Tu Tập Tâm Hỷ (Muditāsuttaṃ), Kinh Tu Tập Tâm Xả upekkhāsuttaṃ, Kinh Chánh Niệm Hơi Thở (ānāpānasuttaṃ). .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-586.jpg ... .
 
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Trong sự tu tập có những pháp môn thoạt nghe mang tính phản cảm. Quán tưởng tử thi và hài cốt hoàn toàn không nhằm tạo ra tâm lý sợ hãi tiêu cực, mà là một phương pháp tuệ quán mạnh mẽ để phá vỡ ảo tưởng ái chấp thân xác. Khi những ảo tưởng về sự mỹ miều giả tạm bị đập tan, tham dục sẽ tự nhiên suy yếu, trả lại cho hành giả một tâm thức nhẹ nhàng, nhu nhuyến và dễ dàng hướng về trạng thái viễn ly. Chính tâm cấp thiết (saṃvega) phát sinh từ sự thấu triệt tính chất tàn tạ của sắc thân đã trở thành động lực tự thân, thúc đẩy hành giả tinh tấn không ngừng nghỉ trên đạo lộ. Tuy nhiên, đạo lộ này không hề khô khan hay yếm thế nhờ sự hiện diện của các pháp Từ, Bi, Hỷ, Xả giúp quân bình tâm thức và nuôi dưỡng lòng trắc ẩn. Sự kết hợp giữa quán bất tịnh và các tâm vô lượng tạo nên một trạng thái viễn ly mềm mại, nơi hành giả vừa xa lìa tham ái vừa không rơi vào trạng thái cực đoan chán ghét. Niệm hơi thở là thiền án trung tính dung nhiếp cả chỉ và quán để làm lắng dịu mọi vọng tâm còn sót lại.

Kinh Văn

Kinh Có Quả Lớn (Aṭṭhikamahapphalasuttaṃ)

238.  sāvatthinidānaṃ. “aṭṭhikasaññā, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā. kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, aṭṭhikasaññā kathaṃ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā? idha, bhikkhave, bhikkhu aṭṭhikasaññāsahagataṃ satisambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ ... pe ... aṭṭhikasaññāsahagataṃ upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, aṭṭhikasaññā evaṃ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā”ti.

Tại Sāvatthī.
“Này các Tỳ-khưu, khi quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn, thì có quả lớn, có lợi ích lớn.

“Và này các Tỳ-khưu, quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn như thế nào để có quả lớn, có lợi ích lớn? Ở đây, này các Tỳ-khưu, một Tỳ-khưu tu tập niệm giác chi đi cùng với quán tưởng hài cốt … tu tập xả giác chi đi cùng với quán tưởng hài cốt , y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, đưa đến thành thục trong giải thoát.
Chính như vậy, này các Tỳ-khưu, quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn để có quả lớn, có lợi ích lớn.”

Kinh Một trong hai quả (Aññataraphalasuttaṃ)

 “aṭṭhikasaññāya, bhikkhave, bhāvitāya bahulīkatāya dvinnaṃ phalānaṃ aññataraṃ phalaṃ pāṭikaṅkhaṃ — diṭṭheva dhamme aññā, sati vā upādisese anāgāmitā. kathaṃ bhāvitāya ca kho, bhikkhave, aṭṭhikasaññāya kathaṃ bahulīkatāya dvinnaṃ phalānaṃ aññataraṃ phalaṃ pāṭikaṅkhaṃ — diṭṭheva dhamme aññā, sati vā upādisese anāgāmitā? idha, bhikkhave, bhikkhu aṭṭhikasaññāsahagataṃ satisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... aṭṭhikasaññāsahagataṃ upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ bhāvitāya kho, bhikkhave, aṭṭhikasaññāya evaṃ bahulīkatāya dvinnaṃ phalānaṃ aññataraṃ phalaṃ pāṭikaṅkhaṃ — diṭṭheva dhamme aññā, sati vā upādisese anāgāmitā”ti.

“Này các Tỳ-khưu, khi  quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn, thì có thể mong đợi một trong hai quả: hoặc là tuệ giác tối hậu ngay trong đời này, hoặc nếu còn dư y thì chứng quả bất lai.

“Và này các Tỳ-khưu,  quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn như thế nào để có thể mong đợi một trong hai quả: hoặc là tuệ giác tối hậu ngay trong đời này, hoặc nếu còn dư y thì chứng quả bất lai? Ở đây, này các Tỳ-khưu, một Tỳ-khưu tu tập niệm giác chi đi cùng với  quán tưởng hài cốt … tu tập xả giác chi đi cùng với  quán tưởng hài cốt, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, đưa đến thành thục trong giải thoát.

Chính như vậy, này các Tỳ-khưu,  quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn để có thể mong đợi một trong hai quả: hoặc là trí cứu cánh ngay trong đời này, hoặc nếu còn dư y chấp thủ thì chứng quả Bất Lai.”

Kinh Lợi ích lớn (Mahatthasuttaṃ)

 “aṭṭhikasaññā, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahato atthāya saṃvattati. kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, aṭṭhikasaññā kathaṃ bahulīkatā mahato atthāya saṃvattati? idha, bhikkhave, bhikkhu aṭṭhikasaññāsahagataṃ satisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... aṭṭhikasaññāsahagataṃ upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, aṭṭhikasaññā evaṃ bahulīkatā mahato atthāya saṃvattatī”ti.

“Này các Tỳ-khưu, khi  quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn, thì dẫn đến lợi ích lớn.

“Và này các Tỳ-khưu,  quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn như thế nào để dẫn đến lợi ích lớn? Ở đây, này các Tỳ-khưu, một Tỳ-khưu tu tập niệm giác chi đi cùng với  quán tưởng hài cốt … tu tập xả giác chi đi cùng với  quán tưởng hài cốt, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, đưa đến thành thục trong giải thoát.

Chính như vậy, này các Tỳ-khưu,  quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn để dẫn đến lợi ích lớn.”

Kinh An Ổn Thoát Trói Buộc (Yogakkhemasuttaṃ)

“aṭṭhikasaññā, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahato yogakkhemāya saṃvattati. kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, aṭṭhikasaññā kathaṃ bahulīkatā mahato yogakkhemāya saṃvattati? idha, bhikkhave, bhikkhu aṭṭhikasaññāsahagataṃ satisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... aṭṭhikasaññāsahagataṃ upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, aṭṭhikasaññā evaṃ bahulīkatā mahato yogakkhemāya saṃvattatī”ti.

“Này các Tỳ-khưu, khi  quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn, thì dẫn đến an ổn lớn khỏi trói buộc.

“Và này các Tỳ-khưu,  quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn như thế nào để dẫn đến an ổn lớn khỏi trói buộc?…”
(Tất cả đều giống như trên.)

Kinh Tâm Cấp Thiết (Saṃvegasuttaṃ)

“aṭṭhikasaññā, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahato saṃvegāya saṃvattati. kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, aṭṭhikasaññā kathaṃ bahulīkatā mahato saṃvegāya saṃvattati? idha, bhikkhave, bhikkhu aṭṭhikasaññāsahagataṃ satisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... aṭṭhikasaññāsahagataṃ upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, aṭṭhikasaññā evaṃ bahulīkatā mahato saṃvegāya saṃvattatī”ti.

“Này các Tỳ-khưu, khi  quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn, thì dẫn đến tâm cấp thiết.

“Và này các Tỳ-khưu,  quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn như thế nào để dẫn đến tâm khẩn thiết lớn?…”
(Tất cả đều giống như trên.)

Kinh Trú An Lạc (Phāsuvihārasuttaṃ)

“aṭṭhikasaññā, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahato phāsuvihārāya saṃvattati. kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, aṭṭhikasaññā kathaṃ bahulīkatā mahato phāsuvihārāya saṃvattati? idha, bhikkhave, bhikkhu aṭṭhikasaññāsahagataṃ satisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... aṭṭhikasaññāsahagataṃ upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, aṭṭhikasaññā evaṃ bahulīkatā mahato phāsuvihārāya saṃvattatī”ti. paṭhamaṃ.

“Này các Tỳ-khưu, khi  quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn, thì dẫn đến trú trong an lạc lớn.

“Và này các Tỳ-khưu,  quán tưởng hài cốt được tu tập và làm cho sung mãn như thế nào để dẫn đến trú trong an lạc lớn?…”
(Tất cả đều giống như trên.)


(Mỗi bài kinh tiếp theo, từ §§58–76, đều được triển khai theo phương pháp sáu phần của §57.)


Kinh Quán Tưởng Tử Thi Bị Dòi Bọ Ăn (Puḷavakasuttaṃ)

239. “puḷavakasaññā {puḷuvakasaññā (ka.)}, bhikkhave, bhāvitā ... pe ... dutiyaṃ.

“Này các Tỳ-khưu, khi quán tưởng về tử thi bị dòi bọ ăn được tu tập …”

Kinh Quán Tưởng Tử Thi Tím Bầm (Vinīlakasuttaṃ)

240. “vinīlakasaññā, bhikkhave ... pe ... tatiyaṃ.

“Này các Tỳ-khưu, khi quán tưởng về tử thi tím bầm được tu tập …”

Kinh Quán Tưởng Tử Thi Nứt Nẻ vicchiddakasuttaṃ

 241. “vicchiddakasaññā, bhikkhave ... pe ... catutthaṃ.

“Này các Tỳ-khưu, khi quán tưởng về tử thi nứt nẻ được tu tập …”

Kinh Quán Tưởng Tử Thi Trương Phồng (Uddhumātakasuttaṃ)

242. “uddhumātakasaññā, bhikkhave ... pe ... pañcamaṃ.

“Này các Tỳ-khưu, khi quán tưởng về tử thi trương phồng được tu tập …”

Kinh Tu Tập Tâm Từ (Mettāsuttaṃ)

243. “mettā, bhikkhave, bhāvitā ... pe ... chaṭṭhaṃ.

“Này các Tỳ-khưu, khi tâm từ được tu tập …”

Kinh Tu Tập Tâm Bi (Karuṇāsuttaṃ)

244. “karuṇā, bhikkhave, bhāvitā ... pe ... sattamaṃ.

“Này các Tỳ-khưu, khi tâm bi được tu tập …”

Kinh Tu Tập Tâm Hỷ (Muditāsuttaṃ)

245. “muditā, bhikkhave, bhāvitā ... pe ... aṭṭhamaṃ.

“Này các Tỳ-khưu, khi tâm hỷ được tu tập …”

Kinh  Tu Tập Tâm Xả upekkhāsuttaṃ

246. “upekkhā, bhikkhave, bhāvitā ... pe ... navamaṃ.

“Này các Tỳ-khưu, khi tâm xả được tu tập …” [132]

Kinh Chánh Niệm Hơi Thở (ānāpānasuttaṃ)

247. “ānāpānassati, bhikkhave, bhāvitā ... pe ... dasamaṃ.

“Này các Tỳ-khưu, khi niệm hơi thở được tu tập …”

Chú Thích

Phẩm Thở Ra Vào – ānāpānavaggo - lấy theo tên của bài kinh cuối cùng. Đây là trường hợp khá đặc biệt về cách đặt tên. Phần lớn các bài kinh trong phẩm đề cập đến quán tưởng hài cốt. Phẩm kinh này không nhằm dạy nhiều đề mục rời rạc, mà trình bày một lộ trình thanh lọc tâm để phát sinh giác chi từ đó hướng đến giải thoát. Do vậy gom chung một bài học.

Chữ saññā - thường được dịch là “tưởng” trong ngữ cảnh tu tập nên được hiểu là: Dùng một hình ảnh thật như tử thi hay hài cốt làm ấn tượng ghi lại trong tâm để sau đó quán tưởng “thân nầy bản chất cũng giống như vậy”. Trong trường hợp tu tập thiền chỉ (samatha) thì đó là ấn tượng gom tâm. Trong ngữ cảnh các bài kinh phẩm nầy dịch là “quán tưởng” tránh được chữ “tưởng” theo cách hiểu thông thường.

Quán tưởng hài cốt (aṭṭhikasaññā) là một trong mười bất tịnh quán (asubha), được Sớ giải xác định là đối trị tham dục (rāga) một cách trực tiếp, đặc biệt là kāmarāga được hiểu là sắc dục và nhục dục.

“Hài cốt” ở đây bao gồm cả hình ảnh trước mắt và ấn tượng đã được định tướng (nimitta-gata) sau khi hành giả đã vượt qua giai đoạn quán thô. Sớ giải nhấn mạnh: saññā ở đây là quán tưởng có năng lực định tâm, không phải hồi tưởng tán loạn.

“Được tu tập và làm cho sung mãn” (bhāvitā bahulīkatā) nên hiểu: Bhāvitā: tu tập cho sinh khởi đúng cách. Bahulīkatā: lập đi lập lại, làm cho quen thuộc, đến mức tưởng trở thành nền tảng thường trực của tâm. Sớ giải chú thích: nếu chỉ quán nhất thời thì chưa gọi là bahulīkatā.

Sớ giải nêu lên câu hỏi: Vì sao liên hệ với Thất Giác Chi? Và  xác định rõ: Bất kỳ đề mục thiền định đúng pháp nào, nếu được tu tập bằng như lý tác ý, đều có thể làm nền cho Thất Giác Chi sinh khởi. Ở đây, aṭṭhikasaññā không phải chỉ dẫn đến chỉ (samatha), mà được dùng làm căn bản cho quán (vipassanā). Do đó, kinh lặp lại cùng một công thức: niệm giác chi → … → xả giác chi

“Một trong hai quả” – Sớ giải giải thích: “Tuệ giác tối hậu ngay trong đời này”
chính là A-la-hán quả; nếu
  còn dư y chấp thủ thì chứng A-na-hàm (bất lai). Không phải do đề mục yếu, mà do căn cơ và mức đoạn trừ lậu hoặc khác nhau.

“Dẫn đến tâm cấp thiết” (saṃvega) theo Sớ giải do sự chấn động nội tâm trước vô thường – khổ – bất tịnh của thân. Aṭṭhikasaññā là đề mục tạo saṃvega mạnh, vì nó phá tan ảo tưởng về thân khả ái.

“An trú trong an lạc” – được Sớ giải chú thích: An lạc (phāsuvihāra) ở đây không phải lạc thô, mà là lạc do ly dục, lạc do tâm không còn bị thân chi phối Nói cách khác khi tham dục suy yếu thì tâm nhẹ, ổn, không dao động.

 Các thiền án từ kinh số 58 đến 61 về tử thi biến tướng với những hình thái:  bị dòi bọ ăn, có màu tím bầm, nứt nẻ, sình trương  đều là biến thể của asubha, khác nhau chỉ ở tướng đối trị. Sớ giải ghi rõ:Không cần tu tất cả; một đề mục hợp căn tính là đủ.

Theo Sớ giải: Sau khi tham dục bị làm suy yếu, tâm trở nên nhu nhuyến, dễ triển khai từ, bi, hỷ, xả. Brahmavihāra ở đây không phải thiền án đơn thuần, mà là: Phương cách thanh lọc tâm, hỗ trợ Thất Giác Chi

Thuật ngữ “Ānāpānasati” dịch sát nghĩa là “chánh niệm hơi thở ra vào”. Vì mang ý nghĩa rất chuyên môn trong thiền học Phật giáo nên các học giả Trung Ho thời xưa chọn cách phiên âm “an ban thủ ý” hay dịch là “nhập tức xuất tức niệm” . Sớ giải chú thích: Ānāpānasati được tu tập theo cả hai chỉ và quán; thích hợp cho mọi căn cơ. Nhưng hiệu lực mạnh nhất khi: đã có tâm khẩn thiết (saṃvega)  từ quán bất tịnh và đã có tâm nhu nhuyến do tu từ, bi, hỷ, xả. brahmavihāra

Sớ Giải

Vì phần Sớ Giải cho trọn phẩm quá dài nên lượt dịch và đưa vào chú thích vì vậy không có bản dịch Sớ giải riêng từng bài.

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

 

VII. Phẩm Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra

57. I. Bộ Xương (Tạp 27,38, Ðại 2,198a) (S.v,129)

I. Quả Lớn, Lợi Ích Lớn

1) Sàvatthi...

2) -- Tu tập cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.

3) Này các Tỷ-kheo, cốt tưởng tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, đưa đến quả lớn, đưa đến lợi ích lớn?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5) Này các Tỷ-kheo, cốt tưởng được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn.

II. Trí Và Bất Hoàn (Annàsativà)

1) ...

2) -- Tu tập, làm cho sung mãn cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.

3) Tu tập cốt tưởng như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với cốt tưởng... tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5) Tu tập cốt tưởng như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.

III. Nghĩa Lợi Lớn

1) ...

2) -- Cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nghĩa lợi lớn.

3) Cốt tưởng, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến nghĩa lợi lớn?... (Như số 4,5 đoạn trên).

IV. An Ổn Lớn Khỏi Khổ Ách

(Như kinh trên, chỉ khác là đưa đến an ổn lớn, khỏi khổ ách)

V. Hứng Khởi Lớn (Samvegà) (S.v,130)

(Như trên, chỉ khác là đưa đến hứng khởi lớn)

VI. Lạc Trú (S.v,131)

(Như kinh trên, chỉ khác là đưa đến lạc trú)

58. II. Côn Trùng Ăn (Pulavaka)

I-VI) Tu tập tưởng bị côn trùng ăn, này các Tỷ-kheo...

59.III. Xanh Bầm (Vinilaka)

I-VI. Tu tập tưởng xác bị xanh bầm, này các Tỷ-kheo...

60. IV. Bị Nứt Nẻ (Vicchiddaka)

I-VI. Tu tập tưởng xác bị nứt nẻ, này các Tỷ-kheo...

61.V. Sưng Phồng Lên (Uddhumàtaka)

I-VI. Tu tập tưởng xác bị sưng phồng lên, này các Tỷ-kheo...

62. VI. Từ (Tạp 27,33, Ðại 2,197c)

I-VI. Tu tập từ tâm, này các Tỷ-kheo...

63. VII. Bi

I-VI. Tu tập bi tâm, này các Tỷ-kheo...

64. VIII. Hỷ

I-VI. Tu tập hỷ tâm, này các Tỷ-kheo...

65. IX. Xả

I-VI. Tu tập xả tâm, này các Tỷ-kheo...

66. X. Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra

I-VI. Tu tập hơi thở vô hơi thở ra, này các Tỷ-kheo...