BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 13 tháng 01, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 46. Tương Ưng Niệm Xứ - Ambapāli- SN 47.1
Bài 589. THIỀN QUÁN VIPASSANA-
Kinh Ambapāli (Ambapālisuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-589.jpg ... .http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
 
Tứ Niệm Xứ được Đức Phật tuyên bố dứt khoát là con đường độc đạo đưa đến giải thoát. Thiền quán có công năng làm hiển lộ sự thật của các pháp. Khi thân, thọ, tâm và pháp được quán sát đúng mức, tham và sân không còn chỗ bám víu. Sự vượt qua sầu bi trong kinh không phải là kết quả của an ủi tâm lý, mà là hiệu ứng tất yếu của chánh niệm.Pháp tu thiền quán nhắc rằng con đường giải thoát không nằm ngoài đời sống hiện tại, mà bắt đầu ngay nơi thân và tâm đang hiện hữu.

Kinh Văn

367. evaṃ me sutaṃ —ekaṃ samayaṃ bhagavā vesāliyaṃ viharati ambapālivane. tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi — “bhikkhavo”ti. “bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. bhagavā etadavoca — “ekāyano ayaṃ, bhikkhave, maggo sattānaṃ visuddhiyā sokaparidevānaṃ samatikkamāya dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṃ — cattāro satipaṭṭhānā. katame cattāro? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. ekāyano ayaṃ, bhikkhave, maggo sattānaṃ visuddhiyā sokaparidevānaṃ samatikkamāya dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṃ — cattāro satipaṭṭhānā”ti.
idamavoca bhagavā. attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti. paṭhamaṃ.

Tôi được nghe như vầy.
Một thuở,  Đức Thế Tôn ngự tại Vesālī, trong vườn của Ambapālī. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỳ-khưu: — ‘Này các Tỳ-khưu!’” “Dạ, bạch Thế Tôn!’” các Tỳ-khưu trả lời.

Đức Thế Tôn dạy như sau:

“Này các Tỳ-khưu, đây là con đường độc đạo đưa đến sự thanh tịnh cho các chúng sinh, đưa đến sự vượt thoát sầu và bi,  chấm dứt khổ ưu,  thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn; đó là bốn niệm xứ.

Bốn pháp gồm những gì? “Ở đây, này các Tỳ-khưu, một Tỳ-khưu sống quán thân nơi thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.

Vị ấy sống quán thọ nơi thọ, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.

Vị ấy sống quán tâm nơi tâm, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.

Vị ấy sống quán pháp nơi pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.

“Này các Tỳ-khưu, đây là con đường độc đạo đưa đến sự thanh tịnh cho các chúng sinh, đưa đến sự vượt thoát sầu và bi,  chấm dứt khổ ưu,  thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn; đó là bốn niệm xứ.

Đó là điều Thế Tôn đã dạy. Chư Tỳ khưu hoan hỷ và thọ trì huấn thị của Đức Thế Tôn.

Chú Thích

“Ekāyano ayaṃ maggo” – Con đường độc đạo. Sớ giải nhấn mạnh rằng ekāyano không có nghĩa là “chỉ có một con đường duy nhất loại trừ mọi pháp khác”, mà có ba tầng nghĩa chính:

1.    đi thẳng, không quanh co;

2.    dẫn đến một mục tiêu duy nhất;

3.    con đường mà chư Phật đều đi qua.

Do đó, Tứ Niệm Xứ được gọi là “độc đạo” vì không có lối rẽ sang tà kiến hay chấp thủ, và hướng thẳng đến Niết-bàn.

“Sattānaṃ visuddhiyā” – Thanh tịnh chúng sinh. Theo Sớ giải, “thanh tịnh” (visuddhi) ở đây không chỉ là thanh tịnh giới, mà là thanh tịnh toàn bộ tiến trình tâm, bao gồm: thanh tịnh kiến, thanh tịnh tuệ, và cuối cùng là thanh tịnh giải thoát. Vì vậy, Tứ Niệm Xứ là pháp làm sạch tận gốc cấu uế, không chỉ điều chỉnh hành vi.

“Soka-paridevānaṃ samatikkamāya” – Vượt qua sầu bi. Sớ giải chú thích rằng sầu và bi không bị “đè nén” hay “làm dịu” bằng niệm xứ, mà bị vượt qua nhờ tuệ tri như thật về vô thường, khổ, vô ngã. Khi nguyên nhân của sầu bi bị thấy rõ, sầu bi tự chấm dứt.

“Dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya” – Diệt khổ ưu. Ở đây, khổ (dukkha) chỉ cho thọ khổ thân, còn ưu (domanassa) chỉ cho thọ khổ tâm. Sớ giải nhấn mạnh: Tứ Niệm Xứ không làm mất cảm giác, mà làm mất sự đồng hóa với cảm giác.

“Ñāyassa adhigamāya” – Thành tựu chánh đạo. Theo Sớ giải, ñāya ở đây chính là Bát Thánh Đạo, và Tứ Niệm Xứ được gọi là cửa ngõ của Thánh đạo, vì mọi chi đạo đều phải vận hành trong chánh niệm và tỉnh giác.

“Nibbānassa sacchikiriyāya” – Chứng ngộ Niết-bàn. Sớ giải xác định rõ: Tứ Niệm Xứ không phải là cứu cánh, nhưng là pháp trực tiếp đưa đến cứu cánh.
Không có Tứ Niệm Xứ thì không có Thánh đạo sinh khởi, và do đó không có Niết-bàn được chứng ngộ.

“Kāye kāyānupassī…” – Quán “trong chính đối tượng”

Sớ giải chú thích cấu trúc lặp kāye kāyānupassī nhằm loại trừ hai cực đoan:

  • quán thân như ta (ngã kiến),
  • hoặc quán thân như của ta (chấp thủ).

Quán “thân trong thân” nghĩa là chỉ thấy thân như thân, không thêm khái niệm.

“Ātāpī sampajāno satimā” – Ba trụ cột của niệm xứ. Theo Sớ giải:

  • Ātāpī: tinh cần đúng pháp, không buông lung;
  • Sampajāno: tỉnh giác rõ ràng về mục đích và bối cảnh;
  • Satimā: ghi nhận liên tục đối tượng hiện tại.

Ba yếu tố này luôn đi cùng nhau, thiếu một thì niệm xứ không trọn vẹn.

“Vineyya loke abhijjhādomanassaṃ” – Đoạn trừ tham ưu ở đời. Sớ giải nhấn mạnh: “đoạn trừ” ở đây không phải đoạn trừ vĩnh viễn ngay lập tức, mà là đoạn trừ trong khoảnh khắc hành thiền, tức không cho tham và sân chen vào đối tượng quán niệm.

Sớ Giải

367. satipaṭṭhānasaṃyuttassa paṭhame ambapālivaneti ambapāliyā nāma rūpūpajīviniyā ropite ambavane. taṃ kira tassā uyyānaṃ ahosi. sā satthu dhammadesanaṃ sutvā pasannacittā tattha vihāraṃ kāretvā tathāgatassa niyyātesi. taṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. ekāyanvāyanti ekāyano ayaṃ. tattha ekāyanoti ekamaggo. maggassa hi — “maggo pantho patho pajjo, añjasaṃ vaṭumāyanaṃ. nāvā uttarasetū ca, kullo ca bhisi saṅkamo”ti. (cūḷani. pārāyanatthutigāthāniddeso 101) — bahūni nāmāni. svāyaṃ idha ayananāmena vutto. tasmā ekāyanvāyaṃ, bhikkhave, maggoti ettha ekamaggo. ayaṃ, bhikkhave, maggo, na dvedhāpathabhūtoti evamattho daṭṭhabbo.
maggoti kenaṭṭhena maggo? nibbānagamanaṭṭhena, nibbānatthikehi magganīyaṭṭhena ca. sattānaṃ visuddhiyāti rāgādīhi malehi abhijjhāvisamalobhādīhi ca upakkilesehi saṃkiliṭṭhacittānaṃ sattānaṃ visuddhatthāya. sokaparidevānaṃ samatikkamāyāti sokassa ca paridevassa ca samatikkamāya, pahānāyāti attho.
dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāyāti kāyikadukkhassa ca cetasikadomanassassa cāti imesaṃ dvinnaṃ atthaṅgamāya, nirodhāyāti attho. ñāyassa adhigamāyāti ñāyo vuccati ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, tassa adhigamāya pattiyāti vuttaṃ hoti.
ayañhi pubbabhāge lokiyo satipaṭṭhānamaggo bhāvito lokuttaramaggassa adhigamāya saṃvattati. tenāha “ñāyassa adhigamāyā”ti. nibbānassa sacchikiriyāyāti taṇhāvānavirahitattā nibbānanti laddhanāmassa amatassa sacchikiriyāya, attapaccakkhāyāti vuttaṃ hoti. ayañhi maggo bhāvito anupubbena nibbānasacchikiriyaṃ sādheti.
tenāha “nibbānassa sacchikiriyāyā”ti. evaṃ bhagavatā sattahi padehi ekāyanamaggassa vaṇṇo bhāsito, so kasmāti ce? bhikkhūnaṃ ussāhajananatthaṃ. vaṇṇabhāsanañhi sutvā te bhikkhū — “ayaṃ kira maggo hadayasantāpabhūtaṃ sokaṃ, vācāvippalāpabhūtaṃ paridevaṃ, kāyikāsātabhūtaṃ dukkhaṃ, cetasikāsātabhūtaṃ domanassanti cattāro upaddave harati.
visuddhiṃ, ñāyaṃ, nibbānanti tayo visese āvahatī”ti ussāhajātā imaṃ desanaṃ uggahetabbaṃ pariyāpuṇitabbaṃ, dhāretabbaṃ, imañca maggaṃ bhāvetabbaṃ maññissanti. iti tesaṃ bhikkhūnaṃ ussāhajananatthaṃ vaṇṇaṃ abhāsi kambalavāṇijādayo kambalādīnaṃ vaṇṇaṃ viya. yadidanti nipāto, ye imeti ayamassa attho. cattāroti gaṇanaparicchedo.
tena “na tato heṭṭhā, na uddhan”ti satipaṭṭhānaparicchedaṃ dīpeti. satipaṭṭhānāti tayo satipaṭṭhānā satigocaropi, tidhā ' paṭipannesu sāvakesu satthuno paṭighānunayavītivattatāpi, satipi. “catunnaṃ, bhikkhave, satipaṭṭhānānaṃ samudayañca atthaṅgamañca desessāmi taṃ suṇātha. ko ca, bhikkhave, kāyassa samudayo? āharasamudayā kāyasamudayo”tiādīsu (saṃ. ni. 5.408) hi satigocaro satipaṭṭhānanti vutto.
tathā “kāyo upaṭṭhānaṃ, no sati, sati upaṭṭhānañceva sati cā”tiādīsupi (paṭi. ma. 2.35). tassa attho — patiṭṭhāti asminti paṭṭhānaṃ. kā patiṭṭhāti? sati. satiyā paṭṭhānaṃ satipaṭṭhānaṃ. padhānaṃ ṭhānanti vā paṭṭhānaṃ. satiyā paṭṭhānaṃ satipaṭṭhānaṃ hatthiṭṭhānāssaṭṭhānādīni viya.
“tayo satipaṭṭhānā, yadariyo sevati, yadariyo sevamāno satthā gaṇamanusāsitumarahatī”ti (ma. ni. 3.311) ettha tidhā paṭipannesu sāvakesu satthuno paṭighānunayavītivattatā satipaṭṭhānanti vuttā. tassattho — paṭṭhapetabbato paṭṭhānaṃ, pavattayitabbatoti attho. kena paṭṭhapetabboti? satiyā. satiyā paṭṭhānaṃ satipaṭṭhānanti. “cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrentī”tiādīsu (ma. ni. 3.147; saṃ. ni. 5.989) pana satiyeva satipaṭṭhānanti vuttā. tassattho — patiṭṭhātīti paṭṭhānaṃ, upaṭṭhāti okkanditvā pakkhanditvā pavattatīti attho.
satiyeva paṭṭhānaṃ satipaṭṭhānaṃ. atha vā saraṇaṭṭhena sati, upaṭṭhānaṭṭhena paṭṭhānaṃ, iti sati ca sā paṭṭhānañcātipi satipaṭṭhānaṃ. idamidha adhippetaṃ. yadi evaṃ kasmā “satipaṭṭhānā”ti bahuvacanaṃ katanti? satīnaṃ bahuttā. ārammaṇabhedena hi bahukā satiyo. atha “maggo”ti kasmā ekavacananti? magganaṭṭhena ekattā. catassopi hi etā satiyo magganaṭṭhena ekattaṃ gacchanti. vutañhetaṃ “maggoti kenaṭṭhena maggo? nibbānamagganaṭṭhena, nibbānatthikehi magganīyaṭṭhena cā”ti. catassopi cetā aparabhāge kāyādīsu ārammaṇesu kiccaṃ sādhayamānā nibbānaṃ gacchanti, ādito paṭṭhāya ca nibbānatthikehi maggiyantīti tasmā catassopi eko maggoti vuttā. evañca sati vacanānusandhinā sānusandhikāva desanā hoti.
katame cattāroti kathetukamyatāpucchā. kāyeti rūpakāye. kāyānupassīti kāyaṃ anupassanasīlo, kāyaṃ vā anupassamāno. ayañhi bhikkhu imaṃ kāyaṃ aniccānupassanādīnaṃ sattannaṃ anupassanānaṃ vasena aniccato anupassati, no niccato, dukkhato anupassati, no sukhato, anattato anupassati, no attato, nibbindati, no nandati, virajjati, no rajjati, nirodheti, no samudeti, paṭinissajjati, no ādiyati. so taṃ aniccato anupassanto niccasaññaṃ pajahati, dukkhato anupassanto sukhasaññaṃ pajahati, anattato anupassanto attasaññaṃ pajahati, nibbindanto nandiṃ pajahati, virajjanto rāgaṃ pajahati, nirodhento samudayaṃ pajahati, paṭinissajjanto ādānaṃ pajahatīti veditabbo. viharatīti irīyati.
ātāpīti tīsu bhavesu kilese ātapatīti ātāpo, vīriyassetaṃ nāmaṃ. ātāpo assa atthīti ātāpī. sampajānoti sampajaññasaṅkhātena ñāṇena samannāgato. satimāti kāyapariggāhikāya satiyā samannāgato. ayaṃ pana yasmā satiyā ārammaṇaṃ pariggahetvā paññāya anupassati. na hi sativirahitassa anupassanā nāma atthi, tenevāha “satiñca khvāhaṃ, bhikkhave, sabbatthikaṃ vadāmī”ti (saṃ. ni. 5.234).
tasmā ettha “kāye kāyānupassī viharatī”ti ettāvatā kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ vuttaṃ hoti. atha vā yasmā anātāpino antosaṅkhepo antarāyakaro hoti, asampajāno upāyapariggahe anupāyaparivajjane ca sammuyhati, muṭṭhassati upāyāpariccāge anupāyāpariggahe ca asamattho hoti, tenassa taṃ kammaṭṭhānaṃ na sampajjati. tasmā yesaṃ dhammānaṃ ānubhāvena taṃ sampajjati, tesaṃ dassanatthaṃ “ātāpī sampajāno satimā”ti idaṃ vuttanti veditabbaṃ.
iti kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ sampayogaṅgañjassa dassetvā idāni pahānaṅgaṃ dassetuṃ vineyya loke abhijjhādomanassanti vuttaṃ. tattha vineyyāti tadaṅgavinayena vā vikkhambhanavinayena vā vinayitvā. loketi tasmiṃyeva kāye. kāyo hi idha lujjanapalujjanaṭṭhena lokoti adhippeto. yasmā panassa na kāyamatteyeva abhijjhādomanassaṃ pahīyati, vedanādīsupi pahīyati eva. tasmā “pañcapi upādānakkhandhā loko”ti vibhaṅge (vibha. 362) vuttaṃ. lokasaṅkhātattā vā tesaṃ dhammānaṃ atthuddhāranayenetaṃ vuttaṃ. yaṃ panāha “tattha katamo loko, sveva kāyo loko”ti, ayamevettha attho. tasmiṃ loke abhijjhādomanassaṃ vineyyāti evaṃ sambandho daṭṭhabbo.
vedanāsūti ettha tisso vedanā, tā ca lokiyā eva, cittampi lokiyaṃ, tathā dhammā. yathā pana vedanā anupassitabbā, tathā anupassanto esa vedanānupassīti veditabbo. esa nayo cittadhammesu. kathañca vedanā anupassitabbāti? sukhā tāva vedanā dukkhato, dukkhā sallato, adukkhamasukhā aniccato. yathāha — “yo sukhaṃ dukkhato adda, dukkhamaddakkhi sallato.
adukkhamasukhaṃ santaṃ, addakkhi naṃ aniccato. sa ve sammaddaso bhikkhu, upasanto carissatī”ti. sabbā eva cetā dukkhātipi anupassitabbā. vuttañhetaṃ “yaṃkiñci vedayitaṃ, sabbaṃ taṃ dukkhasminti vadāmī”ti (saṃ. ni. 4.259). sukhadukkhatopi ca anupassitabbā, yathāha — “sukhā kho, āvuso visākha, vedanā ṭhitisukhā vipariṇāmadukkhā”ti (ma. ni. 1.465) sabbaṃ vitthāretabbaṃ. apica aniccādisattānupassanāvasenapi anupassitabbā. cittadhammesupi cittaṃ tāva ārammaṇādhipatisahajātabhūmikammavipākakiriyādinānattabhedānaṃ aniccādianupassanānaṃ sarāgādīnañca bhedānaṃ vasena anupassitabbaṃ.
dhammā salakkhaṇasāmaññalakkhaṇānaṃ suññatadhammassa aniccādisattānupassanānaṃ “santaṃ vā ajjhattaṃ kāmacchandan”tiādīnañca pabhedānaṃ vasena anupassitabbā. sesaṃ vuttanayameva. ayamettha saṅkhepo, vitthāro pana dīghamajjhimaṭṭhakathāsu (dī. ni. aṭṭha. 2.373 ādayo; ma. ni. aṭṭha. 1.105 ādayo) satipaṭṭhānavaṇṇanāyaṃ vuttanayeneva veditabbo.

“Ambapālivana” là vườn xoài do Ambapālī kiến tạo.

Ambapālī là một kỹ nữ sống bằng sắc đẹp (rūpūpajīvinī). Vườn xoài ấy vốn là khu vườn riêng của bà. Sau khi nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp, bà sinh tâm tịnh tín, cho xây dựng tinh xá tại đó và dâng cúng khu vườn ấy lên Đức Như Lai. Do nhân duyên ấy, kinh này được nói ra.

2. “Ekāyano ayaṃ maggo” – Con đường độc đạo

“Ekāyanoti ekamaggo”

“Ekāyana” có nghĩa là một con đường độc đạo, không phải hai ngả, không rẽ nhánh. Ở đây cần hiểu rằng: “Này các Tỳ-khưu, đây là một con đường, không phải là con đường chia hai ngả.”

Vì sao gọi là “magga” (con đường)? Bởi vì: đưa đến Niết-bàn (nibbānagamanaṭṭhena), và được những người cầu Niết-bàn nương theo (nibbānatthikehi magganīyaṭṭhena).

“Sattānaṃ visuddhiyā” – Thanh tịnh chúng sinh

“Thanh tịnh chúng sinh” nghĩa là tẩy trừ những tâm bị nhiễm ô bởi tham, sân, si, bởi tham ái, bất thiện và các cấu uế vi tế, nên được trở nên trong sạch.

“Soka-paridevānaṃ samatikkamāya” – Vượt qua sầu bi. “Sầu” và “bi” được vượt qua không phải bằng cách đè nén, mà bằng sự đoạn trừ (pahāna). Nghĩa là sầu bi không còn sinh khởi khi nguyên nhân đã bị thấy rõ.

 “Dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya” – Diệt khổ và ưu. Dukkha: khổ thân (đau đớn thân xác). Domanassa: khổ tâm (ưu não). “Diệt” ở đây nghĩa là chấm dứt, không còn sinh khởi (nirodha).

“Ñāyassa adhigamāya” – Thành tựu Chánh đạo. “Ñāya” chính là Thánh đạo tám chi. Tứ Niệm Xứ thuộc phần đầu (hiệp thế), nhưng khi được tu tập thuần thục thì dẫn đến Thánh đạo siêu thế. Vì vậy nói rằng Tứ Niệm Xứ là nhân đưa đến sự thành tựu Thánh đạo.

“Nibbānassa sacchikiriyāya” – Chứng ngộ Niết-bàn . Niết-bàn được gọi như vậy vì vắng mặt hoàn toàn tham ái. “Chứng ngộ” nghĩa là tự thân kinh nghiệm, không qua suy luận hay khái niệm. Con đường này, khi được tu tập tuần tự, tất yếu dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn.

Vì sao Đức Phật tán thán con đường này? Đức Phật tán thán Tứ Niệm Xứ bằng bảy cụm từ nhằm khơi dậy tinh tấn nơi các Tỳ-khưu. Khi nghe được rằng:

  • con đường này diệt sầu bi,
  • chấm dứt khổ và ưu,
  • đưa đến thanh tịnh,
  • thành tựu chánh đạo,
  • chứng ngộ Niết-bàn,

thì các Tỳ-khưu sẽ phát khởi nhiệt tâm, quyết tâm học, ghi nhớ và tu tập pháp này, giống như người buôn vải chỉ những ưu điểm hàng hóa để khơi dậy lòng ưa thích nơi người mua.

“Yadidaṃ cattāro satipaṭṭhānā” – Chính là bốn niệm xứ

  • Yadidaṃ: tức là “chính là”
  • Cattāro: chỉ rõ không ít hơn, không nhiều hơn

Điều này xác lập rằng chỉ có bốn niệm xứ, không thêm, không bớt.

Ý nghĩa của “Satipaṭṭhāna - niệm xứ” có ba cách hiểu:

1.    Satipaṭṭhāna là “đối tượng của niệm” (satigocara)

2.    Satipaṭṭhāna là “nền tảng để niệm an trú”

3.    Satipaṭṭhāna chính là niệm khi niệm ấy an trú, thể nhập, vận hành liên tục trên thiền án.

Ở đây, nghĩa thứ ba được chấp nhận:

Chính niệm, khi an trú vững chắc, được gọi là niệm xứ.

Vì sao nói “bốn niệm xứ” mà lại gọi là “một con đường”? Dù có bốn niệm, nhưng chúng cùng chung một công năng: đưa đến Niết-bàn. Vì vậy, bốn niệm xứ hợp lại thành một con đường duy nhất.

“Kāye kāyānupassī” – Quán thân nơi thân:

Vị Tỳ-khưu ấy quán thân:

  • là vô thường, không phải thường,
  • là khổ, không phải lạc,
  • là vô ngã, không phải tự ngã,
  • đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, xả bỏ.

Nhờ vậy diệt ảo tưởng thường, lạc, ngã, tịnh

“Ātāpī – Sampajāno – Satimā”

  • Ātāpī: tinh cần đốt cháy phiền não
  • Sampajāno: tỉnh giác bằng trí tuệ
  • Satimā: có chánh niệm giữ đối tượng

Thiếu một trong ba, niệm xứ không thành tựu.

“Vineyya loke abhijjhādomanassaṃ”

“Đoạn trừ tham và ưu đối với thế gian” nghĩa là:

  • đoạn trừ trong chính đối tượng đang quán,
  • bằng đoạn trừ từng phần hoặc bằng chế ngự.

“Thế gian” ở đây không chỉ là thân, mà là năm uẩn.

Quán thọ – quán tâm – quán pháp

  • Thọ được quán như khổ, như mũi tên, như vô thường
  • Tâm được quán theo các trạng thái tham, sân, si, định, tán
  • Pháp được quán theo các nhóm như: triền cái, uẩn, xứ, giác chi, thánh đế

Phần chi tiết đã được giảng rộng trong Sớ giải Trường Bộ và Trung Bộ, ở đây chỉ tóm lược.

Phần chi tiết đã được giảng rộng trong Sớ giải Trường Bộ và Trung Bộ, ở đây chỉ tóm lược.

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

I. Phẩm Ambapàli

1. I. Ambapàli (Tạp 24,20, Ðại 2,174a) (S.v,141)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại rừng Ambapàli.

2) Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". "Bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

3) -- Có con đường độc nhất này, này các Tỷ-kheo, khiến cho các loài hữu tình được thanh tịnh, vượt qua được sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?

4) -- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... trú, quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm... trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

5) Có con đường độc nhất này, này các Tỷ-kheo, khiến cho các loài hữu tình được thanh tịnh, vượt qua được sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Con đường ấy tức là bốn niệm xứ.

6) Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn nói.