Trong hành trình tu tập, Chánh niệm (Sati)
và Tỉnh giác (Sampajañña)
thường được ví như hai cánh của một con chim, hay hai bánh của
một cỗ xe, cùng đưa hành giả tiến về bến bờ giải thoát.
Chánh niệm là sự có
mặt thuần túy. Đó là khả năng "neo" tâm trí vào hiện tại, quan
sát mọi diễn biến của thân, thọ, tâm, pháp mà không phán xét,
không xua đuổi, cũng không bám giữ. Khi ta thở và biết mình đang
thở, khi cơn giận khởi lên và ta biết rõ "đây là cơn giận", đó
chính là lúc Chánh niệm đang thực thi phận sự bảo vệ tâm hồn
khỏi sự tán loạn.
Tuy nhiên, Chánh niệm cần có Tỉnh giác
để trở nên trọn vẹn. Nếu Chánh niệm là sự ghi nhận, thì Tỉnh
giác là trí tuệ soi sáng bản chất của hành động. Tỉnh giác giúp
ta nhận diện: việc ta sắp làm có lợi ích không, có hợp thời
không, và quan trọng nhất là phá tan ảo tưởng về một "cái tôi"
đang hành động. Một vị Tỳ-kheo tỉnh giác không chỉ bước đi, mà
vị ấy thấy rõ "tiến trình di chuyển của các đại"; vị ấy không
chỉ ăn, mà thấy rõ "sự tương tác của vật chất để duy trì sự
sống".
Kinh Văn
368. ekaṃ samayaṃ bhagavā vesāliyaṃ viharati ambapālivane. tatra
kho bhagavā bhikkhū āmantesi — “bhikkhavo”ti. “bhadante”ti te
bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. bhagavā etadavoca — “sato,
bhikkhave, bhikkhu vihareyya sampajāno. ayaṃ vo amhākaṃ
anusāsanī. kathañca, bhikkhave, bhikkhu sato hoti? idha,
bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno
satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu ... pe ...
citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno
satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. evaṃ kho, bhikkhave,
bhikkhu sato hoti.
“kathañca, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti? idha, bhikkhave,
bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite
vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī
hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte
khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme
sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite
tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.
evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sampajānakārī hoti. sato,
bhikkhave, bhikkhu vihareyya sampajāno. ayaṃ vo amhākaṃ
anusāsanī”ti. dutiyaṃ.
Tôi được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Thế
Tôn ngự tại Vesālī, trong vườn của Ambapālī. Tại đó, Thế Tôn gọi
các Tỳ-khưu: — “Này các Tỳ-khưu!”. Các Tỳ-khưu trả lời: “Dạ,
bạch Thế Tôn!’” .
Đức Thế Tôn dạy như sau:
“Này các Tỳ-khưu, hãy sống chánh niệm
và tỉnh giác. Đây là giáo huấn của Ta dành cho các Thầy.”
“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là một
Tỳ-khưu có chánh niệm? Ở đây, này các Tỳ-khưu, một Tỳ-khưu sống
quán thân nơi thân, tinh
cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.
Vị ấy sống quán thọ nơi thọ, tinh cần,
tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.
Vị ấy sống quán tâm nơi tâm, tinh cần,
tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.
Vị ấy sống quán pháp nơi pháp,tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm,
đoạn trừ tham ưu ở đời.
Như vậy, này các Tỳ-khưu, là một Tỳ-khưu có chánh niệm.
“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là một
Tỳ-khưu thực hành tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỳ-khưu, một Tỳ-khưu hành động với tỉnh giác:
khi đi tới và khi đi lui;
khi nhìn thẳng và khi nhìn sang;
khi co tay chân và khi duỗi tay chân;
khi mang y, ôm bát và khoác đại y;
khi ăn, uống, nhai, và nếm;
khi đại tiện và tiểu tiện;
khi đi, đứng, ngồi, khi nằm ngủ, khi thức dậy;
khi nói và khi im lặng.
Chính như vậy, này các Tỳ-khưu, là một
Tỳ-khưu thực hành tỉnh giác.”
“Này
các Tỳ-khưu, một Tỳ-khưu nên an trú với chánh niệm và tỉnh giác.
Đây là lời giáo huấn của Ta dành cho các Thầy.”
Chú Thích
“Satimā sampajāno vihareyya”: Chánh niệm (sati) và tỉnh giác
(sampajañña) là hai yếu tố cốt lõi, luôn đi đôi. Sớ giải nhấn
mạnh: chánh niệm là duy trì sự chú tâm không gián đoạn vào đối
tượng hiện tại, tỉnh giác là trí tuệ phân biệt rõ ràng hành
động, trạng thái thân-tâm (biết rõ “đang làm gì, tại sao, với
tâm thế nào”).
Bốn niệm xứ được nhắc
lại như nền tảng của chánh niệm.
Phần tỉnh giác
(sampajañña) được liệt kê chi tiết 14 hoạt động hàng ngày (từ đi
đứng nằm ngồi đến ăn uống, đại tiểu tiện, nói im), nhằm dạy hành
giả sống tỉnh thức trong mọi khoảnh khắc, không để tâm lang
thang, không rơi vào vô minh hay phóng dật.
Sớ giải cũng chú thích: Đây là lời dạy ngắn gọn nhưng bao quát toàn bộ đời
sống tu hành – từ thiền tọa đến đời sống thường nhật – tất cả
đều phải được bao phủ bởi chánh niệm và tỉnh giác.
Sớ Giải
368. dutiye satoti kāyādianupassanāsatiyā samannāgato.
sampajānoti catusampajaññapaññāya samannāgato. abhikkante
paṭikkanteti ettha abhikkantaṃ vuccati gamanaṃ, paṭikkantaṃ
nivattanaṃ, tadubhayampi catūsu iriyāpathesu labbhati.
gamane tāva purato kāyaṃ abhiharanto abhikkamati nāma,
paṭinivattanto paṭikkamati nāma. ṭhānepi ṭhitakova kāyaṃ
purato onamanto abhikkamati nāma, pacchato apanāmento
paṭikkamati nāma. nisajjāyapi nisinnakova āsanassa
purimāṅgābhimukho saṃsaranto abhikkamati nāma, pacchimāṅgappadesaṃ
paccāsaṃsaranto paṭikkamati nāma. nipajjanepi eseva nayo.
sampajānakārī hotīti sampajaññena sabbakiccakārī, sampajaññasseva
vā kārī. so hi abhikkantādīsu sampajaññaṃ karoteva, na katthaci
sampajaññavirahito hoti.
tattha sātthakasampajaññaṃ, sappāyasampajaññaṃ, gocarasampajaññaṃ,
asammohasampajaññanti catubbidhaṃ sampajaññaṃ. tattha
abhikkamanacitte uppanne cittavaseneva agantvā “kiṃ nu me ettha
gatena attho atthi, natthī”ti atthānatthaṃ pariggaṇhitvā
atthapariggaṇhanaṃ sātthakasampajaññaṃ. tattha ca atthoti
cetiyadassanabodhidassanasaṅghadassanatheradassanāsubhadassanādivasena
dhammato vaḍḍhi. cetiyaṃ disvāpi hi buddhārammaṇaṃ, saṅghadassanena
saṅghārammaṇaṃ pītiṃ uppādetvā tadeva khayato sammasanto arahattaṃ
pāpuṇāti. mahāvihārasmiñhi dakkhiṇadvāre ṭhatvā mahācetiyaṃ olokentā
tiṃsasahassabhikkhū arahattaṃ pāpuṇiṃsu, tathā pacchimadvāre
uttaradvāre pācīnadvāre ca, tathā pañhamaṇḍapaṭṭhāne abhayavāpipāḷiyaṃ,
thūpārāmadvāre nagarassa dakkhiṇadvāre anurādhavāpipāḷiyaṃ.
mahāariyavaṃsabhāṇakatthero panāha “kiṃ tumhe vadatha, mahācetiyassa
samantā kucchivedikāya heṭṭhimabhāgato paṭṭhāya paññāyanaṭṭhāne
yattha yattha dve pādā sakkā honti samaṃ patiṭṭhāpetuṃ, tattha tattha
ekapaduddhāre tiṃsatiṃsa bhikkhusahassāni arahattaṃ pāpuṇiṃsūti sakkā
vatun”ti. aparo pana mahāthero āha — “mahācetiyatale ākiṇṇavālikāya
bahutarā bhikkhū arahattaṃ pattā”ti. there disvā tesaṃ ovāde
patiṭṭhāya asubhaṃ disvā tattha paṭhamaṃ jhānaṃ uppādetvā tadeva
khayato sammasanto arahattaṃ pāpuṇāti. tasmā etesaṃ dassanaṃ sātthaṃ.
keci pana — “āmisatopi vaḍḍhi atthoyeva, taṃ nissāya
brahmacariyānuggahāya paṭipannattā”ti vadanti.
tasmiṃ pana gamane sappāyāsappāyaṃ pariggaṇhitvā sappāyapariggaṇhanaṃ
sappāyasampajaññaṃ. seyyathidaṃ? cetiyadassanaṃ tāva sātthaṃ.
sace pana cetiyassa mahāpūjāya dasadvādasayojanantare parisā
sannipatanti, attano vibhavānurūpā itthiyopi purisāpi alaṅkatapaṭiyattā
cittakammarūpakāni viya sañcaranti. tatra cassa iṭṭhe ārammaṇe lobho,
aniṭṭhe paṭigho, asamapekkhane moho uppajjati, kāyasaṃsagge
kāyasaṃsaggāpattiṃ āpajjati, jīvitabrahmacariyānaṃ vā antarāyo
ca hoti. evaṃ taṃ ṭhānaṃ asappāyaṃ hoti, vuttappakārāntarāyābhāve
sappāyaṃ. saṅghadassanampi sātthaṃ. sace pana antogāme
mahāmaṇḍapaṃ kāretvā sabbarattiṃ dhammassavanaṃ kārentesu
manussesu vuttappakāreneva janasannipāto ceva antarāyo ca hoti,
evaṃ taṃ ṭhānaṃ asappāyaṃ, antarāyābhāve sappāyaṃ.
mahāparivārānaṃ therānaṃ dassanepi eseva nayo.
asubhadassanampi sātthaṃ. tadatthadīpanatthañca idaṃ vatthu —
eko kira daharabhikkhu sāmaṇeraṃ gahetvā dantakaṭṭhatthāya gato.
tano cittarucikaṃ kammaṭṭhānasaṅkhātaṃ gocaraṃ uggahetvā
bhikkhācāragocare taṃ gahetvāva gamanaṃ gocarasampajaññaṃ nāma.
tassāvibhāvatthaṃ idaṃ catukkaṃ veditabbaṃ — idhekacco bhikkhu
harati na paccāharati, ekacco paccāharati na harati, ekacco pana
neva harati na paccāharati, ekacco harati ca paccāharati ca.
tattha yo bhikkhu divasaṃ caṅkamena nisajjāya ca āvaraṇīyehi
dhammehi cittaṃ parisodhetvā tathā rattiyā paṭhamaṃ yāmaṃ
majjhimayāme seyyaṃ kappetvā, pacchimayāmepi nisajjācaṅkamehi
vītināmetvā, pageva cetiyaṅgaṇabodhiyaṅgaṇavattaṃ katvā
bodhirukkhe udakaṃ āsiñcitvā pānīyaṃ paribhojanīyaṃ
paccupaṭṭhapetvā ācariyupajjhāyavattādīni samādāya vattati.
so sarīraparikammaṃ katvā senāsanaṃ pavisitvā dve tayo pallaṅke
usumaṃ gāhāpento kammaṭṭhānamanuyuñjitvā bhikkhācāravelāya
uṭṭhahitvā kammaṭṭhānasīseneva pattacīvaramādāya senāsanato
nikkhamitvā kammaṭṭhānaṃ manasikarontova cetiyaṅgaṇaṃ gantvā
sace buddhānussatikammaṭṭhānaṃ hoti, taṃ avissajjetvāva
cetiyaṅgaṇaṃ pavisati. aññaṃ ce kammaṭṭhānaṃ hoti,
sopānapādamūle ṭhatvā hatthena gahitabhaṇḍaṃ viya taṃ
ṭhapetvā buddhārammaṇaṃ pītiṃ gahetvā cetiyaṅgaṇaṃ āruyha
mahantaṃ cetiyaṃ ce, tikkhattuṃ padakkhiṇaṃ katvā catūsu
ṭhānesu vanditabbaṃ, khuddakaṃ ce, tatheva padakkhiṇaṃ katvā
aṭṭhasu ṭhānesu vanditabbaṃ. cetiyaṃ vanditvā bodhiyaṅgaṇaṃ
pattenāpi buddhassa bhagavato sammukhā viya nipaccakāraṃ
dassetvā bodhi vanditabbā. so evaṃ cetiyañca bodhiñca vanditvā
paṭisāmitaṭṭhānaṃ gantvā paṭisāmitabhaṇḍakaṃ hatthena gaṇhanto
viya nikkhittakammaṭṭhānaṃ gahetvā gāmasamīpe kammaṭṭhānasīseneva
cīvaraṃ pārupitvā gāmaṃ piṇḍāya pavisati.
atha naṃ manussā disvā “ayyo no āgato”ti paccuggantvā pattaṃ
gahetvā āsanasālāya vā gehe vā nisīdāpetvā yāguṃ datvā yāva
bhattaṃ na niṭṭhāti, tāva pāde dhovitvā makkhetvā purato
nisīditvā pañhaṃ vā pucchanti, dhammaṃ vā sotukāmā honti.
sacepi na kathāpenti, janasaṅgahaṇatthaṃ dhammakathā nāma
kātabbāyevāti aṭṭhakathācariyā vadanti. dhammakathā hi
kammaṭṭhānavinimuttā nāma natthi, tasmā kammaṭṭhānasīseneva
dhammaṃ kathetvā kammaṭṭhānasīseneva āhāraṃ paribhuñjitvā
anumodanaṃ katvā nivattiyamānehipi manussehi anugatova
gāmato nikkhamitvā tattha te nivattetvā maggaṃ paṭipajjati.
atha naṃ puretaraṃ nikkhamitvā bahigāme katabhattakiccā
sāmaṇeradaharabhikkhū disvā paccuggantvā pattacīvaramassa
gaṇhanti. porāṇakabhikkhū kira na “amhākaṃ upajjhāyo ācariyo”ti
mukhaṃ oloketvā vattaṃ karonti, sampattaparicchedeneva karonti.
te taṃ pucchanti — “bhante, ete manussā tumhākaṃ kiṃ honti,
mātipakkhato sambandhā pitipakkhato”ti? kiṃ disvā pucchathāti?
tumhesu etesaṃ pemaṃ bahumānanti. “āvuso, yaṃ mātāpitūhipi
dukkarataraṃ, taṃ ete amhākaṃ karonti, pattacīvarampi no etesaṃ
santakameva, etesaṃ ānubhāvena neva bhaye bhayaṃ, na chātake
chātakaṃ jānāma, edisā nāma amhākaṃ upakārino natthī”ti tesaṃ
guṇe kathayanto gacchati. ayaṃ vuccati harati na paccāharatīti.
yassa pana pageva vuttappakāraṃ vattapaṭipattiṃ karontassa
kammajatejo pajjalati, anupādiṇṇakaṃ muñcitvā upādiṇṇakaṃ gaṇhāti,
sarīrato sedā muccanti, kammaṭṭhānavīthiṃ nārohati, so pageva
pattacīvaramādāya vegasāva cetiyaṃ vanditvā gorūpānaṃ
nikkhamanavelāyameva gāmaṃ yāgubhikkhāya pavisitvā yāguṃ
labhitvā āsanasālaṃ gantvā pivati. athassa dvittikkhattuṃ
ajjhoharaṇamatteneva kammajatejo upādiṇṇakaṃ muñcitvā anupādiṇṇakaṃ
gaṇhāti, ghaṭasatena nhāto viya tejodhātupariḷāhanibbānaṃ patvā
kammaṭṭhānasīsena yāguṃ paribhuñjitvā pattañca mukhañca dhovitvā
antarābhatte kammaṭṭhānaṃ manasikatvā avasesaṭṭhāne piṇḍāya
caritvā kammaṭṭhānasīsena āhāraṃ paribhuñjitvā tato paṭṭhāya
poṅkhānupoṅkhaṃ upaṭṭhahamānaṃ kammaṭṭhānaṃ gahetvāva āgacchati.
ayaṃ vuccati paccāharati na haratīti. edisā ca bhikkhū yāguṃ
pivitvā vipassanaṃ ārabhitvā buddhasāsane arahattaṃ pattā nāma
gaṇanapathaṃ vītivattā. sīhaḷadīpeyeva tesu tesu gāmesu
āsanasālāyaṃ na taṃ āsanamatthi, yattha yāguṃ pivitvā
arahattaṃ pattā bhikkhū natthīti.
yo pana pamādavihārī hoti nikkhittadhuro, sabbavattāni bhinditvā
pañcavidhacetovinibandhabaddhacitto viharanto “kammaṭṭhānaṃ nāma
atthī”tipi saññaṃ akatvā gāmaṃ piṇḍāya pavisitvā ananulomikena
gihisaṃsaggena saṃsaṭṭho caritvā ca bhuñjitvā ca tuccho nikkhamati.
ayaṃ vuccati neva harati na paccāharatīti.
yo panāyaṃ harati ca paccāharati cāti vutto, so
gatapaccāgatikavattavasena veditabbo. attakāmā hi kulaputtā sāsane
pabbajitvā dasapi vīsampi tiṃsampi cattālīsampi paññāsampi satampi
ekato vasantā katikavattaṃ katvā viharanti “āvuso, tumhe na iṇaṭṭā,
na bhayaṭṭā, na jīvikāpakatā pabbajitā, dukkhā muccitukāmā panettha
pabbajitā, tasmā gamane uppannakilesaṃ gamaneyeva niggaṇhatha,
ṭhāne, nisajjāya, sayane uppannakilesaṃ sayaneyeva niggaṇhathā”ti.
te evaṃ katikavattaṃ katvā bhikkhācāraṃ gacchantā
aḍḍhausabhausabhāḍḍhagāvutagāvutantaresu pāsāṇā honti, tāya
saññāya kammaṭṭhānaṃ manasikarontāva gacchanti. sace kassaci
gamane kileso uppajjati, tattheva naṃ niggaṇhāti. tathā asakkonto
tiṭṭhati. athassa pacchato āgacchantopi tiṭṭhati, so “ayaṃ
bhikkhu tuyhaṃ uppannavitakkaṃ jānāti, ananucchavikaṃ te etan”ti
attānaṃ paṭicodetvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā tattheva ariyabhūmiṃ
okkamati, tathā asakkonto nisīdatīti so eva nayo. ariyabhūmiṃ
okkamituṃ asakkontopi, taṃ kilesaṃ vikkhambhetvā kammaṭṭhānaṃ
manasikarontova gacchati, na kammaṭṭhānavippayuttena cittena
pādaṃ uddharati. uddharati ce, paṭinivattitvā purimapadesaṃyeva
eti ālindakavāsī mahāphussadevatthero viya.
so kira ekūnavīsati vassāni gatapaccāgatikavattaṃ pūrento eva
vihāsi. manussāpi sudaṃ antarāmagge kasantā ca vapantā ca maddantā
ca kammāni ca karontā theraṃ tathā gacchantaṃ disvā — “ayaṃ thero
punappunaṃ nivattitvā gacchati, kiṃ nu kho maggamūḷho, udāhu kiñci
pamuṭṭho”ti samullapanti. so taṃ anādiyitvā kammaṭṭhānayuttacitteneva
samaṇadhammaṃ karonto vīsativassabbhantare arahattaṃ pāpuṇi.
arahattappattadivase cassa caṅkamanakoṭiyaṃ adhivatthā devatā
aṅgulīhi dīpaṃ ujjāletvā aṭṭhāsi. cattāropi mahārājāno sakko ca
devānamindo brahmā ca sahampati upaṭṭhānaṃ āgamaṃsu. tañca obhāsaṃ
disvā vanavāsīmahātissatthero taṃ dutiyadivase pucchi — “rattibhāge
āyasmato santike obhāso ahosi, kiṃ so obhāso”ti? thero vikkhepaṃ
karonto “obhāso nāma dīpobhāsopi hoti, maṇiobhāsopī”ti evamādimāha.
tato “paṭicchādetha tumhe”ti nibaddho āmāti paṭijānitvā ārocesi.
kāḷavallimaṇḍapavāsīmahānāgatthero viya ca. sopi kira
gatapaccāgatikavattaṃ pūrento paṭhamaṃ tāva “bhagavato mahāpadhānaṃ
pūjessāmī”ti satta vassāni ṭhānacaṅkamameva adhiṭṭhāsi. puna soḷasa
vassāni gatapaccāgatikavattaṃ pūretvā arahattaṃ pāpuṇi. so
kammaṭṭhānayutteneva cittena pādaṃ uddharanto vippayuttena uddhaṭe
paṭinivattanto gāmasamīpaṃ gantvā “gāvī nu pabbajito nū”ti
āsaṅkanīyapadese ṭhatvā cīvaraṃ pārupitvā kacchakarakato udakena
pattaṃ dhovitvā udakagaṇḍūsaṃ karoti. kiṃ kāraṇā? “mā me bhikkhaṃ
dātuṃ vā vandituṃ vā āgate manusse ‘dīghāyukā hothā’ti vacanamattenāpi
kammaṭṭhānavikkhepo ahosī”ti “ajja, bhante, katimī”ti divasaṃ vā
bhikkhugaṇanaṃ vā pañhaṃ vā pucchito pana udakaṃ gilitvā āroceti.
sace divasādipucchakā na honti, nikkhamanavelāyaṃ gāmadvāre
niṭṭhubhitvā yāti.
kalambatitthavihāre vassūpagatā paññāsa bhikkhū viya ca. te
kira āsāḷhipuṇṇamiyaṃ katikavattaṃ akaṃsu — “arahattaṃ apatvā
aññamaññaṃ nālapissāmā”ti. gāmañca piṇḍāya pavisantā udakagaṇḍūsaṃ
katvā pavisiṃsu. divasādīsu pucchitesu vuttanayeneva paṭipajjiṃsu.
tattha manussā niṭṭhubhanaṃ disvā jāniṃsu — “ajjeko āgato, ajja
dve”ti. evañca cintesuṃ — “kiṃ nu kho ete amheheva saddhiṃ na
sallapanti, udāhu aññamaññampi. yadi aññamaññaṃ na sallapanti,
addhā vivādajātā bhavissanti. etha ne aññamaññaṃ khamāpessāmā”ti
sabbe vihāraṃ gantvā paññāsāya bhikkhūsu dvepi bhikkhū ekokāse
nāddasaṃsu. tato yo tesu cakkhumā puriso, so āha — “na bho
kalahakārakānaṃ okāso īdiso hoti, susammaṭṭhaṃ cetiyaṅgaṇaṃ
bodhiyaṅgaṇaṃ, sunikkhittā sammajjaniyo, supaṭṭhitaṃ pānīyaṃ
paribhojanīyan”ti. te tatova nivattā. tepi bhikkhū antotemāseyeva
arahattaṃ patvā mahāpavāraṇāyaṃ visuddhipavāraṇaṃ pavāresuṃ.
evaṃ kāḷavallimaṇḍapavāsī mahānāgatthero viya, kalambatitthavihāre
vassūpagatā bhikkhū viya ca kammaṭṭhānayutteneva cittena pādaṃ
uddharanto gāmasamīpaṃ gantvā udakagaṇḍūsaṃ katvā vīthiyo
sallakkhetvā yattha surāsoṇḍadhuttādayo kalahakārakā
caṇḍahatthiassādayo vā natthi, taṃ vīthiṃ paṭipajjati. tattha ca
piṇḍāya caramāno na turitaturito viya javena gacchati. na hi javena
piṇḍapātikadhutaṅgaṃ nāma kiñci atthi. visamabhūmibhāgapattaṃ pana
udakasakaṭaṃ viya niccalo hutvā gacchati. anugharaṃ paviṭṭho ca
dātukāmaṃ vā adātukāmaṃ vā sallakkhetuṃ tadanurūpaṃ kālaṃ āgamento
bhikkhaṃ gahetvā antogāme vā bahigāme vā vihārameva vā āgantvā
yathāphāsuke patirūpe okāse nisīditvā kammaṭṭhānaṃ manasikaronto
āhāre paṭikūlasaññaṃ upaṭṭhapetvā
akkhabbhañjanavaṇalepanaputtamaṃsūpamāvasena paccavekkhanto
aṭṭhaṅgasamannāgataṃ āhāraṃ āhāreti, neva davāya na madāya na
maṇḍanāya na vibhūsanāya ... pe ... bhuttāvī ca udakakiccaṃ katvā
muhuttaṃ bhattakilamathaṃ paṭipassambhetvā yathā purebhattaṃ, evaṃ
pacchābhattaṃ purimayāmaṃ pacchimayāmañca kammaṭṭhānameva
manasikaroti. ayaṃ vuccati harati ca paccāharati cāti.
imaṃ pana haraṇapaccāharaṇasaṅkhātaṃ gatapaccāgatikavattaṃ
pūrento yadi upanissayasampanno hoti, paṭhamavaye eva arahattaṃ
pāpuṇāti. no ce paṭhamavaye pāpuṇāti, atha majjhimavaye pāpuṇāti.
no ce majjhimavaye pāpuṇāti, atha pacchimavaye pāpuṇāti, no ce
pacchimavaye pāpuṇāti, atha maraṇasamaye. no ce maraṇasamaye
pāpuṇāti, atha devaputto hutvā. no ce devaputto hutvā pāpuṇāti,
anuppanne buddhe nibbatto paccekabodhiṃ sacchikaroti. no ce
paccekabodhiṃ sacchikaroti, atha buddhānaṃ sammukhībhāve
khippābhiñño vā hoti, seyyathāpi thero bāhiyo dārucīriyo mahāpañño vā,
seyyathāpi thero sāriputto, mahiddhiko vā, seyyathāpi thero
mahāmoggallāno, dhutavādo vā, seyyathāpi thero mahākassapo,
dibbacakkhuko vā, seyyathāpi thero anuruddho, vinayadharo vā,
seyyathāpi thero upāli, dhammakathiko vā, seyyathāpi thero puṇṇo
mantāṇiputto, āraññiko vā, seyyathāpi thero revato, bahussuto vā,
seyyathāpi thero ānando, sikkhākāmo vā, seyyathāpi thero rāhulo
buddhaputtoti. iti imasmiṃ catukke yvāyaṃ harati paccāharati ca,
tassa gocarasampajaññaṃ sikhāpattaṃ hoti.
abhikkamādīsu pana asammuyhanaṃ asammohasampajaññaṃ. taṃ evaṃ
veditabbaṃ — idha bhikkhu abhikkamanto vā paṭikkamanto vā yathā
andhaputhujjanā abhikkamādīsu — “attā abhikkamati, attanā
abhikkamo nibbattito”ti vā “ahaṃ abhikkamāmi, mayā abhikkamo
nibbattito”ti vā sammuyhanti, tathā asammuyhanto abhikkamāmīti
citte uppajjamāne teneva cittena saddhiṃ cittasamuṭṭhānā
vāyodhātu viññattiṃ janayamānā uppajjati, iti
cittakiriyavāyodhātuvipphāravasena ayaṃ kāyasammato aṭṭhisaṅghāṭo
abhikkamati. tassevaṃ abhikkamato ekekapāduddharaṇe pathavīdhātu
āpodhātūti dve dhātuyo omattā honti mandā, itarā dve adhimattā
honti balavatiyo, tathā atiharaṇavītiharaṇesu, vossajjane
tejodhātu vāyodhātūti dve dhātuyo omattā honti mandā, itarā dve
adhimattā honti balavatiyo, tathā sannikkhepanasannirumbhanesu.
tattha uddharaṇe pavattā rūpārūpadhammā atiharaṇaṃ na pāpuṇanti,
tathā atiharaṇe pavattā vītiharaṇaṃ, vītiharaṇe pavattā vossajjanaṃ,
vossajjane pavattā sannikkhepanaṃ, sannikkhepane pavattā
sannirumbhanaṃ na pāpuṇanti, tattha tattheva pabbapabbaṃ
sandhisandhi odhiodhi hutvā tattakapāle pakkhittatilāni viya
taṭataṭāyantā bhijjanti. tattha ko eko abhikkamati, kassa vā
ekassa abhikkamanaṃ? paramatthato hi dhātūnaṃyeva gamanaṃ,
dhātūnaṃ ṭhānaṃ, dhātūnaṃ nisajjā, dhātūnaṃ sayanaṃ. tasmiṃ
tasmiñhi koṭṭhāse saddhiṃ rūpena —
“aññaṃ uppajjate cittaṃ, aññaṃ cittaṃ nirujjhati.
avīcimanusambandho, nadīsotova vattatī”ti. —evaṃ
abhikkamādīsu asammuyhanaṃ asammohasampajaññaṃ nāmāti.
niṭṭhito “abhikkante paṭikkante sampajānakārī
hotī”tipadassa attho.
ālokite vilokiteti ettha pana ālokitaṃ nāma purato pekkhanaṃ,
vilokitaṃ nāma anudisāpekkhanaṃ. aññānipi heṭṭhā upari pacchato
anupekkhanavasena olokitaullokitāpalokitāni nāma honti. tāni
idha na gahitāni, sāruppavasena pana imāneva dve gahitāni.
iminā vā mukhena sabbānipi tāni gahitānevāti.
tattha “ālokessāmī”ti citte uppanne cittavaseneva anoloketvā
atthapariggaṇhanaṃ sātthakasampajaññaṃ. taṃ āyasmantaṃ nandaṃ
kāyasakkhiṃ katvā veditabbaṃ. vuttañhetaṃ bhagavatā —
“sace, bhikkhave, nandassa puratthimā disā āloketabbā hoti,
sabbaṃ cetasā samannāharitvā nando puratthimaṃ disaṃ āloketi
‘evaṃ me puratthimaṃ disaṃ ālokayato nābhijjhādomanassā pāpakā
akusalā dhammā anvāsavissantī’ti. itiha tattha sampajāno hoti.
sace, bhikkhave, nandassa pacchimā disā, uttarā disā, dakkhiṇā disā,
uddhaṃ, adho, anudisā āloketabbā hoti, sabbaṃ cetasā samannāharitvā
nando anudisaṃ āloketi ‘evaṃ me anudisaṃ ālokayato’ ... pe ...
sampajāno hotī”ti (a. ni. 8.9).
apica idhāpi pubbe vuttacetiyadassanādivaseneva sātthakatā ca
sappāyatā ca veditabbā. kammaṭṭhānassa pana avijahanameva
gocarasampajaññaṃ, tasmā khandhadhātuāyatanakammaṭṭhānikehi
attano kamaṭṭhānavaseneva kasiṇādikammaṭṭhānikehi vā pana
kammaṭṭhānasīseneva ālokanavilokanaṃ kātabbaṃ.
“abbhantare attā nāma āloketā vā viloketā vā natthi,
‘ālokessāmī’ti pana citte uppajjamāne teneva cittena saddhiṃ
cittasamuṭṭhānā vāyodhātu viññattiṃ janayamānā uppajjati. iti
cittakiriyavāyodhātuvipphāravasena heṭṭhimaṃ akkhidalaṃ adho
sīdati, uparimaṃ uddhaṃ laṅgheti, koci yantakena vivaranto
nāma natthi, tato cakkhuviññāṇaṃ dassanakiccaṃ sādhentaṃ
uppajjatī”ti evaṃ pajānanaṃ panettha asammohasampajaññaṃ nāma.
apica mūlapariññāāgantukatāvakālikabhāvavasenapettha
asammohasampajaññaṃ veditabbaṃ. mūlapariññāvasena tāva —
“bhavaṅgāvajjanañceva, dassanaṃ sampaṭicchanaṃ.
santīraṇaṃ voṭṭhabbanaṃ, javanaṃ bhavati sattamaṃ”.
tattha bhavaṅgaṃ upapattibhavassa aṅgakiccaṃ sādhayamānaṃ
pavattati, taṃ āvaṭṭetvā kiriyamanodhātu āvajjanakiccaṃ
sādhayamānā, tannirodhā cakkhuviññāṇaṃ dassanakiccaṃ sādhayamānaṃ,
tannirodhā vipākamanodhātu sampaṭicchanakiccaṃ sādhayamānā,
tannirodhā vipākamanoviññāṇadhātu santīraṇakiccaṃ sādhayamānā,
tannirodhā kiriyamanoviññāṇadhātu voṭṭhabbanakiccaṃ sādhayamānā,
tannirodhā sattakkhattuṃ javanaṃ javati. tattha paṭhamajavanepi
“ayaṃ itthī, ayaṃ puriso”ti rajjanadussanamuyhanavasena
ālokitavilokitaṃ na hoti, dutiyajavanepi ... pe ...
sattamajavanepi. etesu pana yuddhamaṇḍale yodhesu viya
heṭṭhupariyavasena bhijjitvā patitesu “ayaṃ itthī, ayaṃ puriso”ti
rajjanādivasena ālokitavilokitaṃ hoti. evaṃ tāvettha
mūlapariññāvasena asammohasampajaññaṃ veditabbaṃ.
cakkhudvāre pana rūpe āpāthamāgate bhavaṅgacalanato uddhaṃ
sakakiccanipphādanavasena āvajjanādīsu uppajjitvā niruddhesu
avasāne javanaṃ uppajjati, taṃ pubbe uppannānaṃ āvajjanādīnaṃ
gehabhūte cakkhudvāre āgantukapuriso viya hoti. tassa yathā
paragehe kiñci yācituṃ paviṭṭhassa āgantukapurisassa
gehasāmikesu tuṇhīmāsinesu āṇākaraṇaṃ na yuttaṃ, evaṃ
āvajjanādīnaṃ gehabhūte cakkhudvāre āvajjanādīsupi arajjantesu
adussantesu amuyhantesu ca rajjanadussanamuyhanaṃ ayuttanti
evaṃ āgantukabhāvavasena asammohasampajaññaṃ veditabbaṃ.
yāni panetāni cakkhudvāre voṭṭhabbanapariyosānāni cittāni
uppajjanti, tāni saddhiṃ sampayuttadhammehi tattha tattheva
bhijjanti, aññamaññaṃ na passanti, ittarāni tāvakālikāni honti.
tattha yathā ekasmiṃ ghare sabbesu mānusakesu matesu avasesassa
ekassa taṅkhaṇaṃyeva maraṇadhammassa na yuttā naccagītādīsu
abhirati nāma, evameva ekadvāre sasampayuttesu āvajjanādīsu
tattha tattheva matesu avasesassa taṅkhaṇaṃyeva maraṇadhammassa
javanassāpi rajjanadussanamuyhanavasena abhirati nāma na
yuttāti evaṃ tāvakālikabhāvavasena asammohasampajaññaṃ veditabbaṃ.
apica khandhāyatanadhātupaccayapaccavekkhaṇavasenapetaṃ veditabbaṃ.
ettha hi cakkhu ceva rūpā ca rūpakkhandho, dassanaṃ viññāṇakkhandho,
taṃsampayuttā vedanā vedanākkhandho, saññā saññākkhandho, phassādikā
saṅkhārā saṅkhārakkhandho, evametesaṃ pañcannaṃ khandhānaṃ samavāye
ālokanavilokanaṃ paññāyati. tattha ko eko āloketi, ko viloketi?
tathā cakkhu cakkhāyatanaṃ, rūpaṃ rūpāyatanaṃ, dassanaṃ manāyatanaṃ,
vedanādayo sampayuttadhammā dhammāyatanaṃ, evametesaṃ catunnaṃ
āyatanānaṃ samavāye ālokanavilokanaṃ paññāyati. tattha ko eko āloketi,
ko viloketi? tathā cakkhu cakkhudhātu, rūpaṃ rūpadhātu, dassanaṃ
cakkhuviññāṇadhātu, taṃsampayuttā vedanādayo dhammā dhammadhātu,
evametesaṃ catunnaṃ dhātūnaṃ samavāye ālokanavilokanaṃ paññāyati.
tattha ko eko āloketi, ko viloketi? tathā cakkhu nissayapaccayo,
rūpaṃ ārammaṇapaccayo,
āvajjanaṃ anantarasamanantarūpanissayanatthivigatapaccayo,
āloko upanissayapaccayo, vedanādayo sahajātapaccayo. evametesaṃ
paccayānaṃ samavāye ālokanavilokanaṃ paññāyati. tattha ko eko
āloketi, ko viloketīti evamettha
khandhāyatanadhātupaccayapaccavekkhaṇavasenapi
asammohasampajaññaṃ veditabbaṃ.
samiñjite pasāriteti pabbānaṃ samiñjanapasāraṇe. tattha
cittavaseneva samiñjanapasāraṇaṃ akatvā hatthapādānaṃ
samiñjanapasāraṇapaccayā atthānatthaṃ pariggaṇhitvā
atthapariggaṇhanaṃ sātthakasampajaññaṃ. tattha hatthapāde
aticiraṃ samiñjitvā vā pasāretvā vā ṭhitassa khaṇe khaṇe
vedanā uppajjanti, cittaṃ ekaggaṃ na labhati, kammaṭṭhānaṃ
paripatati, visesaṃ nādhigacchati. kāle samiñjantassa kāle
pasārentassa pana tā vedanā nuppajjanti, cittaṃ ekaggaṃ hoti,
kammaṭṭhānaṃ phātiṃ gacchati, visesamadhigacchatīti evaṃ
atthānatthapariggaṇhanaṃ veditabbaṃ.
atthe pana satipi sappāyāsappāyaṃ pariggaṇhitvā
sappāyapariggaṇhanaṃ sappāyasampajaññaṃ. tatrāyaṃ nayo —
mahācetiyaṅgaṇe kira daharabhikkhū sajjhāyaṃ gaṇhanti. tesaṃ
piṭṭhipasse daharabhikkhuniyo dhammaṃ suṇanti. tattheko daharo
hatthaṃ pasārento kāyasaṃsaggaṃ patvā teneva kāraṇena gihī jāto.
aparo bhikkhu pādaṃ pasārento aggimhi pasāresi, aṭṭhiṃ āhacca
pādo jhāyi. aparo vammike pasāresi, so āsīvisena daṭṭho. aparo
cīvarakuṭidaṇḍake pasāresi, taṃ maṇisappo ḍaṃsi. tasmā evarūpe
asappāye apasāretvā sappāye pasāretabbaṃ. idamettha sappāyasampajaññaṃ.
gocarasampajaññaṃ pana mahātheravatthunā dīpetabbaṃ — mahāthero
kira divāṭṭhāne nisinno antevāsikehi saddhiṃ kathayamāno sahasā
hatthaṃ samiñjitvā puna yathāṭhāne ṭhapetvā saṇikaṃ samiñjesi.
taṃ antevāsikā pucchiṃsu — “kasmā, bhante, sahasā hatthaṃ samiñjitvā
puna yathāṭhāne ṭhapetvā saṇikaṃ samiñjitthā”ti. yato paṭṭhāyāhaṃ,
āvuso, kammaṭṭhānaṃ manasikātuṃ āraddho, na me kammaṭṭhānaṃ
muñcitvā hattho samiñjitapubbo, idāni pana tumhehi saddhiṃ
kathayamānena kammaṭṭhānaṃ muñcitvā samiñjito, tasmā puna yathāṭhāne
ṭhapetvā samiñjesinti. sādhu, bhante, bhikkhunā nāma evarūpena
bhavitabbanti. evametthāpi kammaṭṭhānāvijahanameva
gocarasampajaññanti veditabbaṃ.
abbhantare attā nāma koci samiñjanto vā pasārento vā natthi,
vuttappakāracittakiriyavāyodhātuvipphārena pana suttākaḍḍhanavasena
dāruyantassa hatthapādalaḷanaṃ viya samiñjanapasāraṇaṃ hotīti
parijānanaṃ panettha asammohasampajaññanti veditabbaṃ.
saṅghāṭipattacīvaradhāraṇeti ettha saṅghāṭicīvarānaṃ
nivāsanapārupanavasena, pattassa bhikkhāpaṭiggahaṇādivasena
paribhogo dhāraṇaṃ nāma. tattha saṅghāṭicīvaradhāraṇe tāva
nivāsetvā pārupitvā ca piṇḍāya carato āmisalābho, “sītassa
paṭighātāyā”tiādinā nayena bhagavatā vuttappakāroyeva ca attho
attho nāma. tassa vasena sātthakasampajaññaṃ veditabbaṃ.
uṇhapakatikassa pana dubbalassa ca cīvaraṃ sukhumaṃ sappāyaṃ,
sītālukassa ghanaṃ dupaṭṭaṃ. viparītaṃ asappāyaṃ. yassa kassaci
jiṇṇaṃ asappāyameva. aggaḷādidānena hissa taṃ palibodhakaraṃ hoti.
tathā paṭṭuṇṇadukūlādibhedaṃ lobhanīyacīvaraṃ. tādisañhi araññe
ekakassa nivāsantarāyakaraṃ, jīvitantarāyakarañcāpi hoti.
nippariyāyena pana yaṃ nimittakammādimicchājīvavasena uppannaṃ,
yañcassa sevamānassa akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā
parihāyanti, taṃ asappāyaṃ. viparītaṃ sappāyaṃ, tassa vasenettha
sappāyasampajaññaṃ, kammaṭṭhānāvijahanavaseneva ca
gocarasampajaññaṃ veditabbaṃ.
abbhantare attā nāma koci cīvaraṃ pārupanto natthi,
vuttappakāracittakiriyavāyodhātuvipphāreneva pana cīvarapārupanaṃ
hoti. tattha cīvarampi acetanaṃ, kāyopi acetano. cīvaraṃ na
jānāti “mayā kāyo pārupito”ti. kāyopi na jānāti “ahaṃ cīvarena
pārupito”ti. dhātuyova dhātusamūhaṃ paṭicchādenti paṭapilotikāya
potthakarūpapaṭicchādane viya. tasmā neva sundaraṃ cīvaraṃ labhitvā
somanassaṃ kātabbaṃ, na asundaraṃ labhitvā domanassaṃ.
nāgavammikacetiyarukkhādīsu hi keci mālāgandhadhūmavatthādīhi
sakkāraṃ karonti, keci gūthamuttakaddamadaṇḍasatthapahārādīhi
asakkāraṃ. na tehi nāgavammikarukkhādayo somanassaṃ vā karonti
domanassaṃ vā. evamevaṃ neva sundaraṃ cīvaraṃ labhitvā somanassaṃ
kātabbaṃ, na asundaraṃ labhitvā domanassanti evaṃ
pavattapaṭisaṅkhānavasenettha asammohasampajaññaṃ veditabbaṃ.
pattadhāraṇepi pattaṃ sahasāva aggahetvā — “imaṃ gahetvā
piṇḍāya caramāno bhikkhaṃ labhissāmī”ti evaṃ
pattaggahaṇapaccayā paṭilabhitabbātthavasena
sātthakasampajaññaṃ veditabbaṃ. kisadubbalasarīrassa pana garupatto
asappāyo. yassa kassaci catupañcagaṇṭhikāhato dubbisodhanīyo
asappāyova. duddhotapatto hi na vaṭṭati, taṃ dhovantasseva
cassa palibodho hoti. maṇivaṇṇapatto pana lobhanīyo cīvare
vuttanayeneva asappāyo. nimittakammādivasena laddho, pana
yañcassa sevamānassa akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā
parihāyanti, ayaṃ ekantāsappāyova. viparīto sappāyo. tassa
vasenettha sappāyasampajaññaṃ, kammaṭṭhānāvijahanavaseneva
ca gocarasampajaññaṃ veditabbaṃ.
abbhantare attā nāma koci pattaṃ gaṇhanto natthi,
vuttappakāracittakiriyavāyodhātuvipphāreneva pattaggahaṇaṃ nāma
hoti. tattha pattopi acetano, hatthāpi acetanā. patto na jānāti
“ahaṃ hatthehi gahito”ti. hatthāpi na jānanti “patto amhehi
gahito”ti. dhātuyova dhātusamūhaṃ gaṇhanti, saṇḍāsena
aggivaṇṇapattaggahaṇe viyāti evaṃ pavattapaṭisaṅkhānavasenettha
asammohasampajaññaṃ veditabbaṃ.
apica yathā chinnahatthapāde vaṇamukhehi
paggharitapubbalohitakimikule nīlamakkhikasamparikiṇṇe
anāthasālāya anāthamanusse disvā dayālukā purisā tesaṃ
vaṇapaṭṭacoḷakāni ceva kapālādīhi bhesajjāni ca upanāmenti.
tattha coḷakānipi kesañci saṇhāni, kesañci thūlāni pāpuṇanti,
bhesajjakapālānipi kesañci susaṇṭhānāni, kesañci
dussaṇṭhānāni pāpuṇanti, na te tattha sumanā vā dummanā vā honti.
vaṇapaṭicchādanamatteneva hi coḷakena bhesajjapaṭiggahamatteneva
ca kapālakena tesaṃ attho. evameva yo bhikkhu vaṇacoḷakaṃ viya
cīvaraṃ, bhesajjakapālakaṃ viya ca pattaṃ, kapāle bhesajjamiva
ca patte laddhabhikkhaṃ sallakkheti. ayaṃ saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe
asammohasampajaññena uttamasampajānakārīti veditabbo.
asitādīsu asiteti piṇḍapātabhojane. pīteti yāguādipāne.
khāyiteti piṭṭhakhajjakādikhādane. sāyiteti madhuphāṇitādisāyane.
tattha “neva davāyā”tiādinā nayena vutto aṭṭhavidhopi attho attho
nāma, tassa vasena sātthakasampajaññaṃ veditabbaṃ.
lūkhapaṇītatittamadhurādīsu pana yena bhojanena yassa aphāsu hoti,
taṃ tassa asappāyaṃ. yaṃ pana nimittakammādivasena paṭiladdhaṃ,
yañcassa bhuñjato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā
parihāyanti, taṃ ekantāsappāyameva. viparītaṃ sappāyaṃ. tassa
vasenettha sappāyasampajaññaṃ, kammaṭṭhānāvijahanavaseneva ca
gocarasampajaññaṃ veditabbaṃ.
abbhantare attā nāma koci bhuñjako natthi,
vuttappakāracittakiriyavāyodhātuvipphāreneva pattapaṭiggahaṇaṃ
nāma hoti, cittakiriyavāyodhātuvipphāreneva hatthassa patte
otāraṇaṃ nāma hoti, cittakiriyavāyodhātuvipphāreneva
ālopakaraṇaṃ ālopuddharaṇaṃ mukhavivaraṇañca hoti. na
koci kuñcikāya na yantakena hanukaṭṭhīni vivarati,
cittakiriyavāyodhātuvipphāreneva ālopassa mukhe ṭhapanaṃ
uparidantānaṃ musalakiccasādhanaṃ heṭṭhādantānaṃ
udukkhalakiccasādhanaṃ jivhāya hatthakiccasādhanañca hoti.
iti naṃ tattha aggajivhāya tanukakheḷo, mūlajivhāya bahalakheḷo
makkheti. taṃ heṭṭhādantaudukkhale jivhāhatthaparivattitaṃ
kheḷaudakatemitaṃ uparidantamusalasañcuṇṇitaṃ koci kaṭacchunā
vā dabbiyā vā anto pavesento nāma natthi, vāyodhātuyāva pavisati.
paviṭṭhaṃ paviṭṭhaṃ koci palālasantharaṃ katvā dhārento nāma natthi,
vāyodhātuvaseneva tiṭṭhati. ṭhitaṃ ṭhitaṃ koci uddhanaṃ katvā
aggiṃ jāletvā pacanto nāma natthi, tejodhātuyāva paccati.
pakkaṃ pakkaṃ koci daṇḍakena vā yaṭṭhiyā vā bahi nīharako nāma
natthi, vāyodhātuyeva nīharati. iti vāyodhātu atiharati ca
vītiharati ca dhāreti ca parivatteti ca sañcuṇṇeti ca visoseti
ca nīharati ca; pathavīdhātu dhāreti ca parivatteti ca sañcuṇṇeti
ca visoseti ca; āpodhātu sineheti ca allattañca anupāleti;
tejodhātu antopaviṭṭhaṃ paripāceti; ākāsadhātu añjaso hoti;
viññāṇadhātu tattha tattha sammāpayogamanvāya ābhujatīti evaṃ
pavattapaṭisaṅkhānavasenettha asammohasampajaññaṃ veditabbaṃ.
apica gamanato, pariyesanato, paribhogato, āsayato, nidhānato,
aparipakkato, paripakkato, phalato, nissandato, sammakkhanatoti
evaṃ dasavidhaṃ paṭikūlabhāvaṃ paccavekkhaṇatopettha
asammohasampajaññaṃ veditabbaṃ. vitthārakathā panettha
visuddhimagge (visuddhi. 1.294 ādayo)
āhārapaṭikūlasaññāniddesato gahetabbā.
uccārapassāvakammeti uccārassa ca passāvassa ca karaṇe.
tattha pattakāle uccārapassāvaṃ akarontassa sakalasarīrato
sedā muccanti, akkhīni bhamanti, cittaṃ na ekaggaṃ hoti,
aññe ca rogā uppajjanti. karontassa pana sabbaṃ taṃ na hotīti
ayamettha attho. tassa vasena sātthakasampajaññaṃ veditabbaṃ.
aṭṭhāne uccārapassāvaṃ karontassa pana āpatti hoti, ayaso
vaḍḍhati, jīvitantarāyopi hoti. patirūpe ṭhāne karontassa sabbaṃ
taṃ na hotīti idamettha sappāyaṃ. tassa vasena sappāyasampajaññaṃ,
kammaṭṭhānāvijahanavasena ca gocarasampajaññaṃ veditabbaṃ.
abbhantare attā nāma koci uccārapassāvakammaṃ karonto natthi,
cittakiriyavāyodhātuvipphāreneva pana uccārapassāvakammaṃ hoti.
yathā pana pakke gaṇḍe gaṇḍabhedena pubbalohitaṃ akāmatāya
nikkhamati, yathā ca atibharitā udakabhājanā udakaṃ akāmatāya
nikkhamati, evaṃ pakkāsayamuttavatthīsu sannicitā uccārapassāvā
vāyuvegasamuppīḷitā akāmatāyapi nikkhamanti. so panāyaṃ evaṃ
nikkhamanto uccārapassāvo neva tassa bhikkhuno attano hoti
na parassa, kevalaṃ sarīranissandova hoti. yathā kiṃ? yathā
udakatumbato purāṇaudakaṃ chaḍḍentassa neva taṃ attano hoti
na paresaṃ, kevalaṃ paṭijagganamattameva hoti. evaṃ
pavattapaṭisaṅkhānavasenettha asammohasampajaññaṃ veditabbaṃ.
gatādīsu gateti gamane. ṭhiteti ṭhāne. nisinneti nisajjāya.
sutteti sayane. jāgarite ti jāgaraṇe. bhāsiteti kathane.
tuṇhībhāveti akathane. ettha ca yo ciraṃ gantvā vā caṅkamitvā
vā aparabhāge ṭhito iti paṭisañcikkhati “caṅkamanakāle pavattā
rūpārūpadhammā ettheva niruddhā”ti, ayaṃ gate sampajānakārī nāma.
yo sajjhāyaṃ vā karonto pañhaṃ vā vissajjento kammaṭṭhānaṃ
vā manasikaronto ciraṃ ṭhatvā aparabhāge nisinno iti paṭisañcikkhati
“ṭhitakāle pavattā rūpārūpadhammā ettheva niruddhā”ti,
ayaṃ ṭhite sampajānakārī nāma.
yo sajjhāyādikaraṇavaseneva ciraṃ nisīditvā aparabhāge nipanno
iti paṭisañcikkhati — “nisinnakāle pavattā rūpārūpadhammā
ettheva niruddhā”ti, ayaṃ nisinne sampajānakārī nāma.
yo pana nipannakova sajjhāyaṃ karonto kammaṭṭhānaṃ
vā manasikaronto niddaṃ okkamitvā aparabhāge uṭṭhāya iti
paṭisañcikkhati — “sayanakāle pavattā rūpārūpadhammā ettheva
niruddhā”ti, ayaṃ sutte ca jāgarite ca sampajānakārī nāma.
kiriyamayacittānañhi appavattaṃ suttaṃ nāma,
pavattaṃ jāgaritaṃ nāmāti.
yo pana bhāsamāno — “ayaṃ saddo nāma oṭṭhe ca paṭicca dante
ca jivhañca tāluñca paṭicca cittassa ca tadanurūpaṃ payogaṃ
paṭicca jāyatī”ti sato sampajāno bhāsati, ciraṃ vā pana kālaṃ
sajjhāyaṃ katvā dhammaṃ vā kathetvā kammaṭṭhānaṃ vā
parivattetvā pañhaṃ vā vissajjetvā aparabhāge tuṇhībhūto
iti paṭisañcikkhati “bhāsitakāle uppannā rūpārūpadhammā
ettheva niruddhā”ti ayaṃ bhāsite sampajānakārī nāma.
yo tuṇhībhūto ciraṃ dhammaṃ vā kammaṭṭhānaṃ vā manasikatvā
aparabhāge iti paṭisañcikkhati — “tuṇhībhūtakāle pavattā
rūpārūpadhammā ettheva niruddhā”ti. upādārūpapavattiyā
sati bhāsati nāma, asati tuṇhī bhavati nāmāti, ayaṃ
tuṇhībhāve sampajānakārī nāmāti. evamettha asammohasampajaññaṃ
tassa vasena sampajānakāritā veditabbā. imasmiṃ sutte
satipaṭṭhānamissakasampajaññaṃ pubbabhāgaṃ kathitaṃ.
368. (Bài kinh thứ hai) — “Sato, sampajāno …”
“Sato”: là người được đầy đủ chánh niệm về quán thân v.v.
“Sampajāno”: là người được
đầy đủ tuệ tỉnh giác thuộc bốn loại tỉnh giác.
“Trong khi đi tới, đi lui”: ở đây abhikkanta gọi là đi tới,
paṭikkanta gọi là đi lui / quay lại; cả hai đều có thể có trong
bốn oai nghi.
Trong việc đi, khi đưa thân về phía trước thì gọi là “đi tới”,
khi quay lại thì gọi là “đi lui”.
Trong việc đứng cũng vậy: đang đứng mà cúi/đưa thân về trước thì
gọi là “đi tới”, đang đứng mà ngả hay đưa thân về sau thì gọi là
“đi lui”.
Trong việc ngồi cũng vậy: đang ngồi mà xoay trở hướng về phần
trước của chỗ ngồi thì gọi là “đi tới”, xoay trở về phía sau thì
gọi là “đi lui”.
Trong việc nằm cũng theo cách ấy.
“Trở thành người làm với tỉnh giác”: là người làm mọi việc bằng tỉnh giác;
hoặc nói cách khác, là người chỉ “làm” theo tỉnh giác. Vì vị ấy,
trong đi tới v.v., luôn làm tỉnh giác, không có chỗ nào thiếu
tỉnh giác.
Bốn loại tỉnh giác (catusampajañña)
Ở đây có bốn loại tỉnh giác:
1.
tỉnh giác về mục đích (sātthakasampajañña),
2.
tỉnh giác về sự thích hợp (sappāyasampajañña),
3.
tỉnh giác về hành xứ (gocarasampajañña),
4.
tỉnh giác không mê lầm (asammohasampajañña).
(1) Tỉnh giác về mục đích (sātthakasampajañña)
Khi tâm muốn đi khởi lên, vị ấy không vội đi theo tâm ấy, mà xét: “Đi như
vậy, có lợi ích hay không lợi ích?”
Sự nắm lấy lợi ích ấy gọi là “tỉnh giác về mục đích”.
Ở đây “lợi ích” là tăng trưởng thiện pháp,
như: thấy tháp, thấy bồ-đề, thấy Tăng, thấy các trưởng lão, thấy
điều khả ái/khả kính…Chẳng hạn, chỉ nhìn thấy tháp cũng có thể
khiến khởi lên hỷ với đối tượng Phật; nhờ thấy Tăng cũng khởi
lên hỷ với đối tượng Tăng; rồi quán chính hỷ ấy theo hướng hoại
diệt mà chứng A-la-hán.
Quả thật, tại Đại Tự (Mahāvihāra), đứng ở cổng phía nam nhìn Đại Tháp, ba
mươi ngàn tỳ-khưu đã chứng A-la-hán; cũng vậy ở cổng phía tây,
phía bắc, phía đông; cũng vậy tại nền nhà giảng, tại bờ hồ
Abhayavāpi, tại cổng Thūpārāma, tại cổng nam của thành, tại bờ
hồ Anurādhavāpi.
Tôn giả chuyên tụng “Đại Thánh Chủng” còn nói: “Các ông nói sao? Từ phần
thấp của hành lang quanh Đại Tháp trở lên, ở bất cứ chỗ nào có
thể đặt được hai bàn chân cho bằng, ngay tại mỗi chỗ ấy, chỉ với
một bước nhấc chân, đều có thể nói là ba mươi ba ngàn tỳ-khưu
chứng A-la-hán.”
Một vị đại trưởng lão khác lại nói: “Trên nền Đại Tháp, tại bãi
cát đông người, còn có nhiều vị hơn nữa chứng A-la-hán.”
Cũng vậy, thấy trưởng lão rồi nương theo lời giáo huấn của các vị; thấy
bất tịnh rồi chứng sơ thiền ngay tại đó; lấy thiền ấy làm nền,
quán hoại diệt và chứng A-la-hán. Vì thế, những sự “thấy” ấy là
có mục đích. Có người lại nói: “Ngay cả lợi ích về vật chất cũng
là lợi ích, vì nhờ đó mà nâng đỡ phạm hạnh.”
(2) Tỉnh giác về sự thích hợp (sappāyasampajañña)
Trong sự đi ấy, sau khi xét hợp hay không hợp,
sự nắm lấy cái hợp gọi là “tỉnh giác về sự thích hợp”.
Ví dụ: đi thấy tháp là có mục đích. Nhưng nếu vào dịp đại lễ, hội chúng tụ
họp từ xa mười hay mười hai do-tuần; nam nữ trang sức như tranh
vẽ đi qua lại; ở đó với cảnh đáng thích có thể sinh tham, với
cảnh không thích sinh sân, với cảnh trung tính sinh si; do thân
tiếp xúc có thể phạm lỗi “thân xúc chạm”; hoặc trở thành chướng
ngại cho mạng sống và phạm hạnh. Như vậy chỗ ấy là không thích
hợp. Khi không có những nguy hại ấy, mới là thích hợp.
Gặp chư Tăng cũng là có mục đích. Nhưng nếu trong làng dựng nhà giảng lớn,
suốt đêm tổ chức nghe pháp, và do tụ tập đông người mà xảy ra
các nguy hại như đã nói, thì chỗ ấy là không thích hợp; khi
không có nguy hại thì là thích hợp.
Thấy các trưởng lão đông đồ chúng cũng theo cách ấy.
Thấy bất tịnh cũng là có mục đích. Để nói rõ điều này có câu chuyện: Có vị
tỳ-khưu trẻ dẫn sa-di đi nhặt nhánh cây làm tăm. Sa-di đi trước,
rẽ khỏi đường thấy bất tịnh, liền chứng sơ thiền; lấy đó làm
nền, quán các hành, chứng ba quả; rồi đứng lại nắm lấy đề mục để
hướng đến đạo cao hơn. Vị tỳ-khưu trẻ không thấy sa-di, gọi:
“Sa-di!” Sa-di nghĩ: “Từ ngày xuất gia đến nay, tôi chưa từng
nói chuyện hai câu với tỳ-khưu; hôm nay tôi sẽ tạo thượng phần.”
Rồi đáp: “Dạ, thưa ngài?” Khi được gọi “lại đây”, sa-di đến chỉ
bằng một câu: “Bạch ngài, xin đi theo đường này đến chỗ con
đứng; đứng đó nhìn về phía đông một lát.” Vị tỳ-khưu trẻ làm
theo và chứng ngay pháp thù thắng. Như vậy một cảnh bất tịnh đã
trở thành lợi ích cho hai người.
Tuy vậy, bất tịnh của nữ đối với nam là không hợp, bất tịnh của nam đối
với nữ cũng vậy; chỉ bất tịnh cùng giới mới là hợp. Nắm như vậy
gọi là “tỉnh giác về sự thích hợp”.
(3) Tỉnh giác về hành xứ (gocara-sampajañña)
Khi đã nắm được mục đích và sự thích hợp, rồi trong ba mươi tám thiền án
chọn đề mục hợp với tâm mình, lấy đó làm phạm vi hành trì, và đi
trong phạm vi khất thực mà không bỏ đề mục, đó gọi là “tỉnh giác
về phạm vi”.
Để làm rõ, cần biết bốn hạng:
(1) có “mang theo” mà không “đem về”;
(2) có “đem về” mà không “mang theo”;
(3) không mang theo cũng không đem về;
(4) vừa mang theo vừa đem về.
Hạng (1) “mang theo mà không đem về”:
Vị ấy ban ngày đi kinh hành, ngồi thiền làm sạch tâm khỏi các
pháp chướng ngại; đêm canh đầu, canh giữa nằm nghỉ; canh cuối
lại ngồi và kinh hành; sáng sớm làm phận sự nơi tháp và bồ-đề,
tưới nước cây bồ-đề, chuẩn bị nước uống nước dùng, làm các bổn
phận đối với thầy tổ… Rồi làm các việc thân, vào trú xứ, ngồi
hai ba kiết-già để thân ấm lên, thực hành đề mục; đến giờ khất
thực cầm bát y ra khỏi trú xứ vẫn giữ đề mục; đến sân tháp nếu
đề mục là niệm Phật thì không bỏ; nếu đề mục khác thì tạm đặt
như vật cầm tay, khởi hỷ đối với Phật rồi lên sân tháp; nếu tháp
lớn thì đi nhiễu ba vòng và lễ bốn chỗ; nếu tháp nhỏ thì nhiễu
và lễ tám chỗ; lễ tháp rồi qua sân bồ-đề, lễ bồ-đề như ở trước
mặt Phật; rồi trở lại chỗ cất đồ, lấy lại đề mục như cầm món đồ
đã đặt xuống; gần làng mặc y theo đề mục rồi vào làng khất thực.
Người đời thấy liền ra đón, lấy bát, mời ngồi, dâng cháo, rửa chân, hỏi
pháp hay muốn nghe pháp. Dù họ không hỏi, các thầy chú giải nói:
vì nhiếp chúng, vẫn nên thuyết pháp. Thuyết pháp không thể lìa
đề mục; do đó nói pháp theo đề mục, ăn theo đề mục, tùy hỷ theo
đề mục; ra khỏi làng, tiễn người rồi quay về theo đường.
Các sa-di, tỳ-khưu trẻ ra đón lấy bát y… Các tỳ-khưu xưa không
nhìn mặt mà làm phận sự theo “đúng phạm vi tương hợp”. Họ hỏi:
“Các cư sĩ này là bà con ngài bên mẹ hay bên cha?” Vì thấy họ
rất nồng hậu. Vị ấy nói: “Này hiền giả, điều mà ngay cả cha mẹ
cũng khó làm, họ làm cho ta; bát y cũng từ họ; nhờ họ ta không
biết sợ, không biết đói; không ai giúp ta như vậy!”
cứ thế nói mà mãi mê nói về những cái tốt cuả đàn tín.
Đây gọi là “mang theo mà không đem về”.
Hạng (2) “đem về mà không mang theo”:
Có vị sáng sớm làm phận sự như trên, nhưng hỏa lực nghiệp
(kamma-tejo) bừng mạnh, bỏ cái không nắm giữ, nắm cái đang nắm
giữ; mồ hôi tuôn; dòng đề mục không lên được; vị ấy vội cầm bát
y đi lễ tháp rồi vào làng đúng lúc bò ra khỏi chuồng, khất cháo,
uống ở nhà giảng. Chỉ nuốt đôi ba lần, hỏa lực nghiệp chuyển
lại, như được tắm bằng trăm vò nước, thân tâm mát; ăn cháo theo
đề mục, rửa bát rửa miệng, trong bữa giữa với quán niệm; rồi
khất thực phần còn lại; dùng bữa theo quán niệm; từ đó trở đi
tâm nhiếp niệm tu tập. Đây gọi là “đem về mà không mang theo”.
Những vị như vậy sau khi uống cháo khởi vipassanā chứng A-la-hán
là vô số; tại đảo Sīhaḷa hầu như không có nhà giảng nào không có
vị chứng A-la-hán sau khi thọ thực món cháo.
Hạng (3) “không mang theo cũng không đem về”:
Vị sống phóng dật, bỏ gánh nặng tu tập, phá hỏng mọi phận sự, tâm bị trói
bởi năm loại dây buộc; không khởi tưởng “có thiền án”; vào làng
khất thực, giao du cư sĩ trái pháp, ăn xong ra về rỗng không.
Đây gọi là “không mang theo cũng không đem về”.
Hạng (4) “vừa mang theo vừa đem về”:
Được hiểu theo hạnh “đến đi tỉnh thửc” (gatapaccāgatikavatta).
Những thiện nam xuất gia vì muốn thoát khổ thường sống chung,
lập quy ước: “Các hiền giả xuất gia không vì nợ, không vì sợ,
không vì mưu sinh; đã xuất gia vì muốn thoát khổ. Vì thế phiền
não khởi khi đi thì hãy chế ngự ngay khi đi; phiền não khởi khi
đứng, ngồi, nằm thì hãy chế ngự ngay tại đó.” Họ đi khất thực,
cứ nửa hay một gāvuta lại có tảng đá làm dấu để nhắc đề mục. Nếu
phiền não khởi lúc đi, chế ngự ngay; nếu không được thì đứng
lại; người phía sau cũng dừng; vị ấy tự quở: “Vị sau biết vọng
tưởng ngươi; điều ấy không xứng!” — tăng trưởng vipassanā và có
thể bước vào thánh địa ngay đó. Nếu chưa vào được thánh địa,
cũng vững vàng chế ngự phiền não rồi đi tiếp, không nhấc chân
với tâm lìa đề mục. Nếu đã lỡ nhấc chân với tâm lìa đề mục thì
quay lại đúng chỗ cũ như Trưởng lão Mahāphussadeva ở Ālindaka.
Vị ấy sống đủ mười chín năm theo hạnh đến đi tỉnh thửc. Người đời làm
ruộng giữa đường thấy cứ quay lại mà đi, nói: “Sư cụ này lạc
đường hay quên gì?” Vị ấy không bận tâm, vẫn chuyên chú vào
thiền án, trong vòng hai mươi năm chứng A-la-hán. Ngày chứng
quả, thiên nữ ở đầu đường kinh hành thắp đèn bằng ngón tay; bốn
Đại Thiên Vương, Sakka, Brahmā Sahampati đến hầu. Trưởng lão
Vanavāsī Mahātissa hôm sau hỏi: “Đêm qua có ánh sáng, ánh sáng
gì?” Trưởng lão tránh né: “Ánh sáng có thể là đèn, có thể là
ngọc…” Bị hỏi mãi mới nhận và nói ra.
Cũng như Trưởng lão Mahānāga ở Kāḷavallimaṇḍapa: ban đầu phát nguyện bảy
năm chỉ đứng và kinh hành để cúng dường đại tinh tấn của Phật;
rồi mười sáu năm thực hành hạnh đến đi tỉnh thửc và chứng
A-la-hán. Nếu nhấc chân với tâm lìa đề mục thì quay lại; đến gần
làng, đứng ở chỗ dễ bị nghi “có phải xuất gia hay không”, khoác
y, rửa bát bằng nước, súc miệng. Vì sợ người đến xin bát hay
đảnh lễ chỉ làm dao động đề mục. Nếu bị hỏi ngày tháng hay số
tăng, ngài nuốt nước rồi đáp; nếu không bị hỏi, ra khỏi làng thì
nhổ nước ở cổng làng rồi đi.
Cũng như năm mươi tỳ-khưu an cư tại Kalambatittha: ngày rằm tháng Āsāḷha
lập quy ước: “Chưa chứng A-la-hán, không nói chuyện nhau.” Khi
vào làng, súc miệng nước; bị hỏi ngày tháng thì làm như trên.
Người đời thấy nhổ nước biết hôm nay một vị, hôm nay hai vị… Họ
nghĩ: “Sao không nói với chúng ta? Hay họ cãi nhau? Thôi ta đến
hòa giải.” Đến tinh xá không thấy hai vị đứng chung chỗ; người
có mắt nói: “Không phải người gây tranh mới thế: sân tháp và sân
bồ-đề sạch bóng; chổi đặt ngay ngắn; nước uống nước dùng chuẩn
bị sẵn.” Họ quay về. Các tỳ-khưu ấy trong ba tháng đều chứng
A-la-hán và ngày Đại Tự tứ làm “tự tứ thanh tịnh”.
Như vậy, người vừa mang theo vừa đem về: gần làng súc miệng, chọn đường
không có rượu chè du đãng, kẻ gây sự, voi ngựa dữ… Khi đi khất
thực không vội vàng chạy như người hấp tấp; hạnh đầu-đà khất
thực không cần chạy nhanh. Đi chững chạc như xe chở nước trên
đường gồ ghề. Vào từng nhà, quan sát người muốn cho hay không
muốn cho, chờ đúng lúc rồi nhận; về làng hay ngoài làng hay về
tinh xá, ngồi nơi hợp, tác ý đề mục, khởi tưởng chán ghét thức
ăn, quán thực phẩm như thuốc bôi mắt, như bôi vết thương, như
thịt con… rồi thọ dụng đúng tám chi: “không vì vui đùa, không vì
say mê…”; ăn xong làm việc với nước, nghỉ một lát hết mệt, rồi
như trước bữa và sau bữa, canh đầu canh cuối đều tác ý đề mục.
Đây gọi là “mang theo và đem về”.
Nếu vị ấy đầy đủ duyên (upanissaya), có thể chứng A-la-hán ngay thời trẻ;
nếu không thì trung niên; nếu không thì lão niên; nếu không thì
lúc lâm chung; nếu không thì tái sinh làm thiên tử; nếu không
thì gặp thời không có Phật mà chứng Độc giác; nếu không thì khi
gặp Phật sẽ thành người chứng nhanh như tôn giả Bāhiya, hoặc đại
trí như tôn giả Sāriputta, đại thần thông như tôn giả
Mahāmoggallāna, đầu-đà như tôn giả Mahākassapa, thiên nhãn như
tôn giả Anuruddha, trì luật như tôn giả Upāli, thuyết pháp như
tôn giả Puṇṇa, tịnh mặc như tôn giả Revata, đa văn như tôn giả
Ānanda, ham học như tôn giả Rāhula. Trong bốn hạng, người “mang
theo và đem về” thì “tỉnh giác về phạm vi” đạt đến đỉnh cao
nhất.
(4) Tỉnh giác không muội lược (asammohasampajañña)
Trong đi tới v.v., sự không muội lược gọi là tỉnh giác không lẩn lộn, được
hiểu như sau: Khi đi tới, đi lui, không mê lầm như phàm phu mù
lòa: “ngã đi”, “ta đi”, “do ta mà sự đi sinh”… Mà biết rằng: khi
ý “ta đi” khởi, cùng với tâm ấy, gió do tâm sinh tạo ra biểu
hiện; do sự lan tỏa của gió do hoạt động tâm, khối xương thịt
(thân này) gọi là “đi”. Mỗi lần nhấc chân, trong bốn đại, hai
đại đất–nước yếu, hai đại lửa–gió mạnh; trong việc bước tới–bước
qua–thả xuống, v.v., tứ đại tăng giảm như vậy.
Các pháp danh-sắc đang vận hành ở mỗi chỗ không “chạy sang” chỗ khác; từng
đốt, từng khớp, từng đoạn… như hạt mè rơi trên chảo nóng: lách
tách rồi vỡ. Vậy ai là một người đi? Sự đi của ai? Rốt ráo chỉ
là các đại chủng đi, các đại chủng đứng, các đại chủng ngồi, các
đại chủng nằm. Và như kệ:
“Cái tâm khác sinh, cái tâm khác diệt,
Liên tục không đứt, như dòng sông chảy.”
Như vậy, không mê lầm trong đi tới v.v. gọi là tỉnh giác không
mê lầm.
(Đến đây kết thúc ý của cụm “trong khi đi tới, đi lui, vị ấy là người sinh
hoạt với tỉnh giác”.)
“Nhìn thẳng, nhìn
quanh”
Ở đây “ālokita” là nhìn thẳng phía trước; “vilokita” là nhìn theo hướng
khác/nhìn quanh. Các kiểu nhìn khác như nhìn xuống, nhìn lên,
nhìn lại… tuy không nêu riêng, nhưng cũng được bao gồm theo ý
nghĩa.
Khi tâm “tôi sẽ nhìn” khởi, trước khi nhìn mà xét lợi ích hay không lợi
ích thì là tỉnh giác về mục đích; đoạn này nên hiểu qua ví dụ
Tôn giả Nanda: Đức Phật dạy nếu Nanda nhìn phương đông v.v. thì
gom tâm, nhìn với ý: “khi ta nhìn như vậy, các pháp bất thiện do
tham–ưu sẽ không xâm nhập” — như vậy là tỉnh giác.
Ở đây cũng nên hiểu “có mục đích” và “thích hợp” theo ví dụ “nhìn tháp”
v.v.
Còn “tỉnh giác về phạm vi” là không bỏ đề mục: người tu
khandha–dhātu–āyatana hoặc kasiṇa v.v. đều nên nhìn theo chính
đề mục ấy.
Và “tỉnh giác không mê lầm” ở đây là biết: không có “tự ngã” nào nhìn; khi
tâm “tôi sẽ nhìn” khởi, cùng tâm ấy gió do tâm sinh khiến mí
dưới hạ xuống, mí trên nâng lên; không ai mở bằng máy móc; rồi
nhãn thức khởi làm nhiệm vụ thấy.
Khi ăn tỉnh thức: “Không có một ‘cái ta’ nào ở bên trong là người ăn cả.
Cái gọi là ‘nhận bát’ chỉ xảy ra do sự dao động của đại chủng
gió được khởi lên bởi tác ý của tâm; việc đưa tay vào bát cũng
chỉ do dao động của đại chủng gió do tâm tạo;
việc làm viên cơm, đưa viên cơm lên, mở miệng cũng đều chỉ do
đại chủng gió do tâm tạo mà thành.
Không có ai dùng chìa khóa hay máy móc để mở hai hàm; chỉ do đại chủng gió
do tâm tạo mà viên cơm được đặt vào miệng; răng trên làm việc
như chày, răng dưới như cối, lưỡi làm việc như tay, nghiền nát
thức ăn.
Ở đầu lưỡi có nước bọt loãng, ở gốc lưỡi có nước bọt đặc làm trơn thức ăn;
thức ăn được lưỡi và tay (tức động lực gió) xoay chuyển trong
cối răng dưới,
được nước bọt làm ướt, răng trên nghiền nát; không có ai dùng
muỗng hay vá mà đưa vào trong – chỉ do đại chủng gió mà đi vào.
Thức ăn đã vào rồi, không có ai trải rơm để giữ – chỉ do đại chủng gió mà
trụ;
đã trụ rồi, không có ai nhóm lò đốt lửa để nấu – chỉ do đại
chủng lửa mà chín;
đã chín rồi, không có ai dùng gậy hay cây để lấy ra – chỉ do đại
chủng gió mà đẩy đi.
Như vậy:
-
Đại chủng gió: đưa đi, đưa lại,
giữ, xoay, nghiền, làm khô, tống xuất;
-
Đại chủng đất: giữ, xoay, nghiền,
làm khô;
-
Đại chủng nước: làm trơn, giữ ướt;
-
Đại chủng lửa: làm chín ở bên
trong;
-
Đại chủng không: tạo khoảng trống
cho vận hành;
-
Thức: hướng dẫn sự vận hành ấy cho
đúng cách ở từng chỗ.
Quán sát như vậy gọi là tỉnh giác không mê lầm (asammohasampajañña).
Hơn nữa, bằng cách quán xét mười phương diện bất tịnh của thực phẩm:
do sự đi tìm, do sự kiếm được, do sự thọ dụng, do nơi chứa, do
sự tích trữ,
do chưa chín, do đã chín, do kết quả, do dư sót, do sự thoa
trét,
hành giả cũng đạt tỉnh giác không mê lầm. Phần giảng rộng, nên
xem trong Thanh Tịnh Đạo – phẩm Quán Bất Tịnh của Thức
Ăn.
Về việc đại tiện và tiểu tiện: Nếu đến lúc cần mà không làm, toàn thân
toát mồ hôi, mắt hoa, tâm không định, sinh nhiều bệnh; làm đúng
lúc thì không có các tai hại ấy – đây là tỉnh giác về cần thiết
(sātthakasampajañña). Làm không đúng chỗ thì phạm lỗi, mang
tiếng xấu, nguy hại đến mạng sống; làm đúng chỗ thì không có các
tai hại ấy – đây là tỉnh giác về sự thích hợp
(sappāyasampajañña). Không bỏ đề mục tu tập – đó là tỉnh giác về
hành xứ (gocarasampajañña).
Không có ‘ta’ nào làm việc đại tiểu tiện; chỉ do đại chủng gió do tâm tạo
mà việc ấy xảy ra. Giống như mủ và máu từ mụn chín tự chảy ra,
như nước từ bình đầy tự trào ra, các chất tích tụ trong ruột và
bàng quang, bị gió đẩy, tự thoát ra, dù không mong muốn. Thứ ấy
không thuộc về ai, chỉ là sự rỉ chảy của thân, như đổ nước cũ
khỏi chum – không phải của mình hay của người, chỉ là việc giữ
gìn.
Trong đi, đứng, ngồi, nằm; ngủ, thức; nói, im lặng: Ai sau khi đi hay kinh
hành lâu, rồi đứng lại và quán rằng: “Các pháp danh–sắc khởi lên
khi đi nay đã diệt ngay tại đây” – người ấy là tỉnh giác trong
khi đi.
Tương tự cho đứng, ngồi, nằm, ngủ–thức, nói, im lặng: biết rõ các pháp
sinh trong thời điểm ấy đã diệt ngay tại chỗ. Khi có sắc làm
duyên thì gọi là nói, khi không có thì gọi là im lặng.
Như vậy, tỉnh giác không mê lầm được hiểu theo từng trường hợp.
Trong bài kinh này, tỉnh giác xen lẫn Tứ Niệm Xứ được giảng là
phần chuẩn bị tiên khởi (pubbabhāga).
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tương Ưng Niệm Xứ (a)
I. Phẩm Ambapàli
2. II. Chánh Niệm (Tạp 24,6-7, Ðại 2,171b)
(S.v,142)
1) Một thời Thế Tôn ở Vesàli, tại rừng Ambapàli.
2) Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo...
3) -- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải trú chánh niệm, tỉnh
giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm? Ở đây,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... quán thọ trên
các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt
tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Ở đây,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui, đều tỉnh giác;
khi nhìn tới, khi nhìn lui, đều tỉnh giác; khi co cánh tay, duỗi
cánh tay, đều tỉnh giác; khi đắp y Tăng-già-lê, khi mang y bát,
đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai nếm, đều tỉnh giác; khi đi tiểu
tiện, đại tiện, đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức,
nói, im lặng, đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là
Tỷ-kheo tỉnh giác.
6) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy chánh niệm, tỉnh giác. Ðây
là lời giáo giới của Ta cho các Ông.