BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 20 tháng 01, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 47. Tương Ưng Niệm Xứ - Ambapāli- SN 47.6, SN 47.7
Bài 594. ĐÂU MỚI LÀ CHỐN YÊN BÌNH? -
Kinh Chim Ưng (Sakuṇagghisuttaṃ), Kinh Con Khỉ (Makkaṭasuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-594.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Trong Kinh Diều Hâu, chim cút nhỏ bé nhưng thoát chết vì quay về đúng môi trường của nó; còn kẻ săn mồi mạnh mẽ lại tự diệt vì xâm nhập vào nơi không thuộc phạm vi của mình. Đây là một ẩn dụ sâu sắc cho đời sống tâm linh: khi tâm rời bốn niệm xứ để chạy theo năm dục, dù có trí hay có công phu, cũng dễ rơi vào tai họa. Kinh Con Khỉ bổ sung một góc nhìn khác: tham ái có tính chất tích lũy và trói buộc dần dần. Con khỉ không bị bắt ngay lập tức, mà bị mắc bẫy từng bước: từ một tay, sang tay kia, rồi chân, rồi miệng. Điều này phản ánh rất chính xác tiến trình tâm lý của con người khi thiếu chánh niệm: mỗi lần “chạm” với dục lạc mà không tỉnh thức, sự ràng buộc lại sâu thêm một tầng. Đến khi muốn thoát ra, thì đã bị trói buộc toàn diện. Do đó, tu tập không phải là mở rộng địa hạt kinh nghiệm, cũng không phải thử sức ở mọi cảnh giới, mà là quay về, ở yên và thuần thục nơi chánh niệm. Khi tâm ở đúng chỗ của mình, Ma vương không có cửa xâm nhập.

Kinh Văn

Kinh Chim Ưng (Sakuṇagghisuttaṃ)

372. “bhūtapubbaṃ, bhikkhave, sakuṇagghi lāpaṃ sakuṇaṃ sahasā ajjhappattā aggahesi. atha kho, bhikkhave, lāpo sakuṇo sakuṇagghiyā hariyamāno evaṃ paridevasi — ‘mayamevamha {mayamevāmha (ka.)} alakkhikā, mayaṃ appapuññā, ye mayaṃ agocare carimha paravisaye. sacejja mayaṃ gocare careyyāma sake pettike visaye, na myāyaṃ {na cāyaṃ (sī.)}, sakuṇagghi, alaṃ abhavissa, yadidaṃ — yuddhāyā’ti. ‘ko pana te, lāpa, gocaro sako pettiko visayo’ti? ‘yadidaṃ — naṅgalakaṭṭhakaraṇaṃ leḍḍuṭṭhānan’”ti.
“atha kho, bhikkhave, sakuṇagghi sake bale apatthaddhā sake bale asaṃvadamānā {avacamānā (sī.)} lāpaṃ sakuṇaṃ pamuñci — ‘gaccha kho tvaṃ, lāpa, tatrapi me gantvā na mokkhasī’”ti. “atha kho, bhikkhave, lāpo sakuṇo naṅgalakaṭṭhakaraṇaṃ leḍḍuṭṭhānaṃ gantvā mahantaṃ leḍḍuṃ abhiruhitvā sakuṇagghiṃ vadamāno aṭṭhāsi -- ‘ehi kho dāni me, sakuṇagghi, ehi kho dāni me, sakuṇagghī’ti. atha kho sā, bhikkhave, sakuṇagghi sake bale apatthaddhā sake bale asaṃvadamānā ubho pakkhe sannayha {sandhāya (sī. syā.)} lāpaṃ sakuṇaṃ sahasā ajjhappattā. yadā kho, bhikkhave, aññāsi lāpo sakuṇo ‘bahuāgato kho myāyaṃ sakuṇagghī’ti, atha tasseva leḍḍussa antaraṃ paccupādi. atha kho, bhikkhave, sakuṇagghi tattheva uraṃ paccatāḷesi. evañhi taṃ {evaṃ hetaṃ (sī.)}, bhikkhave, hoti yo agocare carati paravisaye. “tasmātiha, bhikkhave, mā agocare carittha paravisaye. agocare, bhikkhave, carataṃ paravisaye lacchati māro otāraṃ, lacchati māro ārammaṇaṃ. ko ca, bhikkhave, bhikkhuno agocaro paravisayo? yadidaṃ-- pañca kāmaguṇā. katame pañca? cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā ... pe ... ghānaviññeyyā gandhā... jivhāviññeyyā rasā... kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā — ayaṃ, bhikkhave, bhikkhuno agocaro paravisayo. “gocare, bhikkhave, caratha sake pettike visaye. gocare, bhikkhave, carataṃ sake pettike visaye na lacchati māro otāraṃ, na lacchati māro ārammaṇaṃ. ko ca, bhikkhave, bhikkhuno gocaro sako pettiko visayo? yadidaṃ — cattāro satipaṭṭhānā. katame cattāro? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ — ayaṃ, bhikkhave, bhikkhuno gocaro sako pettiko visayo”ti. chaṭṭhaṃ.

“Này các Tỳ khưu, thuở xưa có một con diều hâu đột ngột lao xuống và chụp lấy một con chim cút. Rồi trong khi con chim cút bị con diều hâu mang đi, nó than vãn: ‘Chúng ta thật bất hạnh, thật ít phước đức! Chúng ta đã rời khỏi lãnh địa của chính mình để đi vào lãnh địa của kẻ khác. Nếu hôm nay chúng ta ở lại trong lãnh địa của chính mình, trong lãnh địa tổ tiên của mình, thì con diều hâu này đã không có cơ hội chống lại ta trong một cuộc chiến.’ – ‘Nhưng lãnh địa của ngươi là gì, hỡi chim cút, lãnh địa tổ tiên của ngươi là gì?’ – ‘Cánh đồng mới cày xới, phủ đầy những cục đất.’

Rồi con diều hâu, tự tin vào sức mạnh của chính mình, không khoe khoang về sức mạnh của chính mình, thả con chim cút ra, nói: ‘Bây giờ hãy đi đi, hỡi chim cút, nhưng ngay cả ở đó ngươi cũng sẽ không thoát khỏi ta.’

Rồi, này các Tỳ khưu, con chim cút đi đến một cánh đồng mới cày xới phủ đầy những cục đất. Leo lên một cục đất lớn, nó đứng đó và nói với con diều hâu: ‘Bây giờ hãy đến bắt ta đi, hỡi diều hâu! Bây giờ hãy đến bắt ta đi, hỡi diều hâu!’

Rồi con diều hâu, tự tin vào sức mạnh của chính mình, không khoe khoang về sức mạnh của chính mình, thu gọn cả hai cánh và đột ngột lao xuống con chim cút. Nhưng khi con chim cút biết ‘Con diều hâu kia đã đến gần’, nó chui vào trong cục đất đó, và con diều hâu đập vỡ ngực mình ngay tại chỗ. Như vậy là, này các Tỳ khưu, khi một người rời khỏi lãnh địa của chính mình để đi vào lãnh địa của kẻ khác.

Do vậy, này các Tỳ khưu, đừng rời khỏi lãnh địa của chính các ngươi để đi vào lãnh địa của kẻ khác. Ma vương sẽ tiếp cận được những ai rời khỏi lãnh địa của chính mình để đi vào lãnh địa của kẻ khác; Ma vương sẽ nắm giữ được họ.

Và cái gì không phải là lãnh địa của một Tỳ khưu mà là lãnh địa của kẻ khác? Đó là năm dục trưởng dưỡng. Năm cái gì? Các sắc được nhận biết bởi mắt, khả ái, hấp dẫn, dễ chịu, gây thích thú, gợi cảm, tác động dục vọng. Các âm thanh được nhận biết bởi tai… Các mùi được nhận biết bởi mũi… Các vị được nhận biết bởi lưỡi… Các xúc chạm được nhận biết bởi thân, nhận biết bởi mắt, khả ái, hấp dẫn, dễ chịu, gây thích thú, gợi cảm, tác động dục vọng. Đây là cái không phải là lãnh địa của một Tỳ khưu mà là lãnh địa của kẻ khác.

Hãy lưu trú trong lãnh địa của chính mình, này các Tỳ khưu, trong lãnh địa tổ tiên của chính mình. Ma vương sẽ không tiếp cận được những ai lưu trú trong lãnh địa của chính mình, trong lãnh địa tổ tiên của chính mình; Ma vương sẽ không nắm giữ được họ.

Và cái gì là lãnh địa của một Tỳ khưu, lãnh địa tổ tiên của ông ấy? Đó là bốn niệm xứ. Bốn cái gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu trú quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác rõ ràng, chánh niệm, đoạn trừ tham ái và bất mãn đối với thế gian. Ông trú quán thọ trên các thọ… trú quán tâm trên tâm… trú quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác rõ ràng, chánh niệm, đọan trừ tham ái và bất mãn đối với thế gian. Đây là lãnh địa của một Tỳ khưu, lãnh địa tổ tiên của ông ấy.”

Kinh Con Khỉ (Makkaṭasuttaṃ) 

373. “atthi, bhikkhave, himavato pabbatarājassa duggā visamā desā, yattha neva makkaṭānaṃ cārī na manussānaṃ. atthi, bhikkhave, himavato pabbatarājassa duggā visamā desā, yattha makkaṭānañhi kho cārī, na manussānaṃ. atthi, bhikkhave, himavato pabbatarājassa samā bhūmibhāgā ramaṇīyā, yattha makkaṭānañceva cārī manussānañca. tatra, bhikkhave, luddā makkaṭavīthīsu lepaṃ oḍḍenti makkaṭānaṃ bādhanāya.
“tatra, bhikkhave, ye te makkaṭā abālajātikā alolajātikā, te taṃ lepaṃ disvā ārakā parivajjanti. yo pana so hoti makkaṭo bālajātiko lolajātiko, so taṃ lepaṃ upasaṅkamitvā hatthena gaṇhāti. so tattha bajjhati. ‘hatthaṃ mocessāmī’ti dutiyena hatthena gaṇhāti. so tattha bajjhati. ‘ubho hatthe mocessāmī’ti pādena gaṇhāti. so tattha bajjhati. ‘ubho hatthe mocessāmi pādañcā’ti dutiyena pādena gaṇhāti. so tattha bajjhati.
‘ubho hatthe mocessāmi pāde cā’ti tuṇḍena gaṇhāti. so tattha bajjhati. evañhi so, bhikkhave, makkaṭo pañcoḍḍito thunaṃ seti anayaṃ āpanno byasanaṃ āpanno yathākāmakaraṇīyo luddassa. tamenaṃ, bhikkhave, luddo vijjhitvā tasmiṃyeva kaṭṭhakataṅgāre {tasmiṃyeva makkaṭaṃ uddharitvā (sī. syā.)} avassajjetvā yena kāmaṃ pakkamati. evaṃ so taṃ, bhikkhave, hoti yo agocare carati paravisaye.
“tasmātiha, bhikkhave, mā agocare carittha paravisaye. agocare, bhikkhave, carataṃ paravisaye lacchati māro otāraṃ, lacchati māro ārammaṇaṃ. ko ca, bhikkhave, bhikkhuno agocaro paravisayo? yadidaṃ — pañca kāmaguṇā. katame pañca? cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā ... pe ... ghānaviññeyyā gandhā... jivhāviññeyyā rasā... kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. ayaṃ, bhikkhave, bhikkhuno agocaro paravisayo.
“gocare, bhikkhave, caratha sake pettike visaye. gocare, bhikkhave, carataṃ sake pettike visaye na lacchati māro otāraṃ, na lacchati māro ārammaṇaṃ. ko ca, bhikkhave, bhikkhuno gocaro sako pettiko visayo? yadidaṃ — cattāro satipaṭṭhānā. katame cattāro? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. ayaṃ, bhikkhave, bhikkhuno gocaro sako pettiko visayo”ti. sattamaṃ.

“Này các Tỳ khưu, ở dãy Hy Mã Lạp Sơn, vị vua của các ngọn núi, có những vùng gồ ghề và không bằng phẳng nơi mà cả khỉ lẫn con người đều không thể đi tới; có những vùng gồ ghề và không bằng phẳng nơi khỉ có thể đi tới nhưng con người không thể; có những vùng bằng phẳng và dễ chịu nơi cả khỉ lẫn con người đều có thể đi tới. Ở đó, dọc theo các lối đi của khỉ, những người săn đặt bẫy nhựa thông để bắt khỉ.

Những con khỉ nào không ngu si và không buông thả, khi thấy nhựa thông, chúng tránh xa từ đằng xa. Nhưng một con khỉ ngu si và phù phiếm tiếp cận nhựa thông và nắm lấy nó bằng tay; nó bị kẹt ở đó. Nghĩ rằng ‘Ta sẽ giải thoát tay ta’, nó nắm lấy bằng tay kia; nó bị kẹt ở đó. Nghĩ rằng ‘Ta sẽ giải thoát cả hai tay’, nó nắm lấy bằng chân; nó bị kẹt ở đó. Nghĩ rằng ‘Ta sẽ giải thoát cả hai tay và chân’, nó nắm lấy bằng chân kia; nó bị kẹt ở đó. Nghĩ rằng ‘Ta sẽ giải thoát cả hai tay và hai chân’, nó áp mõm vào đó; nó bị kẹt ở đó.

Như vậy, này các Tỳ khưu, con khỉ ấy, bị kẹt ở năm điểm, nằm đó kêu la thảm thiết. Nó đã gặp tai ương và tai họa, và người săn có thể làm gì với nó tùy ý.  Người săn đâm giáo vào nó, buộc nó vào cùng khúc gỗ đó, và đi đến nơi mình muốn. Như vậy là, này các Tỳ khưu, khi một người rời khỏi lãnh địa của chính mình để đi vào lãnh địa của kẻ khác.

Do vậy, này các Tỳ khưu, đừng rời khỏi lãnh địa của chính các ngươi để đi vào lãnh địa của kẻ khác. Ma vương sẽ tiếp cận được những ai rời khỏi lãnh địa của chính mình để đi vào lãnh địa của kẻ khác; Ma vương sẽ nắm giữ được họ.

Và cái gì không phải là lãnh địa của một Tỳ khưu mà là lãnh địa của kẻ khác? Đó là năm dục trưởng dưỡng…. (như trên) … Đây là cái không phải là lãnh địa của một Tỳ khưu mà là lãnh địa của kẻ khác.

Hãy lưu trú trong lãnh địa của chính mình, này các Tỳ khưu, trong lãnh địa tổ tiên của chính mình. Ma vương sẽ không tiếp cận được những ai lưu trú trong lãnh địa của chính mình, trong lãnh địa tổ tiên của chính mình; Ma vương sẽ không nắm giữ được họ.

Và cái gì là lãnh địa của một Tỳ khưu, lãnh địa tổ tiên của ông ấy? Đó là bốn niệm xứ. Bốn cái gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu trú quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác rõ ràng, chánh niệm, đã loại bỏ tham ái và bất mãn đối với thế gian. Ông trú quán thọ trên các thọ… trú quán tâm trên tâm… trú quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác rõ ràng, chánh niệm, đã loại bỏ tham ái và bất mãn đối với thế gian. Đây là lãnh địa của một Tỳ khưu, lãnh địa tổ tiên của ông ấy.”

Chú Thích

Hai bài kinh Diều Hâu và Con Khỉ tuy dùng hai hình ảnh khác nhau, nhưng cùng chỉ ra một nguyên lý tu tập cốt lõi: sự an toàn và giải thoát của hành giả không nằm ở sức mạnh hay sự lanh lợi, mà nằm ở việc biết rõ “chỗ trú của mình.”. Do vậy gom chung thành một bài học.

Sakuṇagghī là diều hâu, chim săn mồi (sena).Mặc dù từ sakuṇagghi trong Pāli là giống cái, điều này không nhất thiết hàm ý rằng con diều hâu trong câu chuyện là chim mái.

Dụ ngôn diều hâu và chim cút cũng được kể trong Sakuṇagghi Jātaka (Tiền thân số 168; Jā II 58–59), trong đó Bồ-tát là chim cút và Devadatta là diều hâu.

Chỗ trú của mình: thửa ruộng mới cày, nhiều cục đất – ẩn dụ cho bốn niệm xứ.

Lãnh địa của kẻ khác: nơi trống trải – ẩn dụ cho năm dục trưởng dưỡng.

Chim cút thoát nạn nhờ biết rõ chỗ an toàn của mình, còn diều hâu bại vong vì lao vào nơi không thuộc sở trường.

Nhựa dính (lepa): bẫy của thợ săn – ẩn dụ cho năm dục.

Bị dính năm chỗ (pañcoḍḍita): tay, tay, chân, chân, miệng – tượng trưng cho năm căn bị trói buộc.

Khỉ ngu si: do buông lung, càng vùng vẫy càng bị trói chặt.

Bài kinh nhấn mạnh: tham ái sinh khởi từ tiếp xúc không chánh niệm.

Sớ Giải

372. chaṭṭhe sakuṇagghīti sakuṇaṃ hanatīti sakuṇagghi, senassetaṃ adhivacanaṃ. sahasā ajjhapattāti lobhasāhasena pattā. alakkhikāti nissirikā. appapuññāti parittapuññā.
sacejja mayanti sace ajja mayaṃ. naṅgalakaṭṭhakaraṇanti naṅgalena kasikaraṇaṃ, adhunā kaṭṭhaṃ khettaṭṭhānanti attho.  leḍḍuṭṭhānanti leḍḍūnaṃ ṭhānaṃ. saṃvadamānāti sammā vadamānā, attano balassa suṭṭhu vaṇṇaṃ vadamānāti attho. mahantaṃ leḍḍuṃ abhiruhitvāti uddhanasaṇṭhānena ṭhitesu tīsu leḍḍūsu “ito sene āgacchante ito nikkhamissāmi, ito āgacchante ito”ti  sallakkhetvā tesu ekaṃ leḍḍuṃ abhiruhitvā aṭṭhāsi avadamāno. 
sannayhāti khurappaṃ sannayhamāno viya sannayhitvā suṭṭhu  ṭhapetvā. bahuāgato kho myāyanti “mayhaṃ atthāya ayaṃ bahutaṃ  ṭhānaṃ āgato, appaṃ avasiṭṭhaṃ, idāni maṃ gaṇhissatī”ti ñatvā  dāruguḷo viya vinivattitvā tasseva leḍḍussa antare paccupādi,  paṭipanno paviṭṭhoti attho. 
uraṃ paccatāḷesīti “ekappahāreneva lāpassa sīsaṃ chinditvā gahessāmī”ti pakkhandattā vegaṃ sandhāretuṃ asakkonto tasmiṃ leḍḍusmiṃ uraṃ patāḷesi. tāvadevassa hadayamaṃsaṃ phāliyittha.  atha lāpo “diṭṭhā vata sattuno piṭṭhī”ti haṭṭhatuṭṭho  tassa hadaye aparāparaṃ caṅkami.

372.
Trong bài kinh thứ sáu, từ sakuṇagghī được giải thích là “kẻ giết chim” (sakuṇaṃ hanatīti sakuṇagghī); đây là tên gọi khác của chim ưng (sena).

Cụm sahasā ajjhapattā nghĩa là “bất chợt ập đến”, tức là bị cuốn đến do sự liều lĩnh của tham ái (lobha-sāhasena pattā).

Từ alakkhikā có nghĩa là kém phước, bất hạnh, thiếu may mắn (nissirikā).
Từ appapuññā nghĩa là ít phước đức (paritta-puññā).

Cụm sacejja mayan có nghĩa là “nếu hôm nay chúng ta…” (sace ajja mayaṃ).

Cụm naṅgalakaṭṭhakaraṇaṃ nghĩa là việc cày ruộng bằng cày, tức là một thửa ruộng vừa mới được cày xới, hiện còn những khúc đất gồ ghề (adhunā kaṭṭhaṃ khettaṭṭhānaṃ).

Leḍḍuṭṭhānaṃ nghĩa là nơi có các luống đất (leḍḍūnaṃ ṭhānaṃ).

Saṃvadamānā được giải thích là nói đúng mực nhưng theo nghĩa khoe khoang, tức là ca ngợi, tán dương sức mạnh của chính mình một cách kỹ lưỡng (attano balassa suṭṭhu vaṇṇaṃ vadamānā).

Cụm mahantaṃ leḍḍuṃ abhiruhitvā có nghĩa là: chim cút quan sát ba cục đất lớn đứng nhô cao như những bệ đỡ (uddhana-saṇṭhānena ṭhitesu tīsu leḍḍūsu), rồi tính toán rằng: “Nếu chim ưng đến từ phía này, ta sẽ thoát ra hướng kia;
nếu nó đến từ hướng kia, ta sẽ thoát theo hướng này,” sau khi quan sát như vậy, leo lên một trong các cục đất ấy, đứng yên và lên tiếng thách thức.

Sannayhāti nghĩa là chuẩn bị sẵn sàng, dàn thế thật vững, giống như chuẩn bị mũi tên nhọn (khurappa), tức là xếp cánh, giữ thế và lấy đà chắc chắn.

Cụm bahu āgato kho myāyaṃ được hiểu chim cút biết rằng: “Con này vì ta mà đã bay đến một quãng rất xa, sức lực của nó đã hao hụt nhiều, bây giờ nó sẽ bắt ta,” nên quay ngoắt lại thật nhanh, giống như một viên bi gỗ, rồi chui ngay vào bên trong chính cục đất ấy. Ý nghĩa là: tiến vào và ẩn sâu bên trong (paṭipanno paviṭṭho).

Uraṃ paccatāḷesi hàm nghĩa chim ưng nghĩ rằng: “Chỉ cần một cú lao xuống là ta sẽ chặt đứt đầu con chim cút và bắt được nó,” nên lao xuống với vận tốc lớn; nhưng vì không thể kìm giữ được đà, nó đã đập mạnh ngực mình vào cục đất ấy.

Ngay lập tức, tim và thịt tim của nó bị vỡ toác ra (tāvadeva assa hadaya-maṃsaṃ phāliyittha).

Bấy giờ, chim cút nghĩ rằng:“Quả thật ta đã thấy được lưng của kẻ thù,” rồi  vui mừng, và đi đi lại lại trên chính trái tim của con diều hâu (tassa hadaye aparāparaṃ caṅkami).

makkaṭasuttavaṇṇanā

373. sattame duggāti duggamā. cārīti sañcāro. lepaṃ oḍḍentīti vaṭarukkhakhīrādīhi yojetvā lepaṃ karonti, taṃ makkaṭānaṃ dhuvagamanaṭṭhānanti sallakkhetvā rukkhasākhādīsu ṭhapenti. pañcoḍḍitoti pañcasu ṭhānesu kājadaṇḍakaṃ pavesetvā gahetabbā kājasikkā viya oḍḍito. thunaṃ setīti thunanto sayati.

373.
Trong bài kinh thứ bảy, duggā có nghĩa là khó đi, hiểm trở (duggamā).

Cārī có nghĩa là sự đi lại, sự di chuyển (sañcāro).

Cụm lepaṃ oḍḍenti nghĩa là phết nhựa dính: họ lấy nhựa cây đa và các loại nhựa cây khác trộn lại để làm chất dính, rồi nhận biết đó là nơi bầy khỉ thường xuyên qua lại, nên đặt chất nhựa ấy trên cành cây, nhánh cây v.v.

Pañcoḍḍito nghĩa là bị dính ở năm chỗ: giống như một chiếc túi tre (kājasikkā) phải luồn năm thanh tre nhỏ vào năm vị trí để xách, con khỉ cũng vậy, bị mắc kẹt do năm điểm tiếp xúc.

Thunaṃ seti nghĩa là nằm đó rên rỉ, than thở (thunanto sayati).

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

VI. Phẩm Tổng Nhiếp Giác Chi

6. VI. Con Chim Ưng (Sakunagghi) (Tạp 24,15, Ðại 2,172c) (S.v,146)

1-2)...

3) -- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, một con chim ưng cái thình lình vồ xuống và chụp lấy một con chim cút.

4) Rồi này các Tỷ-kheo, con chim cút bị con chim ưng cái bắt, than khóc như sau:

"-- Như thế này, thật bất hạnh cho tôi! Thật thiếu công đức cho tôi! Vì rằng tôi đã đi không phải chỗ hành xứ của mình, đi vào cảnh giới của người khác. Nếu tôi đi trong chỗ hành xứ của tôi, trong cảnh giới của cha mẹ tôi, thời con chim ưng này không thể hơn tôi, nếu phải đánh nhau".

"-- Này Chim cút, thế nào là chỗ hành xứ của ngươi, thế nào là cảnh giới của cha mẹ ngươi?"

-- "Là vạt đất được lưỡi cày xới lên".

5) Rồi này các Tỷ-kheo, con chim ưng cái không có siết mạnh sức mạnh của mình, không có bóp chặt sức mạnh của mình, thả con chim cút rồi nói:

-- "Hãy đi, này Chim cút. Sau khi đi tại chỗ ấy, ta sẽ không thả cho ngươi".

6) Rồi này các Tỷ-kheo, con chim cút đi đến vạt đất được lưỡi cày xới lên, leo lên một hòn đất lớn, đứng trên ấy và nói với con chim ưng:

"-- Này, hãy đến ta, Chim ưng! Này, hãy đến ta, này Chim ưng!"

7) Rồi này các Tỷ-kheo, con chim ưng cái siết mạnh sức mạnh của mình, bóp chặt sức mạnh của mình, xếp cả hai cánh, thình lình vồ lấy con chim cút. Này các Tỷ-kheo, khi con chim cút biết được: "Con chim ưng này đang vồ mạnh xuống ta", liền nấp sau hòn đất ấy. Này các Tỷ-kheo, ở đây, con chim ưng bị bể ngực.

8) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với ai đi tới chỗ không phải hành xứ của mình, đi đến cảnh giới của người khác. Do vậy, này các Tỷ-kheo, chớ có đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, đi đến cảnh giới của người khác, thời Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối tượng.

9) Này các Tỷ-kheo, chỗ nào không phải hành xứ của Tỷ-kheo? Chỗ nào là cảnh giới của người khác? Chính là năm dục công đức. Thế nào là năm?

10) Có các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Có các tiếng do tai nhận thức... Có các hương do mũi nhận thức... Có các vị do lưỡi nhận thức... Có các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây là chỗ không phải hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của người khác.

11) Này các Tỷ-kheo, hãy đi đến chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ hành xứ của mình, đến cảnh giới của cha mẹ mình, thời Ác ma không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng.

12) Và này các Tỷ-kheo, chỗ nào là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo? Chỗ nào là cảnh giới của cha mẹ? Chính là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?

13) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; trú, quán thọ trên các thọ...; trú, quán tâm trên tâm...; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình.

7. VII. Con Vượn (Tạp 24,18, Ðại 2,173b) (S.v,148)

1-2)...

3) -- Này các Tỷ-kheo, tại núi chúa Tuyết sơn có khoảnh đất gồ ghề, không thăng bằng, chỗ ấy không có các loài vượn, loài người qua lại.

4) Này các Tỷ-kheo, tại núi chúa Tuyết sơn có những khoảng đất ghồ ghề, không bằng phẳng, chỗ ấy chỉ có loài vượn qua lại, không có loài người.

5) Tại núi chúa Tuyết sơn, có những khoảnh đất bằng phẳng, khả ái. Tại chỗ ấy có các loài vượn và loài người qua lại. Tại đấy, này các Tỷ-kheo, những người thợ săn đặt các bẫy nhựa (lepam) trên những con đường có vượn qua lại để bắt các con vượn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, những con vượn nào tánh không ngu si, không tham ăn, thấy bẫy nhựa ấy liền tránh xa. Còn con vượn nào ngu si, tham ăn, thấy bẫy nhựa ấy, thò tay nắm lấy và bị dính vào đấy. "Ta sẽ gỡ bàn tay ra", nó thò bàn tay thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. "Ta sẽ gỡ hai tay ra", nó giơ chân nắm lấy và bị dính ở đấy. "Ta sẽ gỡ hai bàn tay và bàn chân ra", nó giơ bàn chân thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. "Ta sẽ gỡ cả hai tay và hai chân", nó dùng miệng ngậm lấy và bị mắc dính ở đấy.

6) Như vậy, này các Tỷ-kheo, con vượn bị bắt năm chỗ, liền rên la nằm xuống, rơi vào bất hạnh, rơi vào khổ não, bị người thợ săn muốn làm gì thì làm. Này các Tỷ-kheo, người thợ săn đâm chết nó, nướng nó trên đống than củi, và ra đi, theo sở thích của mình.

7) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, là người đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác, Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối tượng.

8) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không phải chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của người khác? Tức là năm dục công đức. Thế nào là năm?

9) Các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn... Các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây không phải là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, là chỗ cảnh giới của người khác.

10) Này các Tỷ-kheo, hãy đi đến chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ hành xứ của mình, đến chỗ cảnh giới của cha mẹ mình, Ác ma không nắm được cơ hội, Ác ma không nắm được đối tượng.

11) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành xứ của Tỷ-kheo, là cảnh giới của cha mẹ mình? Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?

12) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời...; trú, quán thọ trên các cảm thọ...; trú, quán tâm trên tâm...; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình.