BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 24 tháng 01, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 47. Tương Ưng Niệm Xứ - Ambapāli- SN 47.9
Bài 597. HAI PHƯƠNG CÁCH, MỘT PHÁP TU -
Kinh Trú Xứ Tỳ Khưu Ni (Bhikkhunupassayasuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-597.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Trong tiến trình ấy, hành giả không tránh khỏi những chướng ngại như phiền não, hôn trầm và phóng dật, nhưng đây là thực tại tự nhiên của tu tập chứ không phải dấu hiệu thất bại. Khi các chướng ngại khởi lên, Đức Phật dạy có thể linh hoạt sử dụng phương pháp hướng tâm đến đối tượng gây sanh tín tâm để điều phục và làm mềm tâm, rồi quay lại thiền án chính. Khi sự hành trì đã thuần thục, hành giả có thể tu tập không cần hướng tâm, an trú liên tục trên đề mục mà không bị gián đoạn. Hai phương thức tu tập này không đối lập mà bổ trợ cho nhau, tùy theo căn cơ và mức độ chín muồi của người tu. Trong cả hai trường hợp, bốn niệm xứ vẫn là nền tảng xuyên suốt, dẫn dắt từ giai đoạn sơ khởi cho đến giải thoát.

Kinh Văn

376. atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena aññataro bhikkhunupassayo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. atha kho sambahulā bhikkhuniyo yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitā āyasmantaṃ ānandaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. ekamanaṃ nisinnā kho tā bhikkhuniyo āyasmantaṃ ānandaṃ etadavocuṃ —“idha, bhante ānanda, sambahulā bhikkhuniyo catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacittā {supaṭṭhitacittā (sī. pī. ka.)} viharantiyo uḷāraṃ pubbenāparaṃ visesaṃ sañjānantī”ti {sampajānantīti (ka.)} . “evametaṃ, bhaginiyo, evametaṃ, bhaginiyo! yo hi koci, bhaginiyo, bhikkhu vā bhikkhunī vā catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacitto viharati, tassetaṃ pāṭikaṅkhaṃ — ‘uḷāraṃ pubbenāparaṃ visesaṃ sañjānissatī’”ti.
atha kho āyasmā ānando tā bhikkhuniyo dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṃsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi. atha kho āyasmā ānando sāvatthiyaṃ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkamiṃ; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃ. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṃ etadavoca — “idhāhaṃ, bhante, pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādā a yena aññataro bhikkhunupassayo tenupasaṅkamiṃ; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṃ. atha kho, bhante, sambahulā bhikkhuniyo yenāhaṃ tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā maṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. ekamantaṃ nisinnā kho, bhante, tā bhikkhuniyo maṃ etadavocuṃ —‘idha, bhante ānanda, sambahulā bhikkhuniyo catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacittā viharantiyo uḷāraṃ pubbenāparaṃ visesaṃ sañjānantī’ti. evaṃ vuttāhaṃ, bhante, tā bhikkhuniyo etadavocaṃ — ‘evametaṃ, bhaginiyo, evametaṃ, bhaginiyo! yo hi koci, bhaginiyo, bhikkhu vā bhikkhunī vā catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacitto viharati, tassetaṃ pāṭikaṅkhaṃ — uḷāraṃ pubbenāparaṃ visesaṃ sañjānissatī’”ti.
“evametaṃ, ānanda, evametaṃ, ānanda! yo hi koci, ānanda, bhikkhu vā bhikkhunī vā catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacitto viharati, tassetaṃ pāṭikaṅkhaṃ — ‘uḷāraṃ pubbenāparaṃ visesaṃ sañjānissati’” {sañjānissatīti (bahūsu)} .
“katamesu catūsu? idhānanda, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. tassa kāye kāyānupassino viharato kāyārammaṇo vā uppajjati kāyasmiṃ pariḷāho, cetaso vā līnattaṃ, bahiddhā vā cittaṃ vikkhipati. tenānanda {tenahānanda (sī.)}, bhikkhunā kismiñcideva pasādanīye nimitte cittaṃ paṇidahitabbaṃ. tassa kismiñcideva pasādanīye nimitte cittaṃ paṇidahato pāmojjaṃ jāyati. pamuditassa pīti jāyati. pītimanassa kāyo passambhati. passaddhakāyo sukhaṃ vedayati {vediyati (sī.)} . sukhino cittaṃ samādhiyati.
so iti paṭisañcikkhati — ‘yassa khvāhaṃ atthāya cittaṃ paṇidahiṃ, so me attho abhinipphanno. handa, dāni paṭisaṃharāmī’ti. so paṭisaṃharati ceva na ca vitakketi na ca vicāreti. ‘avitakkomhi avicāro, ajjhattaṃ satimā sukhamasmī’ti pajānāti”.
“puna caparaṃ, ānanda, bhikkhu vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. tassa dhammesu dhammānupassino viharato dhammārammaṇo vā uppajjati kāyasmiṃ pariḷāho, cetaso vā līnattaṃ, bahiddhā vā cittaṃ vikkhipati. tenānanda, bhikkhunā kismiñcideva pasādanīye nimitte cittaṃ paṇidahitabbaṃ. tassa kismiñcideva pasādanīye nimitte cittaṃ paṇidahato pāmojjaṃ jāyati. pamuditassa pīti jāyati. pītimanassa kāyo passambhati.
passaddhakāyo sukhaṃ vedayati. sukhino cittaṃ samādhiyati. so iti paṭisañcikkhati — ‘yassa khvāhaṃ atthāya cittaṃ paṇidahiṃ, so me attho abhinipphanno. handa, dāni paṭisaṃharāmī’ti. so paṭisaṃharati ceva na ca vitakketi na ca vicāreti. ‘avitakkomhi avicāro, ajjhattaṃ satimā sukhamasmī’ti pajānāti. evaṃ kho, ānanda, paṇidhāya bhāvanā hoti.
“kathañcānanda, appaṇidhāya bhāvanā hoti? bahiddhā, ānanda, bhikkhu cittaṃ appaṇidhāya ‘appaṇihitaṃ me bahiddhā cittan’ti pajānāti. atha pacchāpure ‘asaṃkhittaṃ vimuttaṃ appaṇihitan’ti pajānāti. atha ca pana ‘kāye kāyānupassī viharāmi ātāpī sampajāno satimā sukhamasmī’ti pajānāti. bahiddhā, ānanda, bhikkhu cittaṃ appaṇidhāya ‘appaṇihitaṃ me bahiddhā cittan’ti pajānāti. atha pacchāpure ‘asaṃkhittaṃ vimuttaṃ appaṇihitan’ti pajānāti. atha ca pana ‘vedanāsu vedanānupassī viharāmi ātāpī sampajāno satimā sukhamasmī’ti pajānāti. bahiddhā, ānanda, bhikkhu cittaṃ appaṇidhāya ‘appaṇihitaṃ me bahiddhā cittan’ti pajānāti. atha pacchāpure ‘asaṃkhittaṃ vimuttaṃ appaṇihitan’ti pajānāti. atha ca pana ‘citte cittānupassī viharāmi ātāpī sampajāno satimā sukhamasmī’ti pajānāti. bahiddhā, ānanda, bhikkhu cittaṃ appaṇidhāya ‘appaṇihitaṃ me bahiddhā cittan’ti pajānāti. atha pacchāpure ‘asaṃkhittaṃ vimuttaṃ appaṇihitan’ti pajānāti. atha ca pana ‘dhammesu dhammānupassī viharāmi ātāpī sampajāno satimā sukhamasmī’ti pajānāti. evaṃ kho, ānanda, appaṇidhāya bhāvanā hoti.
“iti kho, ānanda, desitā mayā paṇidhāya bhāvanā, desitā appaṇidhāya bhāvanā. yaṃ, ānanda, satthārā karaṇīyaṃ sāvakānaṃ hitesinā anukampakena anukampaṃ upādāya, kataṃ vo taṃ mayā. etāni, ānanda, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni! jhāyathānanda, mā pamādattha; mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha! ayaṃ vo amhākaṃ anusāsanī”ti.
idamavoca bhagavā. attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṃ abhinandīti. dasamaṃ.

Bấy giờ vào buổi sáng, Tôn giả Ānanda đắp y, mang theo bát và y, đi đến tịnh xá ni chúng, ngồi xuống chỗ đã được soạn sẵn. Lúc ấy một số tỳ-khưu-ni đi đến  Tôn giả Ānanda, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và bạch rằng:
“Bạch Tôn giả Ānanda, ở đây có nhiều tỳ-khưu-ni, an trú với tâm được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ, đã lần lượt chứng tri những tầng bậc thù thắng ngày càng cao hơn.”
“Đúng vậy, thưa các hiền tỷ, đúng là như vậy! Có thể trông đợi nơi bất cứ ai—dù là tỳ-khưu hay tỳ-khưu-ni —nếu an trú với tâm được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ, người ấy sẽ lần lượt chứng tri những tầng bậc thù thắng ngày càng cao hơn.”
Rồi Tôn giả Ānanda thuyết pháp, giáo giới, khích lệ và làm hoan hỷ các tỳ-khưu-ni ấy; sau đó Ngài đứng dậy rời chỗ ngồi.
Sau đó Tôn giả Ānanda đi khất thực tại Sāvatthī. Sau khi trở về từ cuộc khất thực và dùng xong bữa ăn, Ngài  đi đến Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và trình bày đầy đủ sự việc đã xảy ra.
[Đức Thế Tôn dạy:]
“Đúng vậy, Ānanda, đúng là như vậy! Có thể trông đợi nơi bất cứ ai—dù là tỳ-khưu hay tỳ-khưu-ni—nếu an trú với tâm được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ, người ấy sẽ lần lượt chứng tri những tầng bậc thù thắng ngày càng cao hơn.
“Này Ānanda, là bốn pháp ấy là gì? Ở đây, này Ānanda, một tỳ-khưu an trú quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đã đoạn trừ tham ưu đối với đời. Trong khi vị ấy quán thân trên thân, nếu do thân mà sanh lên trong vị ấy hoặc là nhiệt não nơi thân, hoặc tâm trì trệ, hoặc tâm phóng dật hướng ra ngoài, thì tỳ-khưu ấy nên hướng tâm đến một tướng khiến hoan hỷ, phỉ lạc sanh khời. Khi vị ấy hướng tâm đến một tướng khiến hoan hỷ, phỉ lạc sanh khởi; khi phỉ lạc sanh, khi tâm được hỷ nâng đỡ, thân trở nên an tịnh; người có thân an tịnh thì cảm thọ lạc; người có lạc thì tâm được định tĩnh. Vị ấy suy tư như sau: ‘Mục đích vì đó mà ta đã hướng tâm, nay đã được thành tựu. Vậy ta hãy thu hồi tâm lại.’ Rồi vị ấy thu hồi tâm, không còn tầm, không còn tứ, và hiểu rõ: ‘Không tầm, không tứ, nội tâm chánh niệm, ta an lạc.’
“Cũng vậy, một tỳ-khưu an trú quán thọ trên thọ …

quán tâm trên tâm …

quán pháp trên pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đã đoạn trừ tham ưu đối với đời. Trong khi quán pháp trên pháp, nếu do pháp mà sanh lên trong vị ấy hoặc là nhiệt não nơi thân, hoặc tâm trì trệ, hoặc tâm phóng dật hướng ra ngoài, thì vị ấy nên hướng tâm đến một tướng khiến hoan hỷ … Vị ấy hiểu rõ: ‘Không tầm, không tứ, nội tâm chánh niệm, ta an lạc.’
“Như vậy, này Ānanda, gọi là tu tập có hướng tâm.
“Và này Ānanda, thế nào là tu tập không cần hướng tâm? Không hướng tâm ra ngoài, tỳ-khưu hiểu rõ: ‘Tâm ta không hướng ra ngoài.’ .Rồi vị ấy hiểu rõ: ‘Tâm này không bị co thắt trước hay sau, được giải thoát, không hướng đến.’ Rồi vị ấy lại hiểu rõ: ‘Ta an trú quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm; ta an lạc.’ Không hướng tâm ra ngoài, tỳ-khưu hiểu rõ: ‘Tâm ta không hướng ra ngoài.’ Rồi vị ấy hiểu rõ: ‘Tâm này không bị co thắt trước hay sau, được giải thoát, không hướng đến.’
Rồi vị ấy lại hiểu rõ: ‘Ta an trú quán thọ trên thọ, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm; ta an lạc.’ Không hướng tâm ra ngoài, tỳ-khưu hiểu rõ: ‘Tâm ta không hướng ra ngoài.’
Rồi vị ấy hiểu rõ: ‘Tâm này không bị co thắt trước hay sau, được giải thoát, không hướng đến.’
Rồi vị ấy lại hiểu rõ: ‘Ta an trú quán tâm trên tâm, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm; ta an lạc.’ Không hướng tâm ra ngoài, tỳ-khưu hiểu rõ: ‘Tâm ta không hướng ra ngoài.’ Rồi vị ấy hiểu rõ: ‘Tâm này không bị co thắt trước hay sau, được giải thoát, không hướng đến.’
Rồi vị ấy lại hiểu rõ: ‘Ta an trú quán pháp trên pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm; ta an lạc.’…
“Như vậy, này Ānanda, gọi là tu tập không cần hướng tâm.
“Như vậy, này Ānanda, Ta đã dạy tu tập có hướng tâm, Ta đã dạy tu tập không cần hướng tâm. Những gì một vị đạo sư có lòng từ bi, vì thương tưởng đệ tử,  mong cầu lợi ích cho họ, cần phải làm—Ta đã làm cho các Thầy rồi. Đây là gốc cây, này Ānanda; đây là những am thất trống. Hãy hành thiền, này Ānanda, chớ có phóng dật, để rồi về sau phải hối tiếc. Đây là lời giáo huấn của Ta dành cho các Thầy.”
Đó là những lời Thế Tôn đã nói. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ.

Chú Thích

Theo Sớ giải, mệnh đề “uḷāraṃ pubbenāparaṃ visesaṃ sañjānanti (“nhận biết sự sai biệt cao thượng tăng dần theo từng giai đoạn”) hàm nghĩa những tầng bậc thù thắng ngày càng cao” là những giai đoạn tuệ tri nối tiếp nhau, bắt đầu từ tuệ phân biệt bốn đại chủng, cho đến tuệ quán ba tướng (vô thường, khổ, vô ngã) được áp dụng cho tất cả các hành.

Theo Sớ giải, nhiệt não của phiền não (kilesapariḷāha) khởi lên, lấy thân làm nền tảng (đối tượng). Khi điều này xảy ra, hành giả không nên để mình bị kích động bởi phiền não, mà nên hướng tâm đến một tướng làm sanh khởi tín tâm (kismiñcideva pasādaniye nimitte cittaṃ paṇidahitabbaṃ), tức là đặt tâm hành thiền trên một đối tượng gây cảm hứng và niềm tin, như niệm Phật, v.v.

Sau khi tâm an tịnh, hành giả tác ý: “Hãy thu hồi tâm khỏi đối tượng làm sanh khởi tín tâm, và hướng tâm trở lại thiền án ban đầu.”

Tầm và tứ trong bài kinh nầy là cách nói chi tiết của sự hướng tâm.

Paṇidhāya bhāvanā – tu tập bằng cách hướng tâm. Sớ giải chú thích ṭhapetvā bhāvanā là “tu tập sau khi đã đặt xuống (đối tượng ban đầu)”. Sự tu tập theo phương pháp này xảy ra khi hướng tâm rời khỏi đối tượng chính sang một đối tượng khác. Sớ giả ví dụ như một người mang gánh mía đến nhà máy đường, thỉnh thoảng dừng lại, đặt gánh xuống, ăn một khúc mía, rồi tiếp tục lên đường.

Sớ Giải

376. dasame tenupasaṅkamīti tasmiṃ upassaye kammaṭṭhānakammikā bhikkhuniyo atthi, tāsaṃ ussukkāpetvā kammaṭṭhānaṃ kathessāmīti upasaṅkami. uḷāraṃ pubbenāparaṃ visesanti pubbavisesato aparaṃ uḷāravisesaṃ. tattha mahābhūtapariggaho pubbaviseso, upādārūpapariggaho aparaviseso nāma. tathā sakalarūpapariggaho pubbaviseso, arūpapariggaho aparaviseso nāma. rūpārūpapariggaho pubbaviseso, paccayapariggaho aparaviseso nāma sappaccayanāmarūpadassanaṃ pubbaviseso, tilakkhaṇāropanaṃ aparaviseso nāma. evaṃ pubbenāparaṃ uḷāravisesaṃ jānātīti attho.
kāyārammaṇoti yaṃ kāyaṃ anupassati, tameva ārammaṇaṃ katvā uppajjati kilesapariḷāho. bahiddhā vā cittaṃ vikkhipatīti bahiddhā vā puthuttārammaṇe cittuppādo vikkhipati. kismiñcideva pasādanīye nimitte cittaṃ paṇidahitabbanti evaṃ kilesapariḷāhe ca līnatte ca bahiddhāvikkhepe ca uppanne kilesānurañjitena na vattitabbaṃ, kismiñcideva pasādanīye pasādāvahe buddhādīsu aññatarasmiṃ ṭhāne kammaṭṭhānacittaṃ ṭhapetabbaṃ. cittaṃ samādhiyatīti ārammaṇe sammā ādhiyati suṭṭhu ṭhapitaṃ ṭhapiyati. paṭisaṃharāmīti pasādanīyaṭṭhānato paṭisaṃharāmi, mūlakammaṭṭhānābhimukhaṃyeva naṃ karomīti attho. so paṭisaṃharati cevāti mūlakammaṭṭhānābhimukhañca peseti. na ca vitakketi na ca vicāretīti kilesavitakkaṃ na vitakketi, kilesavicāraṃ na vicāreti. avitakkomhi avicāroti kilesavitakkavicārehi avitakkāvicāro. ajjhattaṃ satimā sukhamasmīti gocarajjhatte pavattāya satiyā “satimāhamasmi sukhito cā”ti pajānāti.
evaṃ kho, ānanda, paṇidhāya bhāvanā hotīti evaṃ, ānanda, ṭhapetvā bhāvanā hoti. imassa hi bhikkhuno yathā nāma purisassa mahantaṃ ucchubhāraṃ ukkhipitvā yantasālaṃ nentassa kilantakilantakāle bhūmiyaṃ ṭhapetvā ucchukhaṇḍaṃ khāditvā puna ukkhipitvā gamanaṃ hoti; evameva arahattaṃ pāpuṇituṃ uggahitakammaṭṭhānassa kāyapariḷāhādīsu uppannesu taṃ kammaṭṭhānaṃ ṭhapetvā buddhaguṇādianussaraṇena cittaṃ pasādetvā kammaniyaṃ katvā bhāvanā pavattā, tasmā “paṇidhāya bhāvanā hotī”ti vuttaṃ. tassa pana purisassa ucchubhāraṃ yantasālaṃ netvā pīḷetvā rasapānaṃ viya imassa bhikkhuno kammaṭṭhānaṃ matthakaṃ pāpetvā arahattaṃ pattassa phalasamāpattisukhānubhavanaṃ veditabbaṃ.
bahiddhāti mūlakammaṭṭhānaṃ pahāya bahi aññasmiṃ ārammaṇe. appaṇidhāyāti aṭṭhapetvā. atha pacchā pure asaṃkhittaṃ vimuttaṃ appaṇihitanti pajānātīti ettha kammaṭṭhānavasena vā sarīravasena vā desanāvasena vā attho veditabbo.
tattha kammaṭṭhāne tāva kammaṭṭhānassa abhiniveso pure nāma, arahattaṃ pacchā nāma. tattha yo bhikkhu mūlakammaṭṭhānaṃ gahetvā kilesapariḷāhassa vā līnattassa vā bahiddhāvikkhepassa vā uppajjituṃ okāsaṃ adento sudantagoṇe yojetvā sārento viya caturassacchidde sutacchitaṃ caturassaghaṭikaṃ pakkhipanto viya vipassanaṃ paṭṭhapetvā atiṭṭhanto alagganto arahattaṃ pāpuṇāti, so puresaṅkhātassa kammaṭṭhānābhinivesassa pacchāsaṅkhātassa arahattassa ca vasena pacchā pure asaṃkhittaṃ vimuttaṃ appaṇihitanti pajānāti nāma.
sarīre pana pādaṅgulīnaṃ aggapabbāni pure nāma, sīsakaṭāhaṃ pacchā nāma. tattha yo bhikkhu pādaṅgulīnaṃ aggapabbāṭṭhikesu abhinivisitvā byābhaṅgiyā yavakalāpaṃ mocento viya vaṇṇasaṇṭhānadisokāsaparicchedavasena aṭṭhīni pariggaṇhanto antarā kilesapariḷāhādīnaṃ uppattiṃ vāretvā yāva sīsakaṭāhā bhāvanaṃ pāpeti, so puresaṅkhātānaṃ aggapādaṅgulipabbānaṃ pacchāsaṅkhātassa sīsakaṭāhassa ca vasena pacchā pure asaṃkhittaṃ vimuttaṃ appaṇihitanti pajānāti nāma.
desanāyapi dvattiṃsākāradesanāya kesā pure nāma, matthaluṅgaṃ pacchā nāma. tattha yo bhikkhu kesesu abhinivisitvā vaṇṇasaṇṭhānadisokāsavasena kesādayo pariggaṇhanto antarā kilesapariḷāhādīnaṃ uppattiṃ vāretvā yāva matthaluṅgā bhāvanaṃ pāpeti. so puresaṅkhātānaṃ kesānaṃ pacchāsaṅkhātassa matthaluṅgassa ca vasena pacchā pure asaṃkhittaṃ vimuttaṃ appaṇihitanti pajānāti nāma.
evaṃ kho, ānanda, appaṇidhāya bhāvanā hotīti evaṃ, ānanda, aṭṭhapetvā bhāvanā hoti. imassa hi bhikkhuno yathā nāma purisassa guḷabhāraṃ labhitvā attano gāmaṃ atiharantassa antarā aṭṭhapetvāva uccaṅge pakkhittāni guḷakhaṇḍādīni khādanīyāni khādantassa attano gāmeyeva otaraṇaṃ hoti, evameva arahattaṃ pāpuṇituṃ āraddhabhāvanassa kāyapariḷāhādīnaṃ uppattiṃ vāretvā kammaṭṭhānabhāvanā pavattā, tasmā “appaṇidhāya bhāvanā”ti vuttā. tassa pana purisassa taṃ guḷabhāraṃ attano gāmaṃ netvā ñātīhi saddhiṃ paribhogo viya imassa bhikkhuno kammaṭṭhānaṃ matthakaṃ pāpetvā arahattaṃ pattassa phalasamāpattisukhānubhavanaṃ veditabbaṃ. imasmiṃ sutte pubbabhāgavipassanā kathitā. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

376. Trong bài kinh thứ mười: tenupasaṅkamīti nghĩa là Ngài đi đến tịnh xá ấy vì ở đó có các Tỳ-khưu-ni làm nhiệm vụ hướng dẫn kammaṭṭhāna  kammaṭṭhānakammikā bhikkhuniyo). Ngài khích lệ họ (ussukkāpetvā) rồi đi đến để thuyết giảng kammaṭṭhāna (thiền án).

uḷāraṃ pubbenāparaṃ visesanti nghĩa là từ sự phân biệt trước (pubbavisesato) đến sự phân biệt cao hơn sau (aparaṃ uḷāravisesaṃ). Ở đây:

  • Sự nắm bắt bốn đại (mahābhūtapariggaho) là sự phân biệt trước (pubbaviseso).
  • Sự nắm bắt sắc sở y (upādārūpapariggaho) là sự phân biệt sau (aparaviseso).

Tương tự:

  • Sự nắm bắt toàn bộ sắc pháp (sakalarūpapariggaho) là trước.
  • Sự nắm bắt vô sắc pháp (arūpapariggaho) là sau.
  • Sự nắm bắt danh-sắc (rūpārūpapariggaho) là trước.
  • Sự nắm bắt duyên (paccayapariggaho) là sau.
  • Sự thấy danh-sắc có duyên (sappaccayanāmarūpadassanaṃ) là trước.
  • Sự quy tam tướng (tilakkhaṇāropanaṃ) là sau.

Như vậy, nghĩa là biết được sự phân biệt cao hơn dần dần từ trước đến sau (pubbenāparaṃ uḷāravisesaṃ jānātīti attho).

kāyārammaṇoti nghĩa là lấy thân đang quán sát làm đối tượng (yaṃ kāyaṃ anupassati, tameva ārammaṇaṃ katvā), từ đó khởi lên cơn sốt phiền não (kilesapariḷāho uppajjati). bahiddhā vā cittaṃ vikkhipatīti nghĩa là tâm tán loạn ra ngoài (bahiddhā puthuttārammaṇe cittuppādo vikkhipati). kismiñcideva pasādanīye nimitte cittaṃ paṇidahitabbanti nghĩa là khi cơn sốt phiền não, tâm uể oải, hoặc tán loạn ra ngoài khởi lên, không nên để tâm bị cuốn theo phiền não (kilesānurañjitena na vattitabbaṃ), mà nên đặt tâm thiền định (kammaṭṭhānacittaṃ) lên một dấu hiệu khích lệ nào đó (kismiñcideva pasādanīye pasādāvahe), như niệm ân đức Phật hoặc các đối tượng khác gây niềm tin (buddhādīsu aññatarasmiṃ ṭhāne). cittaṃ samādhiyatīti nghĩa là tâm được định tĩnh đúng cách, được đặt vững chắc (ārammaṇe sammā ādhiyati suṭṭhu ṭhapitaṃ ṭhapiyati). paṭisaṃharāmīti nghĩa là “Ta rút tâm khỏi dấu hiệu khích lệ, hướng nó trở lại thiền án gốc” (pasādanīyaṭṭhānato paṭisaṃharāmi, mūlakammaṭṭhānābhimukhaṃyeva naṃ karomīti attho). so paṭisaṃharati cevāti nghĩa là ông ấy rút tâm và hướng nó về đối tượng gốc. na ca vitakketi na ca vicāretīti nghĩa là không tầm tứ phiền não (kilesavitakkaṃ na vitakketi, kilesavicāraṃ na vicāreti). avitakkomhi avicāroti nghĩa là không có tầm tứ phiền não (kilesavitakkavicārehi avitakkāvicāro). ajjhattaṃ satimā sukhamasmīti nghĩa là nhờ chánh niệm nội tâm (gocarajjhatte pavattāya satiyā), ông ấy biết rõ: “Ta có chánh niệm, ta đang an lạc” (satimāhamasmi sukhito cāti pajānāti).

evaṃ kho, ānanda, paṇidhāya bhāvanā hotīti nghĩa là như vậy, Ānanda, sự tu tập có hướng tâm (ṭhapetvā bhāvanā hoti). Ví dụ như người mang gánh mía lớn (ucchubhāraṃ) đến nhà máy đường, khi mệt mỏi thì đặt gánh xuống, ăn một khúc mía, rồi tiếp tục mang đi. Cũng vậy, khi hành giả đang hướng đến A-la-hán quả (arahattaṃ pāpuṇituṃ), nếu thân sốt phiền não khởi lên, ông ấy tạm đặt kammaṭṭhāna sang một bên (kammaṭṭhānaṃ ṭhapetvā), dùng niệm Phật hoặc các đối tượng khích lệ để làm tâm tịnh tín và kham nhẫn (buddhaguṇādianussaraṇena cittaṃ pasādetvā kammaniyaṃ katvā), rồi tiếp tục tu tập. Vì vậy gọi là “paṇidhāya bhāvanā hotī” (tu tập có hướng tâm). Còn việc người ấy mang gánh mía đến nhà máy, ép lấy nước uống giống như hành giả đạt đỉnh điểm kammaṭṭhāna, chứng A-la-hán và hưởng lạc quả (phalasamāpattisukhānubhavanaṃ).

bahiddhāti nghĩa là rời thiền án gốc, hướng tâm ra ngoài đối tượng khác. appaṇidhāyāti nghĩa là không đặt sang một bên (aṭṭhapetvā). atha pacchā pure asaṃkhittaṃ vimuttaṃ appaṇihitanti pajānātīti nghĩa là ở đây cần hiểu theo ba cách: theo thiền án, theo thân thể, hoặc theo cách thuyết giảng.

Theo thiền án: Sự chuyên chú vào kammaṭṭhāna là “trước” (pure nāma), A-la-hán quả là “sau” (pacchā nāma). Người Tỳ-khưu nào nắm kammaṭṭhāna gốc, ngăn chặn cơ hội cho phiền não, uể oải, tán loạn khởi lên – giống như buộc trâu đã thuần phục kéo cày, hoặc nhét hộp vuông vào lỗ vuông – thiết lập vipassanā mà không bám víu, không dính mắc, thì đạt A-la-hán. Người ấy biết rõ “không bị ràng buộc trước sau, giải thoát, không hướng” theo sự chuyên chú trước (kammaṭṭhānābhinivesassa) và A-la-hán quả sau.

Theo thân thể: Các đốt ngón chân là “trước” (pure nāma), hộp sọ là “sau” (pacchā nāma). Người Tỳ-khưu nào chuyên chú vào các đốt ngón chân, nắm bắt xương theo màu sắc, hình dạng, hướng, vị trí, ngăn chặn phiền não khởi lên giữa chừng, đưa thiền định đến hộp sọ, thì biết rõ “không bị ràng buộc trước sau, giải thoát, không hướng” theo các đốt ngón chân trước và hộp sọ sau.

Theo cách thuyết giảng: Trong bài thuyết 32 tướng (dvattiṃsākāradesanā), tóc là “trước” (pure nāma), não là “sau” (pacchā nāma). Người Tỳ-khưu nào chuyên chú vào tóc, nắm bắt tóc trở xuống theo màu sắc, hình dạng, hướng, vị trí, ngăn chặn phiền não khởi lên giữa chừng, đưa thiền định đến não, thì biết rõ “không bị ràng buộc trước sau, giải thoát, không hướng” theo tóc trước và não sau.

evaṃ kho, ānanda, appaṇidhāya bhāvanā hotīti nghĩa là như vậy, Ānanda, sự tu tập không hướng tâm (aṭṭhapetvā bhāvanā hoti). Ví dụ như người mang gánh kẹo (guḷabhāraṃ), trên đường về làng, không đặt gánh xuống mà vừa đi vừa ăn các miếng kẹo trong túi, vẫn đến làng. Cũng vậy, hành giả đã khởi tu, ngăn chặn phiền não thân khởi lên, tiếp tục tu tập kammaṭṭhāna mà không tạm dừng, nên gọi là “appaṇidhāya bhāvanā”. Việc người ấy mang gánh kẹo về làng và cùng thân quyến hưởng dùng giống như hành giả đạt đỉnh điểm kammaṭṭhāna, chứng A-la-hán và hưởng lạc quả (phalasamāpattisukhānubhavanaṃ).

Trong sutta này, chỉ nói đến pubbabhāgavipassanā (giai đoạn sơ khởi của thiền minh sát). Phần còn lại thì rõ ràng ở tất cả kinh khác (sesaṃ sabbattha uttānamevāti).

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

VI. Phẩm Tổng Nhiếp Giác Chi

10. X. Trú Xứ Tỷ-Kheo Ni (Tạp 24,13, Ðại 2,172,172a) (S.v,154)

1) Tại Sàvatthi...

2) Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.

Rồi một số đông Tỷ-kheo-ni đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo-ni ấy thưa với Tôn giả Ananda:

3) -- Ở đây, bạch Thượng tọa Ananda, một số đông Tỷ-kheo-ni sống khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, đạt được sự rõ biết (sampajànanti) quảng đại, trước sau thù thắng.

-- Như vậy là phải, này các Ðại tỷ! Như vậy là phải, này các Ðại tỷ! Này các Ðại tỷ, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào sống với tâm khéo an trú trong bốn niệm xứ, vị ấy được chờ đợi sẽ đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng.

4) Rồi Tôn giả Ananda với bài pháp thoại, sau khi tuyên thuyết cho các Tỷ-kheo-ni ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

5) Rồi Tôn giả Ananda sau khi đi khất thực ở Sàvatthi, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, con, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni, sau khi đến, con ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi, bạch Thế Tôn, một số đông Tỷ-kheo-ni đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo-ni ấy thưa với con: "Ở đây, bạch Thượng tọa Ananda, một số đông Tỷ-kheo-ni sống khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng". Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các Tỷ-kheo-ni ấy: "Như vậy là phải, này các Ðại tỷ! Như vậy là phải, này các Ðại tỷ! này các Ðại tỷ, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào sống với tâm khéo an trú trong bốn niệm xứ, vị ấy được chờ đợi sẽ đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng".

6) -- Như vậy là phải, này Ananda! Như vậy là phải, này Ananda! Này Ananda, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào sống với tâm khéo an trú trên bốn niệm xứ, vị ấy được chờ đợi sẽ đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng. Thế nào là bốn?

7) Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo sống, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú, quán thân trên thân, hoặc thân sở duyên (kàyàrammano) khởi lên, hoặc thân nhiệt não (kàyasmin parilàho), hoặc tâm thụ động, hoặc tâm phân tán hướng ngoại (bahiddha va cittam vikkhipati); do vậy, này Ananda, Tỷ-kheo cần phải hướng tâm đến một tướng tịnh tín (pasàdaniyenimitta). Do vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tín, hân hoan (pàmujjam: Thắng hỷ) sanh. Người có tâm hân hoan, hỷ sanh. Người có tâm hỷ, thân được khinh an. Người có tâm khinh an, lạc thọ sanh. Người có tâm lạc thọ, tâm được định tĩnh. Vị ấy tư sát như sau: "Mục đích mà ta hướng tâm đến, mục đích ấy đã đạt được. Nay ta rút lui (patisamharàmi) (khỏi đối tượng tịnh tín)". Vị ấy rút lui, không tầm, không tứ. Vị ấy rõ biết: "Không tầm, không tứ, nội tâm chánh niệm, ta được an lạc".

8-9) Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo sống, quán thọ trên các thọ... sống, quán tâm trên tâm...

10) Vị ấy sống, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, hoặc thân sở duyên khởi lên, hoặc thân nhiệt não, hoặc tâm thụ động, hoặc tâm phân tán, hướng ngoại; do vậy, này Ananda, Tỷ-kheo cần phải hướng tâm đến một tướng tịnh tín. Do vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tín, hân hoan sanh. Người có hân hoan, hỷ sanh. Người có tâm hỷ, thân được khinh an. Người có thân khinh an, lạc thọ sanh. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Vị ấy tư sát như sau: "Mục đích mà ta hướng tâm đến, mục đích ấy đã đạt được. Nay ta rút lui (khỏi đối tượng tướng tịnh tín)". Vị ấy rút lui, không tầm, không tứ. Vị ấy rõ biết: "Không tầm, không tứ, nội tâm chánh niệm, ta được an lạc".

11) Như vậy, này Ananda, là sự tu tập về hướng tâm.

12) Và này Ananda, thế nào là sự tu tập không có hướng tâm?

13) Này Ananda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ biết: "Tâm ta không hướng ngoại". Rồi vị ấy rõ biết: "Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước, hay cái gì ở sau (pacchàpure), nhưng được giải thoát, không có hướng tâm". Rồi vị ấy rõ biết: "Ta trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc".

14) Này Ananda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ biết: "Tâm ta không hướng ngoại". Rồi vị ấy rõ biết: "Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước, hay cái gì ở sau, nhưng được giải thoát, không có hướng tâm". Rồi vị ấy rõ biết: "Ta trú, quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc".

15) Này Ananda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ biết: "Tâm ta không hướng ngoại". Rồi vị ấy rõ biết: "Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước... Rồi vị ấy rõ biết: "Ta trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc".

16) Này Ananda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại... Rồi vị ấy rõ biết: "Ta trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc".

17) Như vậy, này Ananda, là tu tập không có hướng tâm.

18) Như vậy, này Ananda, Ta thuyết tu tập có hướng tâm; Ta thuyết tu tập không có hướng tâm. Những gì, này Ananda, một bậc Ðạo Sư cần phải làm vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với các đệ tử, vì lòng từ mẫn khởi lên, những việc ấy, Ta đã làm cho các Ông. Này Ananda, đây là những gốc cây. Ðây là những nhà trống. Hãy tu Thiền, này Ananda. Chớ có phóng dật. Chớ có hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

19) Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả Ananda hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.