BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Chủ Nhật, 25 tháng 01, 2026

MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN

Phần IV: ÔN CỐ TRI TÂN

- BẤT HOÀ ĐẾN TỪ CHẤP THỦ LẦM LẠC - Kosabijātakaṃ - Kinh Bổn Sanh 428

 http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Jataka-428.png

Na hi verena verāni
Sammantīdha kudācanaṃ
Averena ca sammanti
Esa dhammo sanantano

Hận thù diệt hận thù
Đời nầy không thể có
Từ bi diệt hận thù
Là định luật thiên thu

CÂU CHUYỆN THỜI PHẬT TẠI THẾ

“Khi nào Tăng đoàn phân hai...” — Câu chuyện này được bậc Đạo sư kể lại khi Ngài đang trú tại vườn Ghosita, gần thành Kosambī, liên quan đến một nhóm người hay tranh cãi tại đây. Sự kiện dẫn đến câu chuyện này có thể tìm thấy trong phần Luật tạng (Vinaya) liên quan đến thành Kosambī. Dưới đây là phần tóm tắt ngắn gọn: Vào thời điểm đó, có hai vị Tỳ-khưu cùng sống chung một mái nhà; một vị thông thạo Luật tạng (Vinaya), vị kia thông thạo Kinh tạng (Sutta). Một ngày nọ, vị thông thạo Kinh tạng khi đi vào nhà vệ sinh đã vô ý để lại một ít nước thừa trong chậu rửa. Sau đó, vị thông thạo Luật tạng đi vào, nhìn thấy chậu nước nên khi ra ngoài đã hỏi bạn mình rằng có phải ông đã để lại nước ở đó không. Vị kia trả lời: "Thưa Hiền giả, đúng vậy." — "Gì cơ! Hiền giả không biết rằng làm vậy là phạm tội sao?" — "Thưa không, tôi không biết việc đó." — "Này Hiền giả, đó là một tội." — "Vậy thì tôi sẽ sám hối tội đó." — "Nhưng nếu Hiền giả làm điều đó một cách vô ý và không cố tình, thì đó không phải là tội." Thế là vị thông thạo Kinh tạng tiếp tục sinh hoạt như một người không thấy có tội trong việc làm ấy.

Vị giảng Luật nói với các đệ tử của mình rằng: "Vị giảng Sư này, dù phạm tội nhưng lại không hề hay biết." Các đệ tử này khi gặp đệ tử của vị giảng Sư kia liền nói: "Thầy của các anh dù phạm tội nhưng không nhận ra lỗi lầm của mình." Họ đi về và kể lại với thầy mình. Vị giảng Sư nói: "Vị giảng Luật này trước bảo không có tội, giờ lại bảo là có tội: ông ta là kẻ nói dối." Họ lại đi nói với nhóm kia rằng: "Thầy của các anh là kẻ nói dối." Cứ thế, họ khơi mào một cuộc tranh cãi lẫn nhau.

Sau đó, vị giảng Luật tìm được cơ hội đã thực hiện hình thức kỷ luật tẩn xuất (đuổi khỏi Tăng đoàn) vị Tỳ-khưu kia vì tội không chịu thừa nhận lỗi lầm. Từ đó trở đi, ngay cả các cư sĩ hộ trì vật dụng cho các Tỳ-khưu cũng chia thành hai phe. Các ni đoàn nhận lời giáo giới, các vị hộ pháp, bạn bè thân hữu, và các vị thiên thần từ cõi không trung cho đến cõi Phạm Thiên, ngay cả những vị chưa chứng đắc, cũng chia thành hai phe, và tiếng huyên náo vang động đến tận nơi trú ngụ của các vị thiên thượng hữu.

Khi ấy, một vị Tỳ-khưu đến gần đức Thế Tôn và trình báo quan điểm của phe tẩn xuất rằng: "Người này bị tẩn xuất theo đúng chính pháp," và quan điểm của phe đi theo vị bị tẩn xuất rằng: "Vị ấy bị tẩn xuất phi pháp," cùng với hành động của những người dù bị phe tẩn xuất ngăn cấm nhưng vẫn tụ tập quanh để ủng hộ vị ấy. Đức Thế Tôn phán: "Có sự chia rẽ, thật vậy, một sự chia rẽ trong Tăng đoàn," và Ngài đi đến chỗ họ, chỉ ra sự khổ lụy đi kèm với việc tẩn xuất đối với phe thực hiện kỷ luật, và sự khổ lụy theo sau việc che giấu tội lỗi đối với phe đối lập, rồi Ngài rời đi.

Một lần khác, khi họ đang cử hành lễ Uposatha (Bố-tát) và các nghi lễ tương tự tại cùng một địa điểm trong cương giới, nhưng lại tranh cãi nhau trong trai đường và những nơi khác, Ngài đã đặt ra quy định rằng họ phải ngồi xuống cùng nhau, từng người một từ mỗi bên luân phiên nhau. Nghe tin họ vẫn còn tranh cãi trong tu viện, Ngài đến đó và nói: "Thôi đủ rồi, các Tỳ-khưu, đừng tranh cãi nữa." Một người thuộc phe đối nghịch, không muốn làm phiền đức Thế Tôn, đã nói: "Xin bậc Pháp Vương hãy ở yên trong tịnh thất. Xin Thế Tôn hãy trú trong an lạc, thọ hưởng hạnh phúc Ngài đã đạt được trong đời này. Chúng con sẽ tự chịu trách nhiệm về những cuộc tranh cãi, cãi vã, tranh luận và xung đột này."

Nhưng bậc Đạo sư phán với họ: "Này các Tỳ-khưu, thuở xưa, vua Brahmadatta trị vì vương quốc Kāsi ở Baranasi. Vua đã cướp đoạt vương quốc của Dīghati, vua xứ Kosala, và xử tử ông khi ông đang sống ẩn dật. Khi hoàng tử Dīghāvu tha mạng cho Brahmadatta, từ đó họ trở thành bạn thân. Vì sự nhẫn nhục và dịu dàng của những vị vua nắm giữ vương quyền và gươm đao còn có thể như thế, thì quả thực, này các Tỳ-khưu, các ông nên thể hiện rõ rằng mình cũng có thể bao dung và nhân hậu sau khi đã dấn thân vào đời sống phạm hạnh theo một giáo pháp và luật tạng được thuyết giảng thiện mỹ như thế này."

Dù đã khuyên bảo đến lần thứ ba: "Thôi đủ rồi, các Tỳ-khưu, đừng tranh cãi nữa," nhưng khi thấy họ vẫn không ngừng theo lệnh Ngài, Ngài rời đi và nói: "Thật vậy, những kẻ ngu ngốc này như bị ma nhập, họ không dễ bị thuyết phục." Ngày hôm sau, trở về sau khi đi khất thực, Ngài nghỉ ngơi một lát trong hương phòng, sắp xếp lại phòng ốc, rồi cầm bát và y, Ngài đứng giữa hư không và thuyết những vần kệ này giữa đại chúng:

Khi Tăng đoàn bị chia rẽ làm hai,
người đời lớn theo thêm tiếng ồn ào tranh cãi.
Mỗi người đều tin rằng chính mình là kẻ khôn ngoan,
và nhìn kẻ bên cạnh bằng ánh mắt khinh thường.

Những tâm hồn mê muội, phồng lên vì tự mãn,
mở miệng buông lời xúc phạm một cách ngu muội;
lang thang trong mọi nẻo của ngôn từ,
họ không biết tôn kính bậc lãnh đạo.

“Người này đã mắng nhục tôi, người kia đánh tôi,
kẻ khác đã đánh bại tôi và cướp đoạt của tôi từ lâu.”
Những ai nuôi dưỡng các ý nghĩ như thế
thì không bao giờ làm nguôi cơn phẫn nộ của mình.

“Xưa kia hắn đã mắng nhục và đánh đập tôi,
đã thắng tôi và áp bức tôi nặng nề.”
Những ai không chấp giữ những ý nghĩ ấy
sẽ làm lắng dịu sân hận và sống hòa hợp trở lại.

Nếu dùng hận thù để dập tắt  hận thù;

Chuyện đó không bao giờ xẩy r
chỉ tình thương mới dập tắt được hận thù.
Đó là định luật muôn thuở xưa nay.

Có những người xem nhẹ khả năng tự chế,
nhưng những ai biết hòa giải mới là bậc trí.

Nếu những kẻ đầy thương tích trong chiến trận,
bọn cướp bóc, sát nhân đoạt mạng người,
thậm chí những kẻ cướp phá cả một vương quốc,
còn có thể trở thành bạn với kẻ thù,
thì sao các Tỳ-kheo lại không thể hòa hợp với nhau?

Nếu tìm được bạn hiền trí và chân thật,
một tâm hồn tương thông, sẵn lòng đồng hành,
vượt qua mọi hiểm nguy trong hành trình,
hãy cùng người ấy bước đi vững tiến,
sống trong sự chánh niệm và cõi lòng tự tại.

Nhưng nếu không gặp được người bạn như thế,
thì tốt hơn hết hãy sống đời cô độc,
như vị vua từ bỏ quốc độ suy đồi,
hay như con voi rừng lang thang một mình.

Hãy chọn đời sống độc cư,
vì kết bạn với kẻ ngu chỉ đưa đến tranh chấp;
hãy bước đi một cách an nhiên, không vướng bận,
như con voi giữa khu rừng hoang dã.

Khi bậc Đạo sư phán những lời này xong, vì không thể giảng hòa cho các Tỳ-khưu này, Ngài đi đến làng Bālakaloṇakāragāma (làng Bālaka, người thợ làm muối), và thuyết cho tôn giả Bhagu về hạnh phúc của sự độc cư. Từ đó, Ngài đi đến nơi ở của ba thiện nam tử (tôn giả Anuruddha, Nandiya, Kimbila) và thuyết cho họ về niềm hỷ lạc có được từ sự hòa hợp. Sau đó, Ngài hành trình đến rừng Pārileyyaka, trú lại đó ba tháng mà không trở về Kosambī, rồi đi thẳng đến thành Sāvatthi.

Các cư sĩ tại Kosambī đã bàn bạc với nhau rằng: "Chắc chắn những vị Tỳ-khưu thành Kosambī này đã gây cho chúng ta nhiều tổn hại; vì phiền lòng bởi họ mà đức Thế Tôn đã ra đi. Chúng ta sẽ không chào hỏi, không tôn trọng, cũng không cúng dường vật thực khi họ đến thăm. Như thế, họ sẽ phải rời đi, hoặc hoàn tục, hoặc phải cầu xin đức Thế Tôn tha thứ." Và họ đã làm đúng như vậy. Những vị Tỳ-khưu này bị khuất phục bởi hình thức trừng phạt đó nên đã đến Sāvatthi và cầu xin đức Thế Tôn tha thứ. Bậc Đạo sư nhận diện tiền thân như sau: "Người cha là đại vương người mẹ là Mahāmāyā, và hoàng tử Dīghāvu chính là Ta."

Tỳ khưu Giác Đẳng phóng tác từ Kinh Bổn Sanh

-ooOoo-