BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 27 tháng 01, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 47. Tương Ưng Niệm Xứ -Phẩm Nàlandà- SN 47.12
Bài 599. KHÔNG BIẾT HẾT NHƯNG VẪN BIẾT RÕ -
Kinh Nālandā (Nālandāsuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-599.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Niềm tin chân chánh không dựa trên cảm tính hay thẩm quyền mù quáng, mà dựa trên sự hiểu biết đúng Pháp. Tôn giả Sāriputta tuy không có toàn tri như chư Phật, cũng không có khả năng trực tiếp biết tâm của chư Phật ba đời, nhưng ngài vẫn có thể khẳng định tính vô thượng của Đức Phật nhờ trí suy luận hợp Pháp (dhammanvaya, nayaggāha). Qua hình ảnh thành trì biên địa chỉ có một cổng duy nhất, bài kinh cho thấy rằng con đường giác ngộ của tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai đều đồng quy ở một lộ trình duy nhất: đoạn trừ năm triền cái, an trú vững chắc trong Tứ niệm xứ, tu tập đầy đủ Bảy giác chi, và chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác. Điều này xác lập rằng sự giác ngộ không phải là một đặc ân cá biệt, mà là kết quả tất yếu của một cấu trúc Pháp bất biến.

Kinh Văn

Ekaṃ samayaṃ bhagavā nāḷandāyaṃ viharati pāvārikambavane. Atha kho āyasmā sārīputto yena bhagavā tenupasaṅkami upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho  āyasmā sārīputto bhagavantaṃ etadavoca evaṃ pasannāhaṃ { 1 Ma.  pasanno ahaṃ. Yu. pasannohaṃ. evamupari.} bhante bhagavati na  cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo  vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṃ sambodhiyanti. Uḷārā kho  tyāyaṃ sārīputta āsabhivācā bhāsitā ekaṃso gahito sīhanādo nadito  evaṃ pasannāhaṃ bhante bhagavati na cāhu na ca bhavissati na  cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā  bhiyyobhiññataro yadidaṃ sambodhiyanti.
[727] Kinnu te sārīputta ye te ahesuṃ atītamaddhānaṃ arahanto sammāsambuddhā sabbe te bhagavanto cetasā ceto paricca viditā evaṃsīlā te bhagavanto ahesuṃ iti vā evaṃdhammā te bhagavanto ahesuṃ iti vā evaṃpaññā te bhagavanto ahesuṃ iti vā evaṃvihārino  te bhagavanto ahesuṃ iti vā evaṃvimuttā te bhagavanto ahesuṃ  iti vāti. No hetaṃ bhante.
[728] Kiṃ pana te sārīputta ye te bhavissanti anāgatamaddhānaṃ arahanto sammāsambuddhā sabbe te bhagavanto cetasā ceto paricca  viditā evaṃsīlā te bhagavanto bhavissanti iti vā evaṃdhammā te  bhagavanto bhavissanti iti vā evaṃpaññā te bhagavanto bhavissanti  iti vā evaṃvihārino te bhagavanto bhavissanti Iti vā evaṃvimuttā  te bhagavanto bhavissanti iti vāti. Nohetaṃ bhante.
[729] Kiṃ pana tyāhaṃ sārīputta etarahi arahaṃ sammāsambuddho cetasā ceto paricca vidito evaṃsīlo bhagavā iti vā evaṃdhammo  bhagavā iti vā evaṃpañño bhagavā iti vā evaṃvihārī bhagavā iti  vā evaṃvimutto bhagavā iti vāti. No hetaṃ bhante.
[730] Ettha ca te sārīputta atītānāgatapaccuppannesu arahantesu  sammāsambuddhesu cetopariyāyañāṇaṃ { 1 Ma. cetopariyañṇāṇaṃ.  evamupari.} natthi. Atha kiñcarahi tyāhaṃ sārīputta uḷārā  āsabhivācā bhāsitā ekaṃso gahito sīhanādo nadito evaṃ  pasannāhaṃ bhante bhagavati na cāhu na ca bhavissati na  cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā  bhiyyobhiññataro yadidaṃ sambodhiyanti. Na kho me taṃ  { 2 Ma. ayaṃ pāṭho natthi.} bhante atītānāgatapaccuppannesu arahantesu sammāsambuddhesu cetopariyāyañāṇaṃ atthi  api ca dhammanvayo vidito.
[731] Seyyathāpi bhante rañño paccantimaṃ nagaraṃ daḷhaddhālaṃ { 3 Sī. Yu. daḷhuddālaṃ. Ma. daḷhuddhāpaṃ.} daḷhapākāratoraṇaṃ  ekadvāraṃ tatrassa dovāriko paṇḍito byatto medhāvī aññātānaṃ  nivāretā ñātānaṃ pavesetā. So tassa nagarassa samantā  anupariyāyapathaṃ anukkamamāno na passeyya Pākārasandhiṃ  vā pākāravivaraṃ vā antamaso viḷāranissakkanamattaṃpi { 1 Sī. Ma. viḷāranikkamanamattampi. Yu. biḷāranissakkanamattaṃpi.} .
Tassa evamassa ye kho keci oḷārikā pāṇā imaṃ nagaraṃ pavisanti  vā nikkhamanti vā sabbe te imināva dvārena pavisanti vā nikkhamanti vāti.  Evameva kho me bhante dhammanvayo vidito yepi te bhante ahesuṃ  atītamaddhānaṃ arahanto sammāsambuddhā sabbe te bhagavanto  pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe  catūsu satipaṭṭhānesu supatiṭṭhitacittā satta bojjhaṅge  yathābhūtaṃ bhāvetvā anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambujjhiṃsu.
Yepi te bhante bhavissanti anāgatamaddhānaṃ arahanto  sammāsambuddhā sabbe te bhagavanto pañca nīvaraṇe pahāya  cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu  supatiṭṭhitacittā satta bojjhaṅge yathābhūtaṃ bhāvetvā anuttaraṃ  sammāsambodhiṃ abhisambujjhissanti. Bhagavāpi bhante etarahi  arahaṃ sammāsambuddho pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese  paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu supatiṭṭhitacitto  satta bojjhaṅge yathābhūtaṃ bhāvetvā anuttaraṃ  sammāsambodhiṃ abhisambuddhoti.
[732] Sādhu sādhu sārīputta tasmā tiha tvaṃ  sārīputta imaṃ dhammapariyāyaṃ abhikkhaṇaṃ bhāseyyāsi  bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ.  Yesampi hi sārīputta moghapurisānaṃ bhavissati tathāgate Kaṅkhā vā vimati vā tesampimaṃ dhammapariyāyaṃ sutvā yā  tathāgate kaṅkhā vā vimati vā sā pahīyissatīti.

Một thuở Đức Thế Tôn ngự tại Nālandā, trong vườn xoài của Pāvārika. Rồi Tôn giả Sāriputta đến gặp Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và thưa:

“Bạch Thế Tôn, con có niềm tin đối với Đức Thế Tôn rằng: Không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ, hiện tại hay tương lai hơn Đức Thế Tôn về sự giác ngộ.”

“Thật là lời tuyên bố cực mạnh của Thầy, này Sāriputta, Thầy đã cất lên tiếng rống sư tử với sự dứt khoát, quyết đoán: ‘Bạch Thế Tôn, con có niềm tin như vậy đối với Đức Thế Tôn rằng không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ, hiện tại hay tương lai hơn Đức Thế Tôn về sự giác ngộ.’

Này Sāriputta, Thầy với tâm tư của mình có cảm nhận trọn vẹn tâm  của tất cả các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ và biết rõ rằng: ‘Những vị Thế Tôn ấy có giới đức như vậy, có công đức như vậy, có trí tuệ như vậy, có trú xứ như vậy, có giải thoát như vậy’ chăng?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Vậy này Sāriputta, Thầy với tâm tư của mình có cảm nhận trọn vẹn tâm của tất cả các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác sẽ xuất hiện trong tương lai và biết rõ rằng: ‘Những vị Thế Tôn ấy sẽ có giới đức như vậy, có công đức như vậy, có trí tuệ như vậy, có trú xứ như vậy, có giải thoát như vậy’ chăng?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Vậy này Sāriputta, Thầy với tâm tư của mình có cảm nhận trọn vẹn tâm của chính Ta – hiện tại là A-la-hán, Chánh Đẳng Giác – và biết rõ rằng: ‘Đức Thế Tôn có giới đức như vậy, có công đức như vậy, có trí tuệ như vậy, có trú xứ như vậy, có giải thoát như vậy’ chăng?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Này Sāriputta, khi Thầy với tâm tư của mình không cảm nhận trọn vẹn tâm của các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, tương lai và hiện tại, vậy tại sao Thầy lại tuyên bố lời cao cả ấy và gầm lên tiếng rống sư tử dứt khoát, quyết đoán: ‘Bạch Thế Tôn, con có niềm tin như vậy đối với Đức Thế Tôn rằng không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ, hiện tại hay tương lai hơn Đức Thế Tôn về sự giác ngộ’?”

“Bạch Thế Tôn, con với tâm tư của mình không cảm nhận trọn vẹn tâm của các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, tương lai và hiện tại, nhưng con đã hiểu điều này qua suy luận từ Pháp (dhammānusandhāna). Giả sử, bạch Thế Tôn, một vị vua có một thành trì biên giới với tường thành kiên cố, hào sâu, cổng thành vững chãi, chỉ có một cửa ra vào duy nhất. Người gác cổng ở đó là người khôn ngoan, có năng lực và thông minh; người ấy ngăn chặn người lạ và cho phép người quen vào. Khi đi tuần quanh thành, người ấy không thấy một khe hở hay lỗ hổng nào trên tường thành, dù chỉ đủ cho một con mèo chui qua. Người ấy có thể nghĩ: ‘Bất kỳ sinh vật lớn nào vào hay ra khỏi thành này đều phải đi qua cửa thành duy nhất ấy.’

Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con đã hiểu điều này qua suy luận từ Pháp: Tất cả các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã xuất hiện trong quá khứ, trước hết đều đã đoạn trừ năm triền cái – những ô nhiễm tâm và làm suy yếu trí tuệ; sau đó, với tâm khéo thiết lập trong bốn niệm xứ, các vị ấy đã tu tập đúng cách bảy giác chi; nhờ đó các vị ấy đã giác ngộ đến sự Chánh Đẳng Giác vô thượng. Và, bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác sẽ xuất hiện trong tương lai, trước hết cũng sẽ đoạn trừ năm triền cái – những ô nhiễm tâm và làm suy yếu trí tuệ; sau đó, với tâm khéo thiết lập trong bốn niệm xứ, các vị ấy sẽ tu tập đúng cách bảy giác chi; nhờ đó các vị ấy sẽ giác ngộ đến sự Chánh Đẳng Giác vô thượng. Và, bạch Thế Tôn, chính Đức Thế Tôn hiện tại là A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, trước hết đã đoạn trừ năm triền cái – những ô nhiễm tâm và làm suy yếu trí tuệ; sau đó, với tâm khéo thiết lập trong bốn niệm xứ, Ngài đã tu tập đúng cách bảy giác chi; nhờ đó Ngài đã giác ngộ đến sự Chánh Đẳng Giác vô thượng.”

“Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Vì vậy, này Sāriputta, Thầy nên thường xuyên thuyết giảng bài Pháp này cho các Tỳ-khưu, Tỳ-khưu-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ. Dù một số người ngu si có thể còn hoang mang hay nghi ngờ về Như Lai, khi nghe bài Pháp này, sự hoang mang hay nghi ngờ của họ về Như Lai sẽ được đoạn trừ.”

Chú Thích

Trong bài kinh này, Đức Phật đáp lại lời tuyên bố đức tin đầy mạnh mẽ của Tôn giả Sāriputta. Sāriputta nói rằng không có bất kỳ vị sa-môn hay bà-la-môn nào trong quá khứ, vị lai hay hiện tại vượt hơn Đức Phật về giác ngộ. Đức Phật đáp rằng Sāriputta đã nói:

  • uḷārā vācā — “một lời nói cao cả, cao thượng, cực mạnh”
  • āsabhī vācā — “một lời nói hùng dũng, uy nghi”
  • sīhanāda — “tiếng rống của sư tử”

Ngài Bohi trong bản tiếng Anh dịch “lofty” (cao cả) tương ứng với từ Pāli uḷārā, được chú giải là một kiểu lời nói cao quý, cao thượng, siêu vượt.

 Vì sao Đức Phật gọi đó là “lời nói cao cả”? Theo Sớ Giải, Đức Phật đã gặn hỏi Tôn giả Sāriputta: có trực tiếp biết trọn vẹn tâm của tất cả chư Phật trong quá khứ, vị lai, hiện tại không? Tôn giả Sāriputta thừa nhận rằng không có những khả năng ấy. Vậy vì sao ngài vẫn đưa ra một lời tuyên bố “khẳng định mạnh mẽ” như thế? Ngài giải thích bằng ví dụ người giữ cổng thành: Một thành trì kiên cố chỉ có một cổng duy nhất. Người giữ cổng tuy không thấy mọi sinh vật ra vào, nhưng biết chắc rằng bất cứ ai ra hay vào đều phải đi qua cổng ấy.

Cũng vậy, Tôn giả Sāriputta nói rằng: Tất cả chư Phật trong quá khứ, vị lai và hiện tại đều giác ngộ bằng cùng một con đường: đoạn trừ năm triền cái, an trú bốn niệm xứ, tu tập bảy giác chi. Do đó, ngài biết rằng sự giác ngộ của Đức Phật là vô thượng, không ai vượt hơn.

Lời dạy của Đức Phật, dù là khẳng định hay gặn hỏi lại đều chỉ là tán thán và làm sự việc sáng tỏ. Điều nầy rất quan trọng để hiểu vì trong bản dịch Trường Bộ Kinh và Tương Ưng Bộ Kinh đều dịch là: Thật là đại ngôn (ulàra), này Sàriputta, là lời tuyên bố như con ngưu vương này của Ông, lời tuyên bố một chiều, tiếng rống của con sư tử: "Như vậy là lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn hay một Bà-la-môn nào khác, có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác". Dịch như vậy dễ khiến người đọc hiểu lầm là cái nhìn của Tôn giả Sāriputta là nông cạn và bị Đức Phật chỉnh sửa.

Tôn giả Sāriputta là bậc thượng trí. Ngài không đưa ra kết luận nông nỗi. Điều Ngài tuyên bố hoàn toàn đúng với các bậc toàn giác: chỉ có sự đồng đẳng về Phật trí giữa các vị Chánh Đẳng Chánh Giác. Nói cách khác về phương diện nầy không có vị nào vượt trội hơn vị nào.

Ví dụ người giữ cổng thành không chỉ là một hình ảnh minh họa dễ hiểu, mà là một lập luận nhận thức học (epistemology) rất tinh tế của Phật giáo. Có thể phân tích ở nhiều tầng như sau:

1. Cấu trúc của ví dụ: không phải “biết bằng thấy”, mà là “biết bằng quy luật”

Người giữ cổng không biết từng cá thể ra vào thành phố. Ông không cần biết:

  • Ai đã vào hôm qua
  • Ai sẽ vào ngày mai
  • Ai đang ở trong thành lúc này

Nhưng ông biết chắc một điều:

Bất cứ sinh vật lớn nào ra vào thành, đều phải đi qua cánh cổng này.

 Đây là tri thức dựa trên cấu trúc, không phải tri thức dựa trên liệt kê dữ kiện.

Cũng vậy, Tôn giả Sāriputta không có tha tâm thông để đọc tâm chư Phật ba đời, nhưng Ngài thấy trọn vẹn cấu trúc của con đường giác ngộ.

2. “Cổng thành” là đạo lộ duy nhất của chánh giác

Trong lời giải của Tôn giả Sāriputta, “cổng thành duy nhất” chính là:

  • Đoạn trừ năm triền cái
  • An trú vững chắc trong bốn niệm xứ
  • Tu tập đúng đắn bảy giác chi

Đây không phải là một con đường trong nhiều con đường, mà là cấu trúc tất yếu của giác ngộ.  Ý nghĩa rất mạnh: Không có Phật nào giác ngộ bằng con đường khác. Dù là: Phật quá khứ, vị lai,  hiện tại. Đạo lộ là một (ekāyano maggo)

3. Điểm then chốt: Tôn giả Sāriputta không so sánh “con người”, mà so sánh “đạo lý”. Ngài không nói:

  • “Con biết tâm Phật hơn người khác”
  • “Con thấy Phật cao hơn chư Phật khác”

Mà Ngài nói: Tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác đều phải đi qua cùng một cửa.

Và Đức Phật hiện tại đã đi trọn vẹn, viên mãn, không thiếu sót cửa ấy.

Do đó, không phải tự cao, Không phải tán thán mù quáng, mà là kết luận tất yếu từ Pháp. Đây chính là điều Đức Phật xác nhận là sīhanāda – tiếng rống sư tử có căn cứ.

4. Vì sao Đức Phật “gặn hỏi” Tôn giả Sāriputta?

Đức Phật liên tục hỏi:

  • Thầy có biết tâm Phật quá khứ không?
  • Thầy có biết tâm Phật vị lai không?
  • Thầy có biết tâm Ta không?

Không phải để bác bỏ Tôn giả Sāriputta, mà để làm sáng tỏ loại trí tuệ mà Tôn giả Sāriputta đang dùng.

Kết luận ngầm của Đức Phật: Đây không phải là tuệ thần thông mà đây là dhammanvaya ñāṇa – trí suy luận đúng theo Pháp

Một loại trí không vượt ranh giới của bậc Thánh đệ tử nhưng chạm sát biên giới của Nhất Thiết Trí

“Lời nói vang dội như tiếng rống” (āsabhī vācā) nghĩa là giống như tiếng rống của con bò đực đầu đàn (usabha), vững chắc, không dao động, không lung lay.
“Quyết định, dứt khoát” (ekaṃso gahito) nghĩa là không phải lời nói được phát biểu theo truyền khẩu, theo tập quán hay do nghe lại, mà là lời nói như thể đã được tự thân chứng tri, do vậy mang tính quyết định, dứt khoát. Ý nghĩa là lời ấy được nói ra như một kết luận đã xác lập (sanniṭṭhānakathā).

evaṃdhammā là các pháp thuộc về phần định (samādhipakkhā dhammā), và nói rằng cụm evaṃvihārino (những vị an trú như vậy) được thêm vào nhằm bao hàm cả sự chứng đắc định diệt thọ tưởng (nirodhasamāpatti).

Api ca dhammanvayo vidito.

Trí tuệ suy luận (anumānañāṇa) đã khởi lên, phù hợp với hệ quả của sự hiểu biết Pháp nơi tự thân vị ấy; phương pháp nắm bắt lý lẽ (nayaggāha) đã được thấu hiểu.
Ngài Sāriputta nói: “Dựa trên chính sự hiểu biết về các pháp Ba-la-mật của một vị đệ tử, từ phương diện này con biết được điều ấy, bạch Thế Tôn.”

Theo Sớ Giải, trong đoạn này, bốn niệm xứ được hiểu là tuệ quán (vipassanā), bảy giác chi được hiểu là Thánh đạo, và Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chính là quả A-la-hán. Hoặc cũng có thể hiểu rằng bảy giác chi là hỗn hợp, bao gồm cả tuệ quán lẫn Thánh đạo.

Kết luận này cũng xuất hiện ở cuối Trường Bộ kinh số 28 (DN 28), tại DN III 116, sau phần tán thán Đức Phật dài và trang trọng hơn rất nhiều.

Sớ Giải

378. dutiyavaggassa dutiye nālandāyanti nālandāti evaṃnāmake nagare, taṃ nagaraṃ gocaragāmaṃ katvā. pāvārikambavaneti dussapāvārikaseṭṭhino ambavane. taṃ kira tassa uyyānaṃ ahosi. so bhagavato dhammadesanaṃ sutvā bhagavati pasanno tasmiṃ uyyāne kuṭileṇamaṇḍapādipaṭimaṇḍitaṃ bhagavato vihāraṃ katvā niyyātesi. so vihāro jīvakambavanaṃ viya pāvārikambavanantveva saṅkhaṃ gato. tasmiṃ pāvārikambavane viharatīti attho. ♦ evaṃpasannoti evaṃ uppannasaddho, evaṃ saddahāmīti attho.
bhiyyobhiññataroti bhiyyataro abhiññāto bhiyyatarābhiyyo vā, uttaritarañāṇoti attho. sambodhiyanti sabbaññutaññāṇe arahattamaggañāṇe vā arahattamaggeneva hi buddhaguṇā nippadesā gahitā honti, dvepi aggasāvakā arahattamaggeneva sāvakapāramīñāṇaṃ paṭilabhanti, paccekabuddhā paccekabodhiñāṇaṃ, buddhā sabbaññutaññāṇañceva sakale ca buddhaguṇe. sabbampi nesaṃ arahattamaggeneva ijjhati. tasmā arahattamaggañāṇaṃ sambodhi nāma hoti. tena uttaritaro ca bhagavatā natthi.
tenāha “bhagavatā bhiyyobhiññataro, yadidaṃ sambodhiyan”ti. ♦ uḷārāti seṭṭhā. ayañhi uḷārasaddo “uḷārāni khādanīyāni khādantī”tiādīsu (ma. ni. 1.366) madhure āgacchati. “uḷārāya khalu bhavaṃ vacchāyano samaṇaṃ gotamaṃ pasaṃsāya pasaṃsatī”tiādīsu (ma. ni. 1.288) seṭṭhe. “appamāṇo uḷāro obhāso”tiādīsu (dī. ni. 2.32; ma. ni. 3.201) vipule. svāyamidha seṭṭhe āgato. tena vuttaṃ “uḷārāti seṭṭhā”ti. āsabhīti usabhassa vācāsadisī acalā asampavedhī.
ekaṃso gahitoti anussavena vā ācariyaparamparāya vā itikirāya vā piṭakasampadānena vā ākāraparivitakkena vā diṭṭhinijjhānakkhantiyā vā takkahetu vā nayahetu vā akathetvā paccakkhato ñāṇena paṭivijjhitvā viya ekaṃso gahito, sanniṭṭhānakathāva kathitāti attho. sīhanādoti seṭṭhanādo, vane unnādayantena sīhena viya uttamanādo naditoti attho. ♦ kiṃ nu te sāriputtāti imaṃ desanaṃ kasmā ārabhi? anuyogadāpanatthaṃ. ekacco hi sīhanādaṃ naditvā attano sīhanāde anuyogaṃ dātuṃ na sakkoti, nighaṃsanaṃ na khamati, silese patitamakkaṭo viya hoti. yathā dhamamānaṃ aparisuddhaṃ lohaṃ jhāyitvā aṅgāro hoti, evaṃ jhāmaṅgāro viya hoti. eko sīhanāde anuyogaṃ dāpiyamāno dātuṃ sakkoti, nighaṃsanaṃ khamati, dhamamānaṃ niddosajātarūpaṃ viya adhikataraṃ sobhati, tādiso thero. tena naṃ bhagavā “anuyogakkhamo ayan”ti ñatvā sīhanāde anuyogadāpanatthaṃ imaṃ desanaṃ ārabhi. ♦ tattha sabbe teti sabbe te tayā.
evaṃsīlāti maggasīlena phalasīlena lokiyalokuttarasīlena evaṃsīlā. evaṃdhammāti ettha samādhipakkhā dhammā adhippetā, maggasamādhinā phalasamādhinā lokiyalokuttarena samādhinā evaṃsamādhīti attho. evaṃpaññāti maggapaññādivaseneva evaṃpaññā. evaṃvihārinoti ettha pana heṭṭhā samādhipakkhānaṃ dhammānaṃ gahitattā vihāro gahitopi puna kasmā gahitameva gaṇhatīti ce. therena idaṃ gahitameva. idañhi nirodhasamāpattidīpanatthaṃ vuttaṃ. tasmā evaṃ nirodhasamāpattivihārino te bhagavanto ahesunti evamettha attho daṭṭhabbo. ♦ evaṃvimuttāti ettha vikkhambhanavimutti, tadaṅgavimutti, samucchedavimutti, paṭipassaddhivimutti, nissaraṇavimuttīti pañcavidhā vimutti.
tattha aṭṭha samāpattiyo sayaṃ vikkhambhitehi nīvaraṇādīhi vimuttattā vikkhambhanavimuttīti saṅkhaṃ gacchanti. aniccānupassanādikā satta anupassanā sayaṃ tassa tassa paccanīkavasena pariccattāhi niccasaññādīhi vimuttattā tadaṅgavimuttīti saṅkhaṃ gacchanti. cattāro ariyamaggā ayaṃ samucchinnehi kilesehi vimuttattā samucchedavimuttīti saṅkhaṃ gacchanti. cattāri sāmaññaphalāni maggānubhāvena kilesānaṃ paṭipassaddhante uppannattā paṭipassaddhivimuttīti saṅkhaṃ gacchanti. nibbānaṃ sabbakilesehi nissaṭattā apagatattā dūre ṭhitattā nissaraṇavimuttīti saṅkhaṃ gataṃ.
iti imāsaṃ pañcannaṃ vimuttīnaṃ vasena evaṃ vimuttāti ettha attho daṭṭhabbo. ♦ kiṃ pana te sāriputta ye te bhavissantīti atītā tāva niruddhā apaṇṇattikabhāvaṃ gatā dīpasikhā viya nibbutā, evaṃ niruddhe apaṇṇattikabhāvaṃ gate tvaṃ kathaṃ jānissasi, anāgatabuddhānaṃ pana guṇā kiṃ tayā attano cittena paricchinditvā viditāti pucchanto evamāha. ♦ kiṃ pana tyāhaṃ sāriputta etarahīti anāgatāpi buddhā ajātā anibbattā anuppannā, te kathaṃ jānissasi. tesañhi jānanaṃ apade ākāse padadassanaṃ viya hoti. idāni mayā saddhiṃ ekavihāre vasasi, ekato bhikkhāya carasi, dhammadesanākāle dakkhiṇapasse nisīdasi, kiṃ pana mayhaṃ guṇā attano cetasā paricchinditvā viditā tayāti anuyuñjanto evamāha. thero pana pucchitapucchite “no hetaṃ bhante”ti paṭikkhipati. ♦ therassa ca viditampi atthi, aviditampi. kiṃ so attano viditaṭṭhāne paṭikkhepaṃ karoti, aviditaṭṭhāneti? viditaṭṭhāne na karoti, aviditaṭṭhāneyeva karoti. thero kira anuyoge āraddhe evaṃ aññāsi “nāyaṃ anuyogo sāvakapāramīñāṇe, sabbaññutaññāṇe pana ayaṃ anuyogo”ti attano sāvakapāramīñāṇe paṭikkhepaṃ akatvāva aviditaṭṭhāne sabbaññutaññāṇe paṭikkhepaṃ karoti. tena idampi dīpeti — bhagavā mayhaṃ atītānāgatapaccuppannānaṃ buddhānaṃ sīlasamādhipaññāvimuttikāraṇajānanasamatthaṃ sabbaññutaññāṇaṃ natthīti. ♦ etthāti etesu atītādibhedesu buddhesu. atha kiñcarahīti atha kasmā evaṃ ñāṇe asati tayā evaṃ kathitanti vadati. dhammanvayoti dhammassa paccakkhato ñāṇassa anuyogaṃ anugantvā uppannaṃ anumānañāṇaṃ nayaggāho vidito, sāvakapāramīñāṇe ṭhatvāva iminā ākārena jānāmi bhagavāti vadati.
therassa hi nayaggāho appamāṇo apariyanto. yathā ca sabbaññutaññāṇassa pamāṇaṃ vā pariyanto vā natthi, evaṃ dhammasenāpatino nayaggāhassa. tena so — “iminā evaṃvidho iminā evaṃvidho, iminā anuttaro iminā anuttaro satthā”ti jānāti. therassa hi nayaggāho sabbaññutaññāṇagatiko eva. ♦ idāni taṃ nayaggāhaṃ pākaṭaṃ kātuṃ upamaṃ dassento seyyathāpi bhantetiādimāha. tattha yasmā majjhimadese nagarassa uddhāpapākārādīni thirāni vā hontu dubbalāni vā, sabbaso vā pana mā hontu, corānaṃ āsaṅkā na hoti. tasmā taṃ aggahetvā paccantimaṃ nagaranti āha. daḷhuddhāpanti thiramūlapākāraṃ. daḷhapākāratoraṇanti thirapākārañceva thirapiṭṭhasaṅghāṭañca. ekadvāranti kasmā āha? bahudvāre hi nagare bahūhi paṇḍitadovārikehi bhavitabbaṃ, ekadvāreva eko vaṭṭati.
therassa ca paññāya sadiso añño natthi, tasmā attano paṇḍitabhāvassa opammatthaṃ ekaṃyeva dovārikaṃ dassetuṃ “ekadvāran”ti āha. ♦ paṇḍitoti paṇḍiccena samannāgato. byattoti veyyattiyena samannāgato visadañāṇo. medhāvīti ṭhānuppattikapaññāsaṅkhātāya medhāya samannāgato. anupariyāyapathanti anupariyāyanāmakaṃ pākāramaggaṃ. pākārasandhinti dvinnaṃ iṭṭhakānaṃ apagataṭṭhānaṃ. pākāravivaranti pākārassa chinnaṭṭhānaṃ. cetaso upakkileseti pañcanīvaraṇā cittaṃ upakkilissanti kiliṭṭhaṃ karonti upatāpenti viheṭhenti, tasmā “cetaso upakkilesā”ti vuccanti. paññāya dubbalīkaraṇeti nīvaraṇā uppajjamānā anuppannāya paññāya uppajjituṃ na denti, tasmā “paññāya dubbalīkaraṇā”ti vuccanti.
supatiṭṭhitacittāti catūsu satipaṭṭhānesu suṭṭhu ṭhapitacittā hutvā. satta bojjhaṅge yathābhūtanti satta bojjhaṅge yathāsabhāvena bhāvetvā. anuttaraṃ sammāsambodhinti arahattaṃ sabbaññutaññāṇaṃ paṭivijjhiṃsūti dasseti. ♦ apicettha satipaṭṭhānāti vipassanā, bojjhaṅgā maggo, anuttarasammāsambodhi arahattaṃ. satipaṭṭhānāti vā vipassanā, bojjhaṅgāmissakā, sammāsambodhi arahattameva. dīghabhāṇakamahāsīvatthero panāha “satipaṭṭhāne vipassanaṃ gahetvā bojjhaṅge maggo ca sabbaññutaññāṇañcāti gahite sundaro pañho bhaveyya, na panevaṃ gahitan”ti. iti thero sabbabuddhānaṃ nīvaraṇappahāne satipaṭṭhānabhāvanāya sambodhiyañca majjhe bhinnasuvaṇṇarajatānaṃ viya nānattābhāvaṃ dasseti. ♦ idha ṭhatvā upamā saṃsandetabbā — āyasmā hi sāriputto paccantanagaraṃ dassesi, pākāraṃ dassesi, anupariyāyapathaṃ dassesi, dvāraṃ dassesi, paṇḍitadovārikaṃ dassesi, nagaraṃ pavisanakanikkhamanake oḷārike pāṇe dassesi, dovārikassa tesaṃ pāṇānaṃ pākaṭabhāvaṃ dassesi. tattha kiṃ kena sadisanti ce? nagaraṃ viya hi nibbānaṃ, pākāro viya sīlaṃ, anupariyāyapatho viya hirī, dvāraṃ viya ariyamaggo, paṇḍitadovāriko viya dhammasenāpati, nagaraṃ pavisanakanikkhamanakā oḷārikapāṇā viya atītānāgatapaccuppannā buddhā, dovārikassa tesaṃ pāṇānaṃ pākaṭabhāvo viya āyasmato sāriputtassa atītānāgatapaccuppannānaṃ buddhānaṃ sīlasamathādīhi pākaṭabhāvo. ettāvatā therena bhagavato — “evamahaṃ sāvakapāramīñāṇe ṭhatvā dhammanvayena nayaggāhena jānāmī”ti attano sīhanādassa anuyogo dinno hoti. ♦ tasmāti yasmā “na kho metaṃ, bhante, atītānāgatapaccuppannesu arahantesu sammāsambuddhesu cetopariyañāṇaṃ atthi, apica dhammanvayo vidito”ti vadati, tasmā. abhikkhaṇaṃ bhāseyyāsīti punappunaṃ bhāseyyāsi, “pubbaṇhe me kathitan”ti mā majjhanhikādīsu na kathayittha, “ajja vā me kathitan”ti mā paradivasādīsu na kathayitthāti attho. sā pahīyissatīti “sāriputtasadisopi nāma ñāṇajavanasampanno sāvako buddhānaṃ cittācāraṃ jānituṃ na sakkoti, evaṃ appameyyā tathāgatā”ti cintentānaṃ yā tathāgate kaṅkhā vā vimati vā, sā pahīyissatīti.

378. Trong phần thứ hai của chương thứ hai: nālandāyanti nghĩa là tại thành phố tên là Nālandā (nālandāti evaṃnāmake nagare). Ngài lấy thành phố ấy làm làng khất thực (taṃ nagaraṃ gocaragāmaṃ katvā).

pāvārikambavaneti nghĩa là trong vườn xoài của Pāvārika (dussapāvārikaseṭṭhino ambavane). Vườn ấy vốn là công viên của ông chủ buôn vải Pāvārika. Nghe Đức Phật thuyết pháp, ông phát sinh niềm tin, nên xây dựng tịnh xá với các lều, hang, đình, lầu các dành cho Đức Phật trong vườn ấy và cúng dường. Tịnh xá ấy được gọi tên là Pāvārikambavana (vườn xoài của Pāvārika), giống như Jīvakaṃbavana (vườn xoài của Jīvaka). Ý nghĩa là Ngài trú tại vườn xoài Pāvārika ấy.

♦ evaṃpasannoti nghĩa là phát sinh niềm tin như vậy (evaṃ uppannasaddho), nghĩa là tin tưởng như vậy (evaṃ saddahāmīti attho).

bhiyyobhiññataroti nghĩa là hơn hẳn về sự thông đạt (bhiyyataro abhiññāto), hoặc hơn hẳn về trí tuệ siêu việt (bhiyyatarābhiyyo vā), nghĩa là vượt trội hơn về trí tuệ (uttaritarañāṇoti attho).

sambodhiyanti nghĩa là về sự giác ngộ toàn tri (sabbaññutaññāṇe) hoặc về trí tuệ đạo A-la-hán (arahattamaggañāṇe vā). Bởi vì các đức tính của Phật được bao hàm đầy đủ trong trí tuệ đạo A-la-hán (arahattamaggeneva hi buddhaguṇā nippadesā gahitā honti). Cả hai vị đại đệ tử (Aggasāvaka) cũng chứng đắc trí tuệ viên mãn của đệ tử (sāvakapāramīñāṇaṃ) qua đạo A-la-hán. Các bậc Độc Giác Phật chứng đắc trí tuệ Độc Giác (paccekabodhiñāṇaṃ). Các bậc Chánh Đẳng Giác chứng đắc toàn tri (sabbaññutaññāṇaṃ) và toàn bộ đức tính của Phật. Tất cả đều thành tựu qua đạo A-la-hán. Vì vậy, tuệ giác của Phật được gọi là sambodhi (toàn giác). Do đó, không có ai vượt trội hơn Đức Thế Tôn về giác ngộ. Vì thế Ngài nói: “không có ai hơn Đức Thế Tôn về giác ngộ” (bhagavatā bhiyyobhiññataro, yadidaṃ sambodhiyan ti).

♦ uḷārāti nghĩa là cao thượng, tối thượng (seṭṭhā). Từ “uḷāra” trong các câu như “uḷārāni khādanīyāni khādantī” (ăn các món ăn ngon) mang nghĩa ngọt ngào, trong “uḷārāya khalu bhavaṃ vacchāyano samaṇaṃ gotamaṃ pasaṃsāya pasaṃsatī” mang nghĩa cao thượng, trong “appamāṇo uḷāro obhāso” mang nghĩa rộng lớn. Ở đây, nó mang nghĩa cao thượng (seṭṭhe).

āsabhīti nghĩa là giống như tiếng gầm của con bò đực đầu đàn (usabhassa vācāsadisī), vững chãi, không lay động (acalā asampavedhī).

ekaṃso gahitoti nghĩa là được nắm giữ dứt khoát, không theo truyền khẩu, dòng thầy truyền, tin đồn, kinh điển truyền thống, suy đoán hình thức, chấp nhận quan điểm, lý luận logic hay phương pháp suy luận, mà như đã thấu suốt bằng tri kiến trực tiếp (paccakkhato ñāṇena paṭivijjhitvā viya), vì vậy gọi là “dứt khoát” (ekaṃso gahito), là lời nói kết luận chắc chắn (sanniṭṭhānakathāva kathitāti attho).

sīhanādoti nghĩa là tiếng rống sư tử tối thượng (seṭṭhanādo), giống như sư tử gầm vang trong rừng (vane unnādayantena sīhena viya), tiếng rống tối thượng (uttamanādo naditoti attho).

Tại sao Đức Phật bắt đầu bài pháp này? Để thử thách (anuyogadāpanatthaṃ). Một số người gầm tiếng sư tử nhưng khi bị chất vấn thì không chịu nổi, không chịu được sự kiểm tra, giống như khỉ rơi vào bùn lầy. Giống như sắt không tinh khiết bị nung cháy thành than. Nhưng một số người khi bị chất vấn vẫn chịu được, giống như vàng tinh khiết càng nung càng sáng. Tôn giả Sāriputta thuộc loại ấy. Vì biết Ngài chịu được sự chất vấn, Đức Phật mới bắt đầu bài pháp này để thử thách tiếng rống sư tử của Ngài.

Ở đây, sabbe te nghĩa là tất cả các vị ấy (sabbe te tayā). evaṃsīlāti nghĩa là có giới đức như vậy (magga-sīla, phala-sīla, lokiya-lokuttara-sīla). evaṃdhammāti ở đây ám chỉ các pháp thuộc về định (samādhipakkhā dhammā), nghĩa là có định như vậy (magga-samādhi, phala-samādhi, lokiya-lokuttara-samādhi). evaṃpaññāti nghĩa là có trí tuệ như vậy (magga-paññā v.v.). evaṃvihārino – vì trước đó đã bao gồm các pháp định, nên “trú xứ” đã được đề cập, nhưng tại sao lại nhắc lại? Vì Tôn giả đã nắm điều này. Câu này được nói để bao gồm cả định diệt thọ tưởng (nirodha-samāpatti). Vì vậy, nghĩa là các vị Thế Tôn ấy trú trong định diệt thọ tưởng như vậy.

evaṃvimuttāti ở đây có năm loại giải thoát: vikkhambhana-vimutti (giải thoát chế ngự), tadaṅga-vimutti (giải thoát từng phần), samuccheda-vimutti (giải thoát đoạn tận), paṭipassaddhi-vimutti (giải thoát lắng dịu), nissaraṇa-vimutti (giải thoát xuất ly). Trong đó: tám thiền chứng gọi là vikkhambhana-vimutti vì chế ngự được triền cái. Bảy tuệ quán (aniccānupassanā v.v.) gọi là tadaṅga-vimutti vì từ bỏ tạm thời các kiến chấp như thường kiến. Bốn đạo Thánh gọi là samuccheda-vimutti vì đoạn tận phiền não. Bốn quả Thánh gọi là paṭipassaddhi-vimutti vì phiền não lắng dịu nhờ sức mạnh của đạo. Niết-bàn gọi là nissaraṇa-vimutti vì vượt thoát, xa rời tất cả phiền não. Như vậy, evaṃvimuttāti ở đây bao hàm năm loại giải thoát ấy.

kiṃ nu te sāriputta ye te bhavissantīti – các vị Phật quá khứ đã diệt, trở thành vô tướng (apaṇṇattikabhāvaṃ gatā), như ngọn đèn tắt (dīpasikhā viya nibbutā). Vậy Thầy làm sao biết được? Còn các vị Phật tương lai chưa sinh, chưa xuất hiện, làm sao Thầy biết được đức tính của các vị ấy bằng tâm mình? Đây là câu hỏi chất vấn.

kiṃ pana tyāhaṃ sāriputta etarahīti – các vị Phật tương lai chưa sinh, chưa hiện hữu, làm sao biết được? Biết về các vị ấy giống như vẽ dấu chân trên không gian. Thầy hiện đang sống chung tịnh xá với Ta, cùng khất thực, ngồi bên phải khi nghe pháp, vậy đức tính của Ta Thầy có biết bằng tâm mình không? Đây là câu hỏi truy vấn. Tôn giả đều trả lời: “Không, bạch Thế Tôn.”

Tôn giả có điều biết và điều không biết. Ngài không phủ nhận điều đã biết, mà phủ nhận điều chưa biết. Khi bị chất vấn, Tôn giả nhận ra: “Đây không phải chất vấn về trí tuệ viên mãn của đệ tử (sāvakapāramīñāṇa), mà là về toàn tri (sabbaññutaññāṇa).” Vì vậy, Ngài không phủ nhận trí tuệ đệ tử mà phủ nhận toàn tri. Điều này chứng tỏ: Đức Thế Tôn có toàn tri biết được đức tính của các vị Phật quá khứ, hiện tại, tương lai về giới, định, tuệ, giải thoát – điều mà con không có.

tasmāti nghĩa là vì lý do “con không có tri kiến bao quát tâm các vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác quá khứ, hiện tại, tương lai, nhưng con đã hiểu qua suy luận từ Pháp” (dhammanvayo vidito), vì vậy.

abhikkhaṇaṃ bhāseyyāsīti nghĩa là nên thuyết giảng thường xuyên, lặp lại nhiều lần (punappunaṃ bhāseyyāsi), đừng để “sáng nay đã nói” thì trưa không nói, “hôm nay đã nói” thì ngày mai không nói.

sā pahīyissatīti nghĩa là khi nghe bài pháp này, những người ngu si có nghi ngờ hay hoang mang về Như Lai (“ngay cả Ngài Sāriputta – bậc trí tuệ đệ nhất – còn không biết hết tâm Phật, huống chi Như Lai là vô lượng”) sẽ đoạn trừ nghi ngờ ấy.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

II. Phẩm Nàlanda

12. II. Nàlanda (Tạp 18,9 Ðại 2,130c) (S.v,159)

1) Một thời, Thế Tôn trú ở Nàlanda, tại rừng Pavàrikamba.

2) Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn... Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

3) -- Như vậy, bạch Thế Tôn, là lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác.

-- Thật là đại ngôn (ulàra), này Sàriputta, là lời tuyên bố như con ngưu vương này của Ông, lời tuyên bố một chiều, tiếng rống của con sư tử: "Như vậy là lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn hay một Bà-la-môn nào khác, có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác".

4) Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, tất cả các vị Thế Tôn ấy, Ông có thể biết rõ tâm niệm với tâm của Ông rằng: "Các bậc Thế Tôn ấy đã có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã có pháp như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã có tuệ như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã có hạnh trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã giải thoát như vậy"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

5) -- Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời vị lai, tất cả các vị Thế Tôn ấy, Ông có thể biết rõ tâm niệm với tâm của Ông: "Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có pháp như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có tuệ như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có hạnh trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ giải thoát như vậy"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

6) -- Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời hiện tại, tất cả các bậc Thế Tôn ấy, Ông có thể biết rõ tâm niệm với tâm của Ông rằng: "Các bậc Thế Tôn ấy hiện có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có pháp như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có tuệ như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có hạnh trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có giải thoát như vậy"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

7) -- Và này Sàriputta, ở đây, Ông không có chánh trí với tâm của Ông biết được tâm của các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quá khứ, vị lai, hiện tại; thời này Sàriputta, do ý nghĩa gì Ông lại thốt ra lời đại ngôn, lời tuyên bố như con ngưu vương, lời tuyên bố một chiều, tiếng rống tiếng con sư tử của Ông rằng: "Như vậy là lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn, hay Bà-la-môn nào khác, có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác"?

-- Bạch Thế Tôn, con không có chánh trí với tâm của con biết được tâm các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quá khứ, vị lai, hiện tại, nhưng bạch Thế Tôn, con biết được pháp truyền thống (dhammanvayo).

8) Ví như, bạch Thế Tôn, tại một thành ở biên giới, với những hào lũy kiên cố, vững chắc, với những thành quách, tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa ra vào. Tại đấy, có một người gác cửa sáng suốt, thông minh, có trí, không cho vào những người lạ mặt, chỉ cho vào những người quen mặt. Trong khi người ấy đi tuần đến con đường xung quanh thành trì ấy để xem, không thấy có một khe hở ở tường nào, hay lỗ hổng ở tường nào, cho đến một con mèo có thể lọt qua được. Và người ấy suy nghĩ rằng: "Có những sinh loại thô lớn nào đi vào hay đi ra ngôi thành này, tất cả phải đi vào hay đi ra cửa này". Như vậy, bạch Thế Tôn, là pháp truyền thống mà con được biết.

9) Bạch Thế Tôn, phàm có những bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nào trong thời quá khứ, tất cả bậc Thế Tôn ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bạch Thế Tôn, phàm có những bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nào trong thời vị lai, tất cả các bậc Thế Tôn ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái, các pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, sẽ chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Còn Thế Tôn, bạch Thế Tôn, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng giác.

10) -- Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Ông hãy luôn luôn thuyết pháp thoại này cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, các nam cư sĩ, các nữ cư sĩ. Này Sàriputta, nếu có những người ngu si nào còn có những nghi ngờ, hay những do dự đối với Như Lai sau khi nghe pháp thoại này của Ta, sự nghi ngờ, do dự ấy của họ đối với Như Lai sẽ trừ diệt.