|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 27 tháng 01, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 599. KHÔNG BIẾT HẾT NHƯNG VẪN BIẾT RÕ - Kinh Nālandā (Nālandāsuttaṃ) .
Niềm tin chân chánh không dựa trên cảm tính hay thẩm quyền mù quáng, mà
dựa trên sự hiểu biết đúng Pháp. Tôn giả Sāriputta tuy không có
toàn tri như chư Phật, cũng không có khả năng trực tiếp biết tâm
của chư Phật ba đời, nhưng ngài vẫn có thể khẳng định tính vô
thượng của Đức Phật nhờ trí suy luận hợp Pháp (dhammanvaya,
nayaggāha). Qua hình ảnh thành trì biên địa chỉ có một cổng duy
nhất, bài kinh cho thấy rằng con đường giác ngộ của tất cả chư
Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai đều đồng quy ở một lộ
trình duy nhất: đoạn trừ năm triền cái, an trú vững chắc trong
Tứ niệm xứ, tu tập đầy đủ Bảy giác chi, và chứng ngộ Vô thượng
Chánh đẳng giác. Điều này xác lập rằng sự giác ngộ không phải là
một đặc ân cá biệt, mà là kết quả tất yếu của một cấu trúc Pháp
bất biến. Kinh Văn
Ekaṃ samayaṃ bhagavā nāḷandāyaṃ viharati pāvārikambavane.
Atha kho āyasmā sārīputto yena bhagavā tenupasaṅkami upasaṅkamitvā
bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho
āyasmā sārīputto bhagavantaṃ etadavoca evaṃ pasannāhaṃ { 1 Ma.
pasanno ahaṃ. Yu. pasannohaṃ. evamupari.} bhante bhagavati na
cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño
samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṃ
sambodhiyanti. Uḷārā kho
tyāyaṃ sārīputta āsabhivācā bhāsitā
ekaṃso gahito sīhanādo nadito
evaṃ pasannāhaṃ bhante bhagavati na cāhu na ca bhavissati na
cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā
bhiyyobhiññataro yadidaṃ sambodhiyanti.
Một thuở Đức Thế Tôn ngự tại Nālandā, trong vườn xoài của
Pāvārika. Rồi Tôn giả Sāriputta đến gặp Đức Thế Tôn, đảnh lễ
Ngài, ngồi xuống một bên và thưa:
“Bạch Thế Tôn, con có niềm tin đối với Đức Thế Tôn rằng:
Không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ, hiện tại
hay tương lai hơn Đức Thế Tôn về sự giác ngộ.”
“Thật là lời tuyên bố cực mạnh của Thầy, này Sāriputta, Thầy
đã cất lên tiếng rống sư tử với sự dứt khoát, quyết đoán: ‘Bạch
Thế Tôn, con có niềm tin như vậy đối với Đức Thế Tôn rằng không
có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ, hiện tại hay
tương lai hơn Đức Thế Tôn về sự giác ngộ.’
Này Sāriputta, Thầy với tâm tư của mình có cảm nhận trọn vẹn
tâm của tất cả các vị
A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ và biết rõ rằng: ‘Những
vị Thế Tôn ấy có giới đức như vậy, có công đức như vậy, có trí
tuệ như vậy, có trú xứ như vậy, có giải thoát như vậy’ chăng?”
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Vậy này Sāriputta, Thầy với tâm tư của mình có cảm nhận
trọn vẹn tâm của tất cả các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác sẽ xuất
hiện trong tương lai và biết rõ rằng: ‘Những vị Thế Tôn ấy sẽ có
giới đức như vậy, có công đức như vậy, có trí tuệ như vậy, có
trú xứ như vậy, có giải thoát như vậy’ chăng?”
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Vậy này Sāriputta, Thầy với tâm tư của mình có cảm nhận
trọn vẹn tâm của chính Ta – hiện tại là A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác – và biết rõ rằng: ‘Đức Thế Tôn có giới đức như vậy, có
công đức như vậy, có trí tuệ như vậy, có trú xứ như vậy, có giải
thoát như vậy’ chăng?”
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Này Sāriputta, khi Thầy với tâm tư của mình không cảm nhận
trọn vẹn tâm của các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ,
tương lai và hiện tại, vậy tại sao Thầy lại tuyên bố lời cao cả
ấy và gầm lên tiếng rống sư tử dứt khoát, quyết đoán: ‘Bạch Thế
Tôn, con có niềm tin như vậy đối với Đức Thế Tôn rằng không có
một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ, hiện tại hay
tương lai hơn Đức Thế Tôn về sự giác ngộ’?”
“Bạch Thế Tôn, con với tâm tư của mình không cảm nhận trọn
vẹn tâm của các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ,
tương lai và hiện tại, nhưng con đã hiểu điều này qua suy luận
từ Pháp (dhammānusandhāna). Giả sử, bạch Thế Tôn, một vị vua có
một thành trì biên giới với tường thành kiên cố, hào sâu, cổng
thành vững chãi, chỉ có một cửa ra vào duy nhất. Người gác cổng
ở đó là người khôn ngoan, có năng lực và thông minh; người ấy
ngăn chặn người lạ và cho phép người quen vào. Khi đi tuần quanh
thành, người ấy không thấy một khe hở hay lỗ hổng nào trên tường
thành, dù chỉ đủ cho một con mèo chui qua. Người ấy có thể nghĩ:
‘Bất kỳ sinh vật lớn nào vào hay ra khỏi thành này đều phải đi
qua cửa thành duy nhất ấy.’
Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con đã hiểu điều này qua suy luận từ
Pháp: Tất cả các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã xuất hiện trong
quá khứ, trước hết đều đã đoạn trừ năm triền cái – những ô nhiễm
tâm và làm suy yếu trí tuệ; sau đó, với tâm khéo thiết lập trong
bốn niệm xứ, các vị ấy đã tu tập đúng cách bảy giác chi; nhờ đó
các vị ấy đã giác ngộ đến sự Chánh Đẳng Giác vô thượng. Và, bạch
Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác sẽ xuất hiện
trong tương lai, trước hết cũng sẽ đoạn trừ năm triền cái –
những ô nhiễm tâm và làm suy yếu trí tuệ; sau đó, với tâm khéo
thiết lập trong bốn niệm xứ, các vị ấy sẽ tu tập đúng cách bảy
giác chi; nhờ đó các vị ấy sẽ giác ngộ đến sự Chánh Đẳng Giác vô
thượng. Và, bạch Thế Tôn, chính Đức Thế Tôn hiện tại là
A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, trước hết đã đoạn trừ năm triền cái –
những ô nhiễm tâm và làm suy yếu trí tuệ; sau đó, với tâm khéo
thiết lập trong bốn niệm xứ, Ngài đã tu tập đúng cách bảy giác
chi; nhờ đó Ngài đã giác ngộ đến sự Chánh Đẳng Giác vô thượng.”
“Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Vì vậy, này Sāriputta,
Thầy nên thường xuyên thuyết giảng bài Pháp này cho các Tỳ-khưu,
Tỳ-khưu-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ. Dù một số người ngu si có thể
còn hoang mang hay nghi ngờ về Như Lai, khi nghe bài Pháp này,
sự hoang mang hay nghi ngờ của họ về Như Lai sẽ được đoạn trừ.”
Chú Thích
Trong bài kinh này, Đức Phật đáp lại lời tuyên bố đức tin đầy mạnh mẽ của
Tôn giả Sāriputta. Sāriputta nói rằng không có bất kỳ vị sa-môn
hay bà-la-môn nào trong quá khứ, vị lai hay hiện tại vượt hơn
Đức Phật về giác ngộ. Đức Phật đáp rằng Sāriputta đã nói:
Ngài Bohi trong bản tiếng Anh dịch “lofty” (cao cả) tương ứng với từ Pāli
uḷārā, được chú giải là một kiểu lời nói cao quý, cao thượng,
siêu vượt.
Vì sao Đức Phật gọi
đó là “lời nói cao cả”?
Theo Sớ Giải, Đức Phật đã gặn hỏi Tôn giả Sāriputta: có trực tiếp biết
trọn vẹn tâm của tất cả chư Phật trong quá khứ, vị lai, hiện tại
không? Tôn giả Sāriputta thừa nhận rằng không có những khả năng
ấy. Vậy vì sao ngài vẫn đưa ra một lời tuyên bố “khẳng định mạnh
mẽ” như thế? Ngài giải thích bằng ví dụ người giữ cổng thành:
Một thành trì kiên cố chỉ có một cổng duy nhất. Người giữ cổng
tuy không thấy mọi sinh vật ra vào, nhưng biết chắc rằng bất cứ
ai ra hay vào đều phải đi qua cổng ấy.
Cũng vậy, Tôn giả Sāriputta nói rằng: Tất cả chư Phật trong quá khứ, vị
lai và hiện tại đều giác ngộ bằng cùng một con đường: đoạn trừ
năm triền cái, an trú bốn niệm xứ, tu tập bảy giác chi. Do đó,
ngài biết rằng sự giác ngộ của Đức Phật là vô thượng, không ai
vượt hơn.
Lời dạy của Đức Phật, dù là khẳng định hay gặn hỏi lại đều chỉ là tán thán
và làm sự việc sáng tỏ. Điều nầy rất quan trọng để hiểu vì trong
bản dịch Trường Bộ Kinh và Tương Ưng Bộ Kinh đều dịch là: Thật
là đại ngôn (ulàra), này Sàriputta, là lời tuyên bố như con ngưu
vương này của Ông, lời tuyên bố một chiều, tiếng rống của con sư
tử: "Như vậy là lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể
đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn hay một
Bà-la-môn nào khác, có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về
Chánh giác". Dịch như vậy dễ khiến người đọc hiểu lầm là cái
nhìn của Tôn giả Sāriputta là nông cạn và bị Đức Phật chỉnh sửa.
Tôn giả Sāriputta là bậc thượng trí. Ngài không đưa ra kết luận nông nỗi.
Điều Ngài tuyên bố hoàn toàn đúng với các bậc toàn giác: chỉ có
sự đồng đẳng về Phật trí giữa các vị Chánh Đẳng Chánh Giác. Nói
cách khác về phương diện nầy không có vị nào vượt trội hơn vị
nào.
Ví dụ người giữ cổng thành không chỉ là
một hình ảnh minh họa dễ hiểu, mà là một lập luận nhận thức học
(epistemology) rất tinh tế của Phật giáo. Có thể phân tích ở
nhiều tầng như sau:
1. Cấu trúc của ví dụ: không phải “biết bằng thấy”, mà là “biết bằng quy
luật”
Người giữ cổng không biết từng cá thể ra vào thành phố. Ông không cần
biết:
Nhưng ông biết chắc một điều:
Bất cứ sinh vật lớn nào ra vào thành, đều phải đi qua cánh cổng này.
Đây là tri thức dựa trên cấu trúc,
không phải tri thức dựa trên liệt kê dữ kiện.
Cũng vậy, Tôn giả Sāriputta không có tha tâm thông để đọc tâm chư Phật ba
đời, nhưng Ngài thấy trọn vẹn cấu trúc của con đường giác ngộ.
2. “Cổng thành” là đạo lộ duy nhất của chánh giác
Trong lời giải của Tôn giả Sāriputta, “cổng thành duy nhất” chính là:
Đây không phải là một con đường trong nhiều con đường, mà là cấu trúc tất
yếu của giác ngộ. Ý nghĩa
rất mạnh: Không có Phật nào giác ngộ bằng con đường khác. Dù là:
Phật quá khứ, vị lai, hiện
tại. Đạo lộ là một (ekāyano maggo)
3. Điểm then chốt: Tôn giả Sāriputta không so sánh “con người”, mà so sánh
“đạo lý”. Ngài không nói:
Mà Ngài nói: Tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác đều phải đi qua cùng một cửa.
Và Đức Phật hiện tại đã đi trọn vẹn, viên mãn, không thiếu sót cửa ấy.
Do đó, không phải tự cao, Không phải tán thán mù quáng, mà là kết luận tất
yếu từ Pháp. Đây chính là điều Đức Phật xác nhận là sīhanāda –
tiếng rống sư tử có căn cứ.
4. Vì sao Đức Phật “gặn hỏi” Tôn giả Sāriputta?
Đức Phật liên tục hỏi:
Không phải để bác bỏ Tôn giả Sāriputta, mà để làm sáng tỏ loại trí tuệ mà
Tôn giả Sāriputta đang dùng.
Kết luận ngầm của Đức Phật: Đây không phải là tuệ thần thông mà đây là
dhammanvaya ñāṇa – trí suy luận đúng theo Pháp
Một loại trí không vượt ranh giới của bậc Thánh đệ tử nhưng chạm sát biên
giới của Nhất Thiết Trí
“Lời nói vang dội như tiếng rống” (āsabhī vācā) nghĩa là giống như tiếng rống của con bò đực đầu đàn (usabha), vững chắc,
không dao động, không lung lay.
evaṃdhammā
là các pháp thuộc về phần định (samādhipakkhā dhammā), và nói rằng cụm
evaṃvihārino (những vị an trú như vậy) được thêm vào nhằm bao
hàm cả sự chứng đắc định diệt thọ tưởng (nirodhasamāpatti).
Api ca dhammanvayo vidito.
Trí tuệ suy luận (anumānañāṇa) đã khởi lên, phù hợp với hệ quả của sự hiểu biết Pháp nơi tự thân vị ấy;
phương pháp nắm bắt lý lẽ (nayaggāha) đã được thấu hiểu.
Theo Sớ Giải, trong đoạn này, bốn niệm xứ được hiểu là tuệ quán
(vipassanā), bảy giác chi được hiểu là Thánh đạo, và Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác chính là quả A-la-hán. Hoặc cũng có thể
hiểu rằng bảy giác chi là hỗn hợp, bao gồm cả tuệ quán lẫn Thánh
đạo.
Kết luận này cũng xuất hiện ở cuối Trường Bộ kinh số 28 (DN 28), tại DN
III 116, sau phần tán thán Đức Phật dài và trang trọng hơn rất
nhiều.
Sớ Giải
378. dutiyavaggassa dutiye nālandāyanti nālandāti
evaṃnāmake nagare, taṃ nagaraṃ gocaragāmaṃ katvā.
pāvārikambavaneti dussapāvārikaseṭṭhino ambavane. taṃ kira tassa
uyyānaṃ ahosi. so bhagavato dhammadesanaṃ sutvā bhagavati
pasanno tasmiṃ uyyāne kuṭileṇamaṇḍapādipaṭimaṇḍitaṃ bhagavato
vihāraṃ katvā niyyātesi. so vihāro jīvakambavanaṃ viya
pāvārikambavanantveva saṅkhaṃ gato. tasmiṃ pāvārikambavane
viharatīti attho. ♦ evaṃpasannoti evaṃ uppannasaddho, evaṃ
saddahāmīti attho.
378. Trong phần thứ hai của chương thứ hai: nālandāyanti
nghĩa là tại thành phố tên là Nālandā (nālandāti evaṃnāmake nagare). Ngài lấy thành phố ấy làm làng khất thực (taṃ nagaraṃ gocaragāmaṃ katvā).
pāvārikambavaneti nghĩa là trong vườn xoài của Pāvārika
(dussapāvārikaseṭṭhino ambavane). Vườn ấy vốn là công viên của
ông chủ buôn vải Pāvārika. Nghe Đức Phật thuyết pháp, ông phát
sinh niềm tin, nên xây dựng tịnh xá với các lều, hang, đình, lầu
các dành cho Đức Phật trong vườn ấy và cúng dường. Tịnh xá ấy
được gọi tên là Pāvārikambavana (vườn xoài của Pāvārika), giống
như Jīvakaṃbavana (vườn xoài của Jīvaka). Ý nghĩa là Ngài trú
tại vườn xoài Pāvārika ấy.
♦ evaṃpasannoti nghĩa là phát sinh niềm tin như vậy (evaṃ uppannasaddho),
nghĩa là tin tưởng như vậy (evaṃ saddahāmīti attho).
bhiyyobhiññataroti nghĩa là hơn hẳn về sự thông đạt
(bhiyyataro abhiññāto), hoặc hơn hẳn về trí tuệ siêu việt
(bhiyyatarābhiyyo vā), nghĩa là vượt trội hơn về trí tuệ
(uttaritarañāṇoti attho).
sambodhiyanti nghĩa là về sự giác ngộ toàn tri
(sabbaññutaññāṇe) hoặc về trí tuệ đạo A-la-hán
(arahattamaggañāṇe vā). Bởi vì các đức tính của Phật được bao
hàm đầy đủ trong trí tuệ đạo A-la-hán (arahattamaggeneva hi
buddhaguṇā nippadesā gahitā honti). Cả hai vị đại đệ tử
(Aggasāvaka) cũng chứng đắc trí tuệ viên mãn của đệ tử
(sāvakapāramīñāṇaṃ) qua đạo A-la-hán. Các bậc Độc Giác Phật
chứng đắc trí tuệ Độc Giác (paccekabodhiñāṇaṃ). Các bậc Chánh
Đẳng Giác chứng đắc toàn tri (sabbaññutaññāṇaṃ) và toàn bộ đức
tính của Phật. Tất cả đều thành tựu qua đạo A-la-hán. Vì vậy,
tuệ giác của Phật được gọi là sambodhi (toàn giác). Do đó, không
có ai vượt trội hơn Đức Thế Tôn về giác ngộ. Vì thế Ngài nói:
“không có ai hơn Đức Thế Tôn về giác ngộ” (bhagavatā
bhiyyobhiññataro, yadidaṃ sambodhiyan ti).
♦ uḷārāti nghĩa là cao thượng, tối thượng (seṭṭhā). Từ “uḷāra” trong các
câu như “uḷārāni khādanīyāni khādantī” (ăn các món ăn ngon) mang
nghĩa ngọt ngào, trong “uḷārāya khalu bhavaṃ vacchāyano samaṇaṃ
gotamaṃ pasaṃsāya pasaṃsatī” mang nghĩa cao thượng, trong
“appamāṇo uḷāro obhāso” mang nghĩa rộng lớn. Ở đây, nó mang
nghĩa cao thượng (seṭṭhe).
āsabhīti nghĩa là giống như tiếng gầm của con
bò đực đầu đàn (usabhassa vācāsadisī), vững chãi, không lay động
(acalā asampavedhī).
ekaṃso gahitoti nghĩa là được nắm giữ dứt khoát, không
theo truyền khẩu, dòng thầy truyền, tin đồn, kinh điển truyền
thống, suy đoán hình thức, chấp nhận quan điểm, lý luận logic
hay phương pháp suy luận, mà như đã thấu suốt bằng tri kiến trực
tiếp (paccakkhato ñāṇena paṭivijjhitvā viya), vì vậy gọi là “dứt
khoát” (ekaṃso gahito), là lời nói kết luận chắc chắn
(sanniṭṭhānakathāva kathitāti attho).
sīhanādoti nghĩa là tiếng rống sư tử tối thượng
(seṭṭhanādo), giống như sư tử gầm vang trong rừng (vane
unnādayantena sīhena viya), tiếng rống tối thượng (uttamanādo
naditoti attho).
Tại sao Đức Phật bắt đầu bài pháp này? Để thử thách (anuyogadāpanatthaṃ). Một số người gầm tiếng sư tử nhưng khi
bị chất vấn thì không chịu nổi, không chịu được sự kiểm tra,
giống như khỉ rơi vào bùn lầy. Giống như sắt không tinh khiết bị
nung cháy thành than. Nhưng một số người khi bị chất vấn vẫn
chịu được, giống như vàng tinh khiết càng nung càng sáng. Tôn
giả Sāriputta thuộc loại ấy. Vì biết Ngài chịu được sự chất vấn,
Đức Phật mới bắt đầu bài pháp này để thử thách tiếng rống sư tử
của Ngài.
Ở đây, sabbe te nghĩa là tất cả các vị ấy (sabbe te tayā). evaṃsīlāti nghĩa là có giới đức như vậy (magga-sīla,
phala-sīla, lokiya-lokuttara-sīla). evaṃdhammāti ở đây ám chỉ
các pháp thuộc về định (samādhipakkhā dhammā), nghĩa là có định
như vậy (magga-samādhi, phala-samādhi,
lokiya-lokuttara-samādhi). evaṃpaññāti nghĩa là có trí tuệ như
vậy (magga-paññā v.v.). evaṃvihārino – vì trước đó đã bao gồm
các pháp định, nên “trú xứ” đã được đề cập, nhưng tại sao lại
nhắc lại? Vì Tôn giả đã nắm điều này. Câu này được nói để bao
gồm cả định diệt thọ tưởng (nirodha-samāpatti). Vì vậy, nghĩa là
các vị Thế Tôn ấy trú trong định diệt thọ tưởng như vậy.
evaṃvimuttāti
ở đây có năm loại giải thoát: vikkhambhana-vimutti (giải thoát chế ngự), tadaṅga-vimutti (giải thoát
từng phần), samuccheda-vimutti (giải thoát đoạn tận),
paṭipassaddhi-vimutti (giải thoát lắng dịu), nissaraṇa-vimutti
(giải thoát xuất ly). Trong đó: tám thiền chứng gọi là
vikkhambhana-vimutti vì chế ngự được triền cái. Bảy tuệ quán
(aniccānupassanā v.v.) gọi là tadaṅga-vimutti vì từ bỏ tạm thời
các kiến chấp như thường kiến. Bốn đạo Thánh gọi là
samuccheda-vimutti vì đoạn tận phiền não. Bốn quả Thánh gọi là
paṭipassaddhi-vimutti vì phiền não lắng dịu nhờ sức mạnh của
đạo. Niết-bàn gọi là nissaraṇa-vimutti vì vượt thoát, xa rời tất
cả phiền não. Như vậy, evaṃvimuttāti ở đây bao hàm năm loại giải
thoát ấy.
kiṃ nu te sāriputta ye te bhavissantīti – các vị Phật quá
khứ đã diệt, trở thành vô tướng (apaṇṇattikabhāvaṃ gatā), như ngọn đèn tắt
(dīpasikhā viya nibbutā). Vậy Thầy làm sao biết được? Còn các vị Phật tương lai chưa sinh, chưa xuất hiện, làm sao Thầy biết
được đức tính của các vị ấy bằng tâm mình? Đây là câu hỏi chất
vấn.
kiṃ pana tyāhaṃ sāriputta etarahīti – các vị Phật tương lai
chưa sinh, chưa hiện hữu, làm sao biết được? Biết về các vị ấy giống như vẽ dấu
chân trên không gian. Thầy hiện đang sống chung tịnh xá với Ta,
cùng khất thực, ngồi bên phải khi nghe pháp, vậy đức tính của Ta
Thầy có biết bằng tâm mình không? Đây là câu hỏi truy vấn. Tôn
giả đều trả lời: “Không, bạch Thế Tôn.”
Tôn giả có điều biết và điều không biết. Ngài không phủ nhận điều đã biết, mà
phủ nhận điều chưa biết. Khi bị chất vấn, Tôn giả nhận ra: “Đây
không phải chất vấn về trí tuệ viên mãn của đệ tử
(sāvakapāramīñāṇa), mà là về toàn tri (sabbaññutaññāṇa).” Vì
vậy, Ngài không phủ nhận trí tuệ đệ tử mà phủ nhận toàn tri.
Điều này chứng tỏ: Đức Thế Tôn có toàn tri biết được đức tính
của các vị Phật quá khứ, hiện tại, tương lai về giới, định, tuệ,
giải thoát – điều mà con không có.
tasmāti nghĩa là vì lý do “con không có tri
kiến bao quát tâm các vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác quá khứ, hiện
tại, tương lai, nhưng con đã hiểu qua suy luận từ Pháp”
(dhammanvayo vidito), vì vậy.
abhikkhaṇaṃ bhāseyyāsīti nghĩa là
nên thuyết giảng thường xuyên, lặp lại nhiều lần (punappunaṃ
bhāseyyāsi), đừng để “sáng nay đã nói” thì trưa không nói, “hôm
nay đã nói” thì ngày mai không nói.
sā pahīyissatīti nghĩa là
khi nghe bài pháp này, những người ngu si có nghi ngờ hay hoang
mang về Như Lai (“ngay cả Ngài Sāriputta – bậc trí tuệ đệ nhất –
còn không biết hết tâm Phật, huống chi Như Lai là vô lượng”) sẽ
đoạn trừ nghi ngờ ấy.
|