Trong không gian tĩnh lặng của Nālakagāma, một ngọn đèn lớn
lặng lẽ tắt. Tôn giả Sāriputta – người được Đức Thế Tôn
gọi là “Dhammasenāpati” (Chủ Soái Của Chánh Pháp), bậc Trí tuệ
đệ nhất trong hàng ngàn đệ tử Phật – đã an nhiên thị tịch
Niết-bàn, để lại sau lưng một khoảng trống không gì lấp đầy nổi
trong Tăng chúng.
Ngài ra đi không phải trong tiếng kèn trống rền vang, không phải giữa muôn
trùng hoa thơm cúng dường, mà trong căn phòng nhỏ của chính ngôi
nhà mẹ già – nơi Ngài từng chào đời, từng lớn lên trong tà kiến,
rồi trở lại để thắp sáng ngọn đuốc chân lý cuối cùng cho chính
người mẹ đã sinh thành. Ngài nằm đó, thân thể mỏi mệt vì bệnh,
nhưng tâm sáng như sao, an lạc như hồ thu không gợn sóng. Trước
khi nhắm mắt, Ngài vẫn an nhiên, vẫn nhẹ nhàng
từ biệt chư
Tỳ-khưu, vẫn dùng chút
hơi tàn cuối cùng để thuyết pháp cho mẹ – để bà từ chỗ còn nghi
hoặc được bước vào dòng thánh vức. Một kiếp người, một sứ mệnh
viên mãn: độ mẹ, độ chúng sinh, rồi viên tịch vô dư Niết-bàn.
Khi thân Ngài nằm nghiêng bên phải, nhập lần lượt chín thứ đệ định, đại
địa rung chuyển – không phải vì đau buồn, mà vì cả đất trời như
không còn sức nâng đỡ đống công đức khổng lồ ấy nữa. Bốn Đại
Thiên Vương, Đế Thích, Đại Phạm lần lượt hiện xuống đảnh lễ, rồi
lặng lẽ rời đi theo lời Ngài: “Đã có người hầu bệnh rồi.” Ngay
cả chư thiên cũng phải cúi đầu trước sự khiêm cung và trí tuệ
viên mãn của bậc đại đệ tử Phật.
Ngài ra đi như ngọn gió lớn lặng lẽ ngừng thổi, như cành cây lớn nhất trên
cây đại thụ có lõi cứng bị gãy lìa. Đức Phật đã từng nói: “Làm
sao có thể mong rằng cái gì đã sinh, đã thành, đã hữu vi, chịu
sự hoại diệt thì đừng hoại diệt? Đó là điều bất khả.” Và Ngài –
người hiểu rõ nhất lời ấy – đã chấp nhận sự hoại diệt của thân
một cách an nhiên nhất, để lại cho chúng ta bài học cuối cùng:
ngay cả bậc Trí tuệ đệ nhất cũng không tránh khỏi vô thường,
nhưng chính sự an nhiên trước vô thường mới là trí tuệ chân
thật.
Kinh Văn
Ekaṃ samayaṃ bhagavā nāḷandāyaṃ
viharati pāvārikambavane. Atha kho āyasmā sārīputto yena bhagavā
tenupasaṅkami upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ
nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā sārīputto bhagavantaṃ
etadavoca evaṃ pasannāhaṃ { 1 Ma. pasanno ahaṃ. Yu. pasannohaṃ.
evamupari.} bhante bhagavati na cāhu na ca bhavissati na
cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā
bhiyyobhiññataro yadidaṃ sambodhiyanti. Uḷārā kho tyāyaṃ
sārīputta āsabhivācā bhāsitā ekaṃso gahito sīhanādo nadito evaṃ
pasannāhaṃ bhante bhagavati na cāhu na ca bhavissati na cetarahi
vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro
yadidaṃ sambodhiyanti.
[727] Kinnu te sārīputta ye te ahesuṃ atītamaddhānaṃ arahanto
sammāsambuddhā sabbe te bhagavanto cetasā ceto paricca viditā
evaṃsīlā te bhagavanto ahesuṃ iti vā evaṃdhammā te bhagavanto
ahesuṃ iti vā evaṃpaññā te bhagavanto ahesuṃ iti vā evaṃvihārino
te bhagavanto ahesuṃ iti vā evaṃvimuttā te bhagavanto ahesuṃ iti
vāti. No hetaṃ bhante.
[728] Kiṃ pana te sārīputta ye te bhavissanti anāgatamaddhānaṃ
arahanto sammāsambuddhā sabbe te bhagavanto cetasā ceto paricca
viditā evaṃsīlā te bhagavanto bhavissanti iti vā evaṃdhammā te
bhagavanto bhavissanti iti vā evaṃpaññā te bhagavanto
bhavissanti iti vā evaṃvihārino te bhagavanto bhavissanti Iti vā
evaṃvimuttā te bhagavanto bhavissanti iti vāti. No hetaṃ bhante.
[729] Kiṃ pana tyāhaṃ sārīputta etarahi arahaṃ sammāsambuddho
cetasā ceto paricca vidito evaṃsīlo bhagavā iti vā evaṃdhammo
bhagavā iti vā evaṃpañño bhagavā iti vā evaṃvihārī bhagavā iti
vā evaṃvimutto bhagavā iti vāti. No hetaṃ bhante.
[730] Ettha ca te sārīputta atītānāgatapaccuppannesu arahantesu
sammāsambuddhesu cetopariyāyañāṇaṃ { 1 Ma. cetopariyañṇāṇaṃ.
evamupari.} natthi. Atha kiñcarahi tyāhaṃ sārīputta uḷārā
āsabhivācā bhāsitā ekaṃso gahito sīhanādo nadito evaṃ pasannāhaṃ
bhante bhagavati na cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati
añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṃ
sambodhiyanti. Na kho me taṃ { 2 Ma. ayaṃ pāṭho natthi.} bhante
atītānāgatapaccuppannesu arahantesu sammāsambuddhesu
cetopariyāyañāṇaṃ atthi api ca dhammanvayo vidito.
[731] Seyyathāpi bhante rañño paccantimaṃ nagaraṃ daḷhaddhālaṃ {
3 Sī. Yu. daḷhuddālaṃ. Ma. daḷhuddhāpaṃ.} daḷhapākāratoraṇaṃ
ekadvāraṃ tatrassa dovāriko paṇḍito byatto medhāvī aññātānaṃ
nivāretā ñātānaṃ pavesetā. So tassa nagarassa samantā
anupariyāyapathaṃ anukkamamāno na passeyya. Pākārasandhiṃ vā
pākāravivaraṃ vā antamaso viḷāranissakkanamattaṃpi { 1 Sī. Ma.
viḷāranikkamanamattampi. Yu. biḷāranissakkanamattaṃpi.}.
Tassa evamassa ye kho keci oḷārikā pāṇā imaṃ nagaraṃ pavisanti
vā nikkhamanti vā sabbe te imināva dvārena pavisanti vā
nikkhamanti vāti. Evameva kho me bhante dhammanvayo vidito yepi
te bhante ahesuṃ atītamaddhānaṃ arahanto sammāsambuddhā sabbe te
bhagavanto pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya
dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu supatiṭṭhitacittā satta
bojjhaṅge yathābhūtaṃ bhāvetvā anuttaraṃ sammāsambodhiṃ
abhisambujjhiṃsu.
Yepi te bhante bhavissanti anāgatamaddhānaṃ arahanto
sammāsambuddhā sabbe te bhagavanto pañca nīvaraṇe pahāya cetaso
upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu
supatiṭṭhitacittā satta bojjhaṅge yathābhūtaṃ bhāvetvā anuttaraṃ
sammāsambodhiṃ abhisambujjhissanti. Bhagavāpi bhante etarahi
arahaṃ sammāsambuddho pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese
paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu supatiṭṭhitacitto
satta bojjhaṅge yathābhūtaṃ bhāvetvā anuttaraṃ sammāsambodhiṃ
abhisambuddhoti.
[732] Sādhu sādhu sārīputta tasmā tiha tvaṃ sārīputta imaṃ
dhammapariyāyaṃ abhikkhaṇaṃ bhāseyyāsi bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ
upāsakānaṃ upāsikānaṃ. Yesampi hi sārīputta moghapurisānaṃ
bhavissati tathāgate Kaṅkhā vā vimati vā tesampimaṃ
dhammapariyāyaṃ sutvā yā tathāgate kaṅkhā vā vimati vā sā
pahīyissatīti.
Một thuở, Đức Thế Tôn ngự tại Sāvatthī, trong Kỳ Viên, ngôi già
lam của ông Anāthapiṇḍika (dâng cúng).
Vào lúc ấy, Tôn giả Sāriputta đang trú giữa dân chúng xứ
Magadha, tại làng Nālakagāma; Ngài lâm bệnh, cảm thọ thân khổ,
tình trạng suy kiệt.
Tôn giả “Sa-di-Cunda” là thị giả của Ngài. Rồi do bệnh ấy, Tôn
giả Sāriputta đã viên tịch vô dư y Niết-bàn.
Tôn giả Cunda, mang theo bình bát và y của Ngài Sāriputta, đi
đến Sāvatthī, đến Kỳ Viên, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại
đó, Tôn giả Cunda đi đến gặp Tôn giả Ānanda, đảnh lễ, ngồi xuống
một bên và thưa rằng: “Bạch Tôn giả, Ngài Sāriputta đã viên tịch
Niết-bàn. Đây là y bát
của Ngài.”
“Hiền giả Cunda, chúng ta nên đến gặp Thế Tôn để trình bày tin
này.
Nào hiền giả Cunda, hãy cùng tôi đến bạch với Thế Tôn về việc
này.”
“Dạ vâng, bạch Tôn giả,” Tôn giả Cunda đáp.
Rồi Tôn giả Ānanda và Tôn giả Cunda đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ
Ngài và ngồi xuống một bên. Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
“Bạch Đức Thế Tôn, Tôn giả Cunda này nói rằng Tôn giả Sāriputta
đã viên tịch Niết-bàn. Đây là y bát
của Ngài. Bạch Thế Tôn, từ khi con nghe tin Tôn giả
Sāriputta viên tịch, thân con như bị cho uống thuốc mê, tâm trí
rối loạn, các pháp không còn hiện rõ đối với con.”
“Này Ānanda, khi Sāriputta viên tịch vô dư y niết bàn, vị ấy có
mang đi giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát
tri kiến uẩn của Thầy chăng?
“Thưa không, bạch Thế Tôn. Nhưng đối với con, Tôn giả Sāriputta
là bậc cố vấn và người chỉ dạy, là người khuyên nhủ, sách tấn,
làm phấn khởi và làm hoan hỷ con. Ngài không mệt mỏi trong việc
giảng dạy Chánh pháp; Ngài luôn trợ giúp các vị đồng phạm hạnh.
Chúng con ghi nhớ sự nuôi dưỡng của Pháp, tài sản của Pháp, và
sự trợ giúp bằng Pháp mà Tôn giả Sāriputta đã ban cho.”
“Này Ānanda, Ta đã từng tuyên bố rằng: tất cả những gì thân yêu,
khả ái đối với chúng ta, đều phải bị chia lìa, cách biệt và ly
tán. Này Ānanda, làm sao có thể đạt được điều này ở đời: ‘Mong
cho cái gì đã sinh, đã thành, do duyên hợp và chịu sự hoại diệt,
lại không hoại diệt’? Đó là điều không thể. Cũng như cành lớn
nhất sẽ gãy khỏi một cây đại thụ có lõi cứng chắc; cũng vậy, này
Ānanda, trong Tăng đoàn lớn mạnh, chịu mất mát lớn khi Sāriputta
viên tịch.
Này Ānanda, làm sao có thể đạt được điều này: ‘Mong cho cái gì
đã sinh, đã thành, do duyên hợp và chịu sự hoại diệt, lại không
hoại diệt’? Đó là điều không thể.
Vì vậy, này Ānanda, hãy tự mình làm đảo tựa cho chính mình, hãy
tự mình làm nơi trú ẩn cho chính mình, không tìm cầu nơi trú ẩn
nào khác; hãy lấy Giáo pháp làm đảo tựa, lấy Giáo pháp làm nơi
trú ẩn, không tìm cầu nơi trú ẩn nào khác. Và này Ānanda, làm
thế nào một Tỳ-khưu tự mình làm đảo tựa cho chính mình, tự mình
làm nơi trú ẩn cho chính mình, không tìm cầu nơi trú ẩn nào
khác; lấy Giáo pháp làm đảo tựa, lấy Giáo pháp làm nơi trú ẩn,
không tìm cầu nơi trú ẩn nào khác? Ở đây, này Ānanda, một
Tỳ-khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm, loại bỏ tham ưu
ở đời. Vị ấy sống quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm
trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm, loại bỏ tham ưu phiền ở đời.
Này Ānanda, những Tỳ-khưu nào, dù là bây giờ hay sau khi Ta
diệt độ, sống tự mình làm đảo tựa cho chính mình, tự mình làm
nơi trú ẩn cho chính mình, không tìm cầu nơi trú ẩn nào khác;
lấy Giáo pháp làm đảo tựa, lấy Giáo pháp làm nơi trú ẩn, không
tìm cầu nơi trú ẩn nào khác — chính những Tỳ-khưu ấy đối với Ta,
này Ānanda, là những vị tối thượng trong hàng ngũ những người
thiết tha tu học.”
Chú Thích
Biến cố được thuật lại trong bài kinh này đặt ra một vấn đề đối với niên
đại truyền thống về cuộc đời Đức Phật. Trong Kinh Đại Bát
Niết-bàn (Mahāparinibbāna Sutta), sư tử hống của Tôn giả
Sāriputta (được nói đến ngay trước đó) diễn ra trong giai đoạn
dường như là chuyến hành trình cuối cùng của Đức Phật, theo lộ
trình từ Rājagaha đến Vesālī. Từ Vesālī, Đức Phật đi thẳng về
Kusinārā mà không hề quay trở lại Sāvatthī, nơi cách đó khoảng
200 km về phía tây. Tuy nhiên, bài kinh hiện tại lại cho thấy
Đức Phật đang trú tại Sāvatthī khi Ngài nhận được tin Tôn giả
Sāriputta qua đời. Để bảo toàn niên đại truyền thống, các bộ Chú
giải cho rằng Đức Phật đã thực hiện thêm một chuyến đi phụ đến
Sāvatthī, sau kỳ an cư mùa mưa tại Beluvagāmaka (xem DN II
98–99). Chuyến đi này không được đề cập trong Kinh Đại Bát
Niết-bàn. Theo cách giải thích của Chú giải, Tôn giả Sāriputta
đã tháp tùng Đức Phật trong chuyến đi này đến Sāvatthī, sau đó
xin từ biệt và trở về quê nhà Nālakagāma, nơi Ngài lâm bệnh và
qua đời.
Về câu chuyện chi tiết liên quan đến sự viên tịch của Tôn giả
Sāriputta xem thêm trong Sớ giải.
Sớ giải xác định Cunda ở đây chính là em trai của Tôn giả Sāriputta, và
cho biết—một cách có phần khó tin—rằng vì các Tỳ-khưu quen gọi
Ngài là “sa-di Cunda” trước khi vị nầy thọ giới Tỳ khưu , nên họ
vẫn tiếp tục gọi như vậy ngay cả khi Ngài đã là một vị trưởng
lão. Bản dịch chọn cách gọi: Tôn giả “Sa-di-Cunda” ở câu đầu rồi
sau đó chỉ gọi là “Tôn giả Cunda” cho thuận tai.
Sớ giải chú thích rằng trong đoạn này, từ dhammā (các pháp) mang ý nghĩa
là những giáo pháp được trình bày ngắn gọn và theo hình thức
vấn–đáp (uddesa–paripucchā dhammā).
Năm “Pháp uẩn - dhammakkhandha
- (giới uẩn, định
uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn)”, chỉ
được thành tựu trọn vẹn nơi bậc A-la-hán; xem kinh 6:2. Việc gán
cho Tôn giả Ānanda hai uẩn cuối cùng—giải thoát và tri kiến về
giải thoát—có vẻ gây bối rối, vì vào thời điểm này Ngài vẫn còn
là bậc hữu học, chưa hoàn toàn giải thoát. Tuy nhiên, những điểm
bất thường như vậy thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong các kinh
điển, chẳng hạn như tại 55:26 (V 384,1–12), nơi chánh trí và
chánh giải thoát—những phẩm chất thường chỉ dành riêng cho bậc
A-la-hán—lại được gán cho cư sĩ Anāthapiṇḍika, một vị Dự lưu.
Sớ Giải
3. cundasuttavaṇṇanā 379. tatiye magadhesūti evaṃnāmake
janapade. nālakagāmaketi rājagahassa avidūre attano kulasantake
evaṃnāmake gāme. cundo samaṇuddesoti ayaṃ thero
dhammasenāpatissa kaniṭṭhabhātiko, taṃ bhikkhū anupasampannakāle
“cundo samaṇuddeso”ti samudācaritvā therakālepi tatheva
samudācariṃsu. tena vuttaṃ “cundo samaṇuddeso”ti. upaṭṭhāko
hotīti mukhodakadantakaṭṭhadānena ceva pariveṇasammajjana-
piṭṭhiparikammakaraṇa-pattacīvaraggahaṇena ca upaṭṭhānakaro
hoti. parinibbāyīti anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto.
katarasmiṃ kāleti? bhagavato parinibbānasaṃvacchare.
tatrāyaṃ anupubbikathā — bhagavā kira vutthavasso veḷuvagāmakā
nikkhamitvā “sāvatthiṃ gamissāmī”ti āgatamaggeneva
paṭinivattanto anupubbena sāvatthiṃ patvā jetavanaṃ pāvisi.
dhammasenāpati bhagavato vattaṃ dassetvā divāṭṭhānaṃ gato, so
tattha antevāsikesu vattaṃ dassetvā paṭikkantesu divāṭṭhānaṃ
sammajjitvā cammakhaṇḍaṃ paññāpetvā pāde pakkhāletvā pallaṅkaṃ
ābhujitvā phalasamāpattiṃ pāvisi. athassa yathā paricchedena
tato vuṭṭhitassa ayaṃ parivitakko udapādi “buddhā nu kho
paṭhamaṃ parinibbāyanti, udāhu aggasāvakāti, tato “aggasāvakā
paṭhaman”ti ñatvā attano āyusaṅkhāraṃ olokesi. so “sattāhameva
me āyusaṅkhārā pavattissantī”ti ñatvā “kattha
parinibbāyissāmī”ti cintesi.
tato “rāhulo tāvatiṃsesu parinibbuto, aññāsikoṇḍaññatthero
chaddantadahe, ahaṃ kattha parinibbāyissāmī”ti punappunaṃ
cintento mātaraṃ ārabbha satiṃ uppādesi — “mayhaṃ mātā sattannaṃ
arahantānaṃ mātā hutvāpi buddhadhammasaṅghesu appasannā, atthi
nu kho tassā upanissayo, natthi nu kho”ti. sotāpattimaggassa
upanissayaṃ disvā “kassa desanāya abhisamayo bhavissatī”ti
olokento “mameva dhammadesanāya bhavissati, na aññassa. sace kho
panāhaṃ appossukko bhaveyyaṃ, bhavissanti me vattāro —
“sāriputtatthero avasesajanānampi avassayo hoti.
tathā hissa samacittasuttantadesanādivase (a. ni. 2.33-37)
koṭisatasahassadevatā arahattaṃ pattā, tayo magge
paṭividdhadevatānaṃ gaṇanā natthi, aññesu ca ṭhānesu anekā
abhisamayā dissanti, there ca cittaṃ pasādetvā sagge
nibbattāneva asīti kulasahassāni, so dāni
sakamātumicchādassanamattampi harituṃ nāsakkhī”ti. tasmā mātaraṃ
micchādassanā mocetvā jātovarakeyeva parinibbāyissāmī”ti
sanniṭṭhānaṃ katvā “ajjeva bhagavantaṃ anujānāpetvā
nikkhamissāmī”ti cundattheraṃ āmantesi — “āvuso, cunda, amhākaṃ
pañcasatāya bhikkhuparisāya saññaṃ dehi. ‘gaṇhathāvuso
pattacīvarāni, dhammasenāpati nālakagāmaṃ gantukāmo’”ti. thero
tathā akāsi.
bhikkhū senāsanaṃ saṃsāmetvā pattacīvaramādāya therassa santikaṃ
agamaṃsu. thero senāsanaṃ saṃsāmetvā divāṭṭhānaṃ sammajjitvā
divāṭṭhānadvāre ṭhatvā divāṭṭhānaṃ oloketvā “idaṃ dāni
pacchimadassanaṃ, puna āgamanaṃ natthī”ti pañcasatabhikkhūhi
parivuto bhagavantaṃ upasaṅkamitvā vanditvā bhagavantaṃ
etadavoca “anujānātu me bhante bhagavā, anujānātu sugato.
parinibbānakālo me, ossaṭṭho me āyusaṅkhāro”ti. buddhā pana
yasmā “parinibbāhī”ti vutte maraṇavaṇṇaṃ saṃvaṇṇentīti, “mā
parinibbāhī”ti vutte vaṭṭassa guṇaṃ kathentīti micchādiṭṭhikā
dosaṃ āropessanti, tasmā tadubhayampi na vadanti.
tena naṃ bhagavā — “kattha parinibbāyissasi sāriputtā”ti vatvā —
“atthi, bhante, magadhesu nālakagāme jātovarako, tatthāhaṃ
parinibbāyissāmī”ti vutte — “yassa dāni tvaṃ, sāriputta, kālaṃ
maññasi, idāni pana te jeṭṭhakaniṭṭhabhātikānaṃ tādisassa
bhikkhuno dassanaṃ dullabhaṃ bhavissati, desehi nesaṃ dhamman”ti
āha. thero — “satthā mayhaṃ iddhivikubbanapubbaṅgamaṃ
dhammadesanaṃ paccāsīsatī”ti ñatvā bhagavantaṃ vanditvā
tālappamāṇaṃ ākāsaṃ abbhuggantvā oruyha dasabalassa pāde vandi,
puna dvitālappamāṇaṃ abbhuggantvā oruyha dasabalassa pāde vandi,
etenupāyena sattatālappamāṇaṃ abbhuggantvā anekāni
pāṭihāriyasatāni dassento dhammakathaṃ ārabhi. dissamānenapi
kāyena katheti, adissamānenapi. uparimena vā heṭṭhimena vā
upaḍḍhakāyena katheti adissamānenapi dissamānenapi, kālena
candavaṇṇaṃ dasseti, kālena sūriyavaṇṇaṃ, kālena pabbatavaṇṇaṃ,
kālena samuddavaṇṇaṃ, kālena cakkavattirājā hoti, kālena
vessavaṇamahārājā, kālena sakko devarājā, kālena mahābrahmāti
evaṃ anekāni pāṭihāriyasatāni dassento dhammakathaṃ kathesi.
sakalanagaraṃ sannipati.
thero oruyha dasabalassa pāde vanditvā aṭṭhāsi. atha naṃ satthā
āha — “ko nāmo ayaṃ sāriputta dhammapariyāyo”ti. sīhavikīḷito
nāma, bhanteti. taggha, sāriputta, sīhavikīḷito taggha,
sāriputta, sīhavikīḷitoti. thero alattakavaṇṇe hatthe pasāretvā
satthu suvaṇṇakacchapasadise pāde gopphakesu gahetvā — “bhante,
imesaṃ pādānaṃ vandanatthāya kappasatasahassādhikaṃ asaṅkhyeyyaṃ
pāramiyo pūritā, so me manoratho matthakaṃ patto, ito dāni
paṭṭhāya paṭisandhivasena na puna ekaṭṭhāne sannipāto samāgamo
atthi, chinno esa vissāso, anekehi buddhasatasahassehi paviṭṭhaṃ
ajaraṃ amaraṃ khemaṃ sukhaṃ sītalaṃ abhayaṃ nibbānapuraṃ
pavisissāmi, sace me kiñci kāyikaṃ vā vācasikaṃ vā na rocetha,
khamatha taṃ bhagavā, gamanakālo mayhan”ti. khamāmi te,
sāriputta, na kho pana te kiñci kāyikaṃ vā vācasikaṃ vā mayhaṃ
aruccanakaṃ atthi, yassa dāni tvaṃ, sāriputta, kālaṃ maññasīti.
iti bhagavatā anuññātasamanantaraṃ satthu pāde vanditvā
uṭṭhitamatte āyasmante sāriputte
sinerucakkavāḷahimavantaparibhaṇḍapabbate dhārayamānāpi — “ajja
imaṃ guṇarāsiṃ dhāretuṃ na sakkomī”ti vadantī viya
ekappahāreneva viravamānā mahāpathavī yāva udakapariyantā
akampi, ākāse devadundubhiyo phaliṃsu, mahāmegho uṭṭhahitvā
pokkharavassaṃ vassi. satthā — “dhammasenāpatiṃ paṭipādessāmī”ti
dhammāsanā vuṭṭhāya gandhakuṭiabhimukho gantvā maṇiphalake
aṭṭhāsi. thero tikkhattuṃ padakkhiṇaṃ katvā catūsu ṭhānesu
vanditvā — “bhagavā ito kappasatasahassādhikassa asaṅkhyeyyassa
upari anomadassīsammāsambuddhassa pādamūle nipajjitvā tumhākaṃ
dassanaṃ patthesiṃ, sā me patthanā samiddhā, diṭṭhā tumhe, taṃ
paṭhamadassanaṃ, idaṃ pacchimadassanaṃ. puna tumhākaṃ dassanaṃ
natthī”ti vatvā dasanakhasamodhānasamujjalaṃ añjaliṃ paggayha
yāva dassanavisayā abhimukhova paṭikkamitvā vanditvā pakkāmi.
puna mahāpathavī dhāretuṃ asakkontī udakapariyantaṃ katvā
akampi.
bhagavā parivāretvā ṭhite bhikkhū āha — “anugacchatha,
bhikkhave, tumhākaṃ jeṭṭhabhātikan”ti. tasmiṃ khaṇe catassopi
parisā sammāsambuddhaṃ ekakaṃyeva jetavane ohāya niravasesā
nikkhamiṃsu. sāvatthinagaravāsinopi — “sāriputtatthero kira
sammāsambuddhaṃ āpucchitvā parinibbāyitukāmo nikkhanto,
passissāma nan”ti nagaradvārāni nirokāsāni karontā nikkhamitvā
gandhamālādihatthā kese vikiritvā — “idāni mayaṃ kahaṃ mahāpañño
nisinno, kahaṃ dhammasenāpati nisinno”ti pucchantā — “kassa
santikaṃ gamissāma, kassa hatthe satthāraṃ ṭhapetvā thero
pakkanto”tiādinā nayena paridevantā rodantā theraṃ anubandhiṃsu.
thero mahāpaññāya ṭhitattā — “sabbesaṃ anatikkamanīyo esa
maggo”ti mahājanaṃ ovaditvā — “tumhepi, āvuso, tiṭṭhatha, mā
dasabale pamādaṃ āpajjitthā”ti bhikkhusaṅghampi nivattetvā
attano parisāyeva saddhiṃ pakkāmi. yepi manussā — “pubbe ayyo
paccāgamanacārikaṃ carati, idaṃ idāni gamanaṃ na puna
paccāgamanāyā”ti paridevantā anubandhiṃsuyeva. tepi —
“appamattā, āvuso, hotha, evaṃbhāvino nāma saṅkhārā”ti
nivattesi.
atha kho āyasmā sāriputto sabbattha ekarattivāsena antarāmagge
sattāhaṃ manussānaṃ saṅgahaṃ karonto sāyaṃ nālakagāmaṃ patvā
gāmadvāre nigrodharukkhamūle aṭṭhāsi. atha uparevato nāma
therassa bhāgineyyo bahigāmaṃ gacchanto theraṃ disvā
upasaṅkamitvā vanditvā aṭṭhāsi. thero taṃ āha — “atthi gehe te
ayyikā”ti. āma bhanteti. gaccha amhākaṃ idhāgatabhāvaṃ ārocehi.
“kasmā āgato”ti ca vutte — “ajja kira ekadivasaṃ antogāme
vasissati, jātovarakaṃ paṭijaggatha, pañcannañca kira
bhikkhusatānaṃ vasanaṭṭhānaṃ jānāthā”ti. so gantvā — “ayyike
mayhaṃ mātulo āgato”ti āha. idāni kuhinti? gāmadvāreti. ekakova,
aññopi koci atthīti? atthi pañcasatā bhikkhūti.
kiṃkāraṇā āgatoti? so taṃ pavattiṃ ārocesi. brāhmaṇī — “kiṃ nu
kho ettakānaṃ vasanaṭṭhānaṃ paṭijaggāpeti, daharakāle pabbajitvā
mahallakakāle gihī hotukāmo”ti cintentī jātovarakaṃ
paṭijaggāpetvā pañcasatānaṃ vasanaṭṭhānaṃ kāretvā daṇḍadīpikā
jāletvā therassa pāhesi. thero bhikkhūhi saddhiṃ pāsādaṃ āruyha
jātovarakaṃ pavisitvā nisīdi, nisīditvā “tumhākaṃ vasanaṭṭhānaṃ
gacchathā”ti bhikkhū uyyojesi. tesu gatamattesuyeva therassa
kharo ābādho uppajji, lohitapakkhandikā māraṇantikā vedanā
vattanti. ekaṃ bhājanaṃ pavisati, ekaṃ nikkhamati. brāhmaṇī —
“mama puttassa pavatti mayhaṃ na ruccatī”ti attano
vasanagabbhadvāraṃ nissāya aṭṭhāsi.
cattāro mahārājāno “dhammasenāpati kuhiṃ viharatī”ti olokentā
nālakagāme jātovarake parinibbānamañce nipanno, pacchimadassanaṃ
gamissāmā”ti āgamma vanditvā aṭṭhaṃsu. ke tumheti? mahārājāno
bhanteti. kasmā āgatatthāti? gilānupaṭṭhākā bhavissāmāti. “hotu,
atthi gilānupaṭṭhāko, gacchatha tumhe”ti uyyojesi. tesaṃ
gatāvasāne teneva nayena sakko devānamindo. tasmiṃ gate
mahābrahmā ca āgamiṃsu. tepi tatheva thero uyyojesi.
brāhmaṇī devatānaṃ āgamanañca gamanañca disvā “ke nu kho ete
mama puttaṃ vanditvā gacchantī”ti therassa gabbhadvāraṃ gantvā
“tāta, cunda, kā pavattī”ti pucchi. so taṃ pavattiṃ ācikkhitvā
“mahāupāsikā, bhante, āgatā”ti āha. thero “kasmā avelāya
āgatā”ti pucchi. sā “tuyhaṃ, tāta, dassanatthāyā”ti vatvā “tāta,
paṭhamaṃ ke āgatā”ti pucchi. cattāro mahārājāno upāsiketi. tāta,
tvaṃ catūhi mahārājehi mahantataroti?
ārāmikasadisā ete upāsike, amhākaṃ satthu paṭisandhiggahaṇato
paṭṭhāya khaggahatthā hutvā ārakkhaṃ akaṃsūti. tesaṃ tāta
gatāvasāne ko āgatoti? sakko devānamindoti. devarājatopi tvaṃ
tāta mahantataroti? bhaṇḍaggāhakasāmaṇerasadiso esa upāsike,
amhākaṃ satthu tāvatiṃsato otaraṇakāle pattacīvaraṃ gahetvā
otiṇṇoti. tassa tāta gatāvasāne jotayamāno viya ko āgatoti?
upāsike, tuyhaṃ bhagavā ca satthā ca mahābrahmā nāma esoti.
mayhaṃ bhagavato mahābrahmatopi tvaṃ, tāta, mahantataroti? āma
upāsike, ete nāma kira amhākaṃ satthu jātadivase cattāro
mahābrahmāno mahāpurisaṃ suvaṇṇajālena paṭiggaṇhiṃsūti.
atha brāhmaṇiyā — “puttassa tāva me ayaṃ ānubhāvo, kīdiso vata
mayhaṃ puttassa bhagavato satthu ānubhāvo bhavissatī”ti
cintayantiyā sahasā pañcavaṇṇā pīti uppajjitvā sakalasarīraṃ
phari. thero — “uppannaṃ me mātu pītisomanassaṃ, ayaṃ dāni kālo
dhammadesanāyā”ti cintetvā “kiṃ cintesi mahāupāsike”ti āha. sā
“puttassa tāva me ayaṃ guṇo, satthu panassa kīdiso bhavissatīti
idaṃ, tāta, cintemī”ti āha. mahāupāsike, mayhaṃ satthujātakkhaṇe
mahābhinikkhamane sambodhiyaṃ dhammacakkappavattane ca
dasasahassilokadhātu kampittha. sīlena samādhinā paññāya
vimuttiyā vimuttiñāṇadassanena samo nāma natthi, itipi so
bhagavāti vitthāretvā buddhaguṇapaṭisaṃyuttaṃ dhammadesanaṃ
kathesi.
brāhmaṇī piyaputtassa dhammadesanāpariyosāne sotāpattiphale
patiṭṭhāya puttaṃ āha — “tāta upatissa, kasmā evamakāsi,
evarūpaṃ nāma amataṃ mayhaṃ ettakaṃ kālaṃ na adāsī”ti. thero —
“dinnaṃ dāni me mātu rūpasāriyā brāhmaṇiyā posāvanikamūlaṃ,
ettakena vaṭṭissatī”ti cintetvā — “gaccha mahāupasike”ti
brāhmaṇiṃ uyyojetvā — “cunda kā velā”ti āha. balavapaccūsakālo,
bhanteti. bhikkhusaṅghaṃ sannipātehīti. sannipatito bhante
bhikkhusaṅghoti. “maṃ ukkhipitvā nisīdāpehi cundā”ti ukkhipitvā
nisīdāpesi.
thero bhikkhū āmantesi — “āvuso catucattālīsaṃ vo vassāni mayā
saddhiṃ vicarantānaṃ yaṃ me kāyikaṃ vā vācasikaṃ vā na rocetha,
taṃ khamatha āvuso”ti. ettakaṃ, bhante, amhākaṃ chāyā viya tumhe
amuñcitvā vicarantānaṃ aruccanakaṃ nāma natthi, tumhe pana
amhākaṃ khamathāti. atha thero mahācīvaraṃ saṅkaḍḍhitvā mukhaṃ
pidhāya dakkhiṇena passena nipanno satthā viya nava
anupubbasamāpattiyo anulomapaṭilomato samāpajjitvā puna
paṭhamajjhānaṃ ādiṃ katvā yāva catutthajjhānā samāpajji. tato
vuṭṭhāya anantaraṃyeva mahāpathaviṃ unnādento anupādisesāya
nibbānadhātuyā parinibbāyi.
upāsikā — “kiṃ nu kho me putto, na kiñci kathetī”ti uṭṭhāya
piṭṭhipāde parimajjantī parinibbutabhāvaṃ ñatvā mahāsaddaṃ
kurumānā pādesu nipatitvā — “tāta mayaṃ ito pubbe tava guṇaṃ na
jānimhā, idāni pana taṃ ādiṃ katvā anekasate anekasahasse
anekasatasahasse bhikkhū imasmiṃ nivesane nisīdāpetvā bhojetuṃ
na labhimhā, cīvarehi acchādetuṃ na labhimhā, vihārasataṃ
vihārasahassaṃ kāretuṃ na labhimhā”ti yāva aruṇuggamanā
paridevi. aruṇe uggatamatteyeva suvaṇṇakāre pakkosāpetvā
suvaṇṇagabbhaṃ vivarāpetvā suvaṇṇaghaṭiyo mahātulāya tulāpetvā —
“pañca kūṭāgārasatāni pañca agghikasatāni karothā”ti dāpeti.
sakkopi devarājā vissakammadevaputtaṃ āmantetvā — “tāta
dhammasenāpati parinibbuto, pañca kūṭāgārasatāni pañca
agghikasatāni ca māpehī”ti āha. iti upāsikāya kāritāni ca
vissakammena nimmitāni ca sabbānipi dvesahassāni ahesuṃ. tato
nagaramajjhe sāramayaṃ mahāmaṇḍapaṃ kāretvā maṇḍapamajjhe
mahākūṭāgāraṃ ṭhapetvā sesāni parivārasaṅkhepena ṭhapetvā
sādhukīḷikaṃ ārabhiṃsu. devānaṃ antare manussā, manussānaṃ
antare devā ahesuṃ.
revatī nāma ekā therassa upaṭṭhāyikā — “ahaṃ therassa pūjaṃ
karissāmī”ti suvaṇṇapupphānaṃ tayo kumbhe kāresi. “therassa
pūjaṃ karissāmī”ti sakko devarājā aḍḍhateyyakoṭināṭakehi
parivārito otari. “sakko otaratī”ti mahājano pacchāmukho
paṭikkami. tattha sāpi upāsikā paṭikkamamānā garubhārattā
ekamantaṃ apasakkituṃ asakkontī manussānaṃ antare pati. manussā
apassantā taṃ madditvā agamiṃsu. sā tattheva kālaṃ katvā
tāvatiṃsabhavane kanakavimāne nibbatti.
nibbattakkhaṇeyevassā ratanakkhandho viya tigāvutappamāṇo
attabhāvo ahosi saṭṭhisakaṭapūrappamāṇālaṅkārapaṭimaṇḍitā
accharāsahassaparivāritā. athassā dibbaṃ sabbakāyikādāsaṃ purato
ṭhapayiṃsu. sā attano sirisampattiṃ disvā — “uḷārā ayaṃ
sampatti, kiṃ nu kho me kammaṃ katan”ti cintayamānā addasa —
“mayā sāriputtattherassa parinibbutaṭṭhāne tīhi
suvaṇṇapupphakumbhehi pūjā katā, mahājano maṃ madditvā gato,
sāhaṃ tattha kālaṃ katvā idhūpapannā, theraṃ nissāya laddhaṃ
idāni puññavipākaṃ manussānaṃ kathessāmī”ti saha vimāneneva
otari.
mahājano dūratova disvā — “kiṃ nu kho dve sūriyā uṭṭhitā”ti?
olokento — “vimāne āgacchante kūṭāgārasaṇṭhānaṃ paññāyati, nāyaṃ
sūriyo, vimānametaṃ ekan”ti āha. tampi vimānaṃ tāvadeva āgantvā
therassa dārucitakamatthake vehāsaṃ aṭṭhāsi. devadhītā vimānaṃ
ākāseyeva ṭhapetvā pathaviṃ otari. mahājano — “kā tvaṃ, ayye”ti?
pucchi. “na maṃ tumhe jānātha, revatī nāmāhaṃ, tīhi
suvaṇṇapupphakumbhehi theraṃ pūjaṃ katvā manussehi madditā kālaṃ
katvā tāvatiṃsabhavane nibbattā, passatha me sirisampattiṃ,
tumhepi dāni dānāni detha, puññāni karothā”ti kusalakiriyāya
vaṇṇaṃ kathetvā therassa citakaṃ padakkhiṇaṃ katvā vanditvā
attano devaṭṭhānaṃyeva gatā.
mahājanopi sattāhaṃ sādhukīḷikaṃ kīḷitvā sabbagandhehi citakaṃ
akāsi, citakā ekūnaratanasatikā ahosi. therassa sarīraṃ citakaṃ
āropetvā usīrakalāpakehi ālimpesuṃ. āḷāhane sabbarattiṃ
dhammassavanaṃ pavatti. anuruddhatthero sabbagandhodakena
therassa citakaṃ nibbāpesi. cundatthero dhātuyo parissāvane
pakkhipitvā — “na dāni mayā idheva sakkā ṭhātuṃ, mayhaṃ
jeṭṭhabhātikassa dhammasenāpatisāriputtattherassa
parinibbutabhāvaṃ sammāsambuddhassa ārocessāmī”ti
dhātuparissāvanaṃ therassa ca pattacīvaraṃ gahetvā sāvatthiṃ
agamāsi. ekaṭṭhānepi ca dve rattiyo avasitvā sabbattha
ekarattivāseneva sāvatthiṃ pāpuṇi. tamatthaṃ dassetuṃ atha kho
cundo samaṇuddesotiādi vuttaṃ.
tattha yenāyasmā ānandoti yena attano upajjhāyo
dhammabhaṇḍāgāriko āyasmā ānando, tenupasaṅkami. kasmā panesa
ujukaṃ satthu santikaṃ agantvā therassa santikaṃ agamāsīti?
satthari ca there ca gāravena. jetavanamahāvihāre pokkharaṇiyaṃ
kirassa nhatvā paccuttaritvā sunivatthasupārutassa etadahosi —
“buddhā nāma mahāpāsāṇacchattaṃ viya garuno, phaṇakatasappa
sīhabyagghamattavaravāraṇādayo viya ca durāsadā, na sakkā mayā
ujukameva satthu santikaṃ gantvā kathetuṃ, kassa nu kho santikaṃ
gantabban”ti. tato cintesi — “upajjhāyo me dhammabhaṇḍāgāriko
jeṭṭhabhātikattherassa uttamasahāyo, tassa santikaṃ gantvā taṃ
ādāya satthārā saddhiṃ kathessāmī”ti satthari ceva there ca
gāravena upasaṅkami.
idamassa pattacīvaranti “ayamassa paribhogapatto, idaṃ
dhātuparissāvanan”ti evaṃ ekekaṃ ācikkhi. pāḷiyaṃ pana “idamassa
pattacīvaran”ti ettakameva vuttaṃ. kathāpābhatanti kathāmūlaṃ.
mūlañhi pābhatanti vuccati. yathāha —“appakenapi medhāvī,
pābhatena vicakkhaṇo.samuṭṭhāpeti attānaṃ, aṇuṃ aggiṃva
sandhaman”ti. (jā. 1.1.4). bhagavantaṃ dassanāyāti bhagavantaṃ
dassanatthāya. kiṃ paniminā bhagavā na diṭṭhapubboti? no na
diṭṭhapubbo. ayañhi āyasmā divā nava vāre, rattiṃ nava vāreti
ekāhaṃ aṭṭhārasa vāre upaṭṭhānameva gacchati. divasassa pana
satavāraṃ vā sahassavāraṃ vā gantukāmo samānopi na akāraṇā
gacchati, ekaṃ pañhadvāraṃ gahetvāva gacchati. so taṃdivasaṃ
tena kathāpābhatena gantukāmo evamāha. idamassa pattacīvaranti
theropi — “idaṃ tassa pattacīvaraṃ, idañca dhātuparissāvanan”ti
pāṭiyekkaṃyeva dassetvā ācikkhi.
satthā hatthaṃ pasāretvā dhātuparissāvanaṃ gahetvā hatthatale
ṭhapetvā bhikkhū āmantesi — “yo so, bhikkhave, bhikkhu
purimadivase anekāni pāṭihāriyasatāni katvā parinibbānaṃ
anujānāpesi, tassa idāni imā saṅkhavaṇṇasannibhā dhātuyova
paññāyanti, kappasatasahassādhikaṃ asaṅkhyeyyaṃ pūritapāramī
esa, bhikkhave, bhikkhu, mayā pavattitaṃ dhammacakkaṃ
anupavattako esa bhikkhu, paṭiladdhadutiyāasano esa bhikkhu,
pūritasāvakasannipāto esa bhikkhu, ṭhapetvā maṃ dasasu
cakkavāḷasahassesu paññāya asadiso esa bhikkhu, mahāpañño esa
bhikkhu, puthupañño hāsapañño javanapañño tikkhapañño
nibbedhikapañño esa bhikkhu, appiccho esa bhikkhu, santuṭṭho
pavivitto asaṃsaṭṭho āraddhavīriyo codako pāpagarahī esa
bhikkhu, pañca jātisatāni paṭiladdhamahāsampattiyo pahāya
pabbajito esa bhikkhu, mama sāsane pathavīsamakhantiko esa
bhikkhu, chinnavisāṇausabhasadiso esa bhikkhu,
caṇḍālaputtasadisanīcacitto esa bhikkhu. passatha, bhikkhave,
mahāpaññassa dhātuyo, passatha, bhikkhave, puthupaññassa
hāsapaññassa javanapaññassa tikkhapaññassa nibbedhikapaññassa
appicchassa santuṭṭhassa pavivittassa asaṃsaṭṭhassa
āraddhavīriyassa, codakassa, passatha, bhikkhave, pāpagarahissa
dhātuyoti.
“yo pabbajī jātisatāni pañca,
pahāya kāmāni manoramāni.
taṃ vītarāgaṃ susamāhitindriyaṃ,
parinibbutaṃ vandatha sāriputtaṃ.
“khantibalo pathavisamo na kuppati,
na cāpi cittassa vasena vattati.
anukampako kāruṇiko ca nibbuto,
parinibbutaṃ vandatha sāriputtaṃ.
“caṇḍālaputto yathā nagaraṃ paviṭṭho,
nīcamano carati kaḷopihattho.
tathā ayaṃ viharati sāriputto,
parinibbutaṃ vandatha sāriputtaṃ.
“usabho yathā chinnavisāṇako,
aheṭhayanto carati purantare vane.
tathā ayaṃ viharati sāriputto,
parinibbutaṃ vandatha sāriputtan”ti.
iti bhagavā pañcahi gāthāsatehi therassa vaṇṇaṃ kathesi. yathā
yathā bhagavā therassa vaṇṇaṃ kathesi, tathā tathā ānandatthero
sandhāretuṃ na sakkoti, biḷāramukhe pakkhantakukkuṭo viya
pavedhati. tenāha apica me, bhante, madhurakajāto viya kāyoti
sabbaṃ vitthāretabbaṃ. tattha madhurakajātotiādīnaṃ attho
vuttoyeva. idha pana dhammāti uddesaparipucchādhammā adhippetā.
tassa hi uddesaparipucchādhamme agahite vā gahetuṃ, gahite vā
sajjhāyaṃ kātuṃ cittaṃ na pavattati. atha satthā
pañcapasādavicitrāni akkhīni ummīletvā theraṃ olokento
“assāsessāmi nan”ti assāsento kiṃ nu kho te, ānanda,
sāriputtotiādimāha.
tattha sīlakkhandhanti lokiyalokuttarasīlaṃ. samādhipaññāsupi
eseva nayo. vimutti pana lokuttarāva. vimuttiñāṇadassanaṃ
paccavekkhaṇañāṇaṃ, taṃ lokiyameva. ovādakoti ovādadāyako.
otiṇṇoti otiṇṇesu vatthūsu nānappakārena otaraṇasīlo.
viññāpakoti dhammakathākāle atthañca kāraṇañca viññāpetā.
sandassakoti khandhadhātuāyatanavasena tesaṃ tesaṃ dhammānaṃ
dassetā. samādapakoti “idañcidañca gaṇhathā”ti evaṃ gaṇhāpako.
samuttejakoti abbhussāhako. sampahaṃsakoti paṭiladdhaguṇehi
modāpako jotāpako.
akilāsu dhammadesanāyāti dhammadesanaṃ ārabhitvā “sīsaṃ vā me
rujjati, hadayaṃ vā kucchi vā piṭṭhi vā”ti evaṃ
osakkanākāravirahito nikkilāsu visārado ekassāpi dvinnampi
sīhavegeneva pakkhandati. anuggāhako sabrahmacārīnanti padassa
attho khandhakavagge vitthāritova. dhammojaṃ dhammabhoganti
ubhayenapi dhammaparibhogova kathito. dhammānuggahanti dhammena
anuggahaṇaṃ.
satthā “ativiya ayaṃ bhikkhu kilamatī”ti puna taṃ assāsento nanu
taṃ, ānanda, mayātiādimāha. tattha piyehi manāpehīti
mātāpitābhātābhaginīādikehi jātiyā nānābhāvo, maraṇena
vinābhāvo, bhavena aññathābhāvo. taṃ kutettha, ānanda, labbhāti
tanti tasmā. yasmā sabbehi piyehi manāpehi nānābhāvo, tasmā dasa
pāramiyo pūretvāpi sambodhiṃ patvāpi dhammacakkaṃ pavattetvāpi
yamakapāṭihāriyaṃ dassetvāpi devorohanaṃ katvāpi yaṃ taṃ jātaṃ
bhūtaṃ saṅkhataṃ palokadhammaṃ, taṃ tathāgatassāpi sarīraṃ mā
palujjīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, rodantenapi kandantenapi na
sakkā taṃ kāraṇaṃ laddhunti. so palujjeyyāti so bhijjeyya.
evameva khoti ettha yojanasatubbedho mahājamburukkho viya
bhikkhusaṅgho tassa dakkhiṇadisaṃ gato paññāsayojaniko
mahākhandho viya dhammasenāpati. tasmiṃ mahākhandhe bhinne tato
paṭṭhāya anupubbena vaḍḍhitvā pupphaphalādīhi taṃ ṭhānaṃ pūretuṃ
samatthassa aññassa khandhassa abhāvo viya there parinibbute
soḷasannaṃ paññānaṃ matthakaṃ pattassa aññassa dakkhiṇāsane
nisīdanasamatthassa sāriputtasadisassa bhikkhuno abhāvo. tāya
paribhinnāya so rukkho viya bhikkhusaṅgho khandhotveva jātoti
veditabbo. tasmāti yasmā sabbaṃ saṅkhataṃ palokadhammaṃ, taṃ mā
palujjīti na sakkā laddhuṃ, tasmā.
Chú giải Kinh Cunda (Cundasuttavaṇṇanā) – ♦379 (dịch nguyên
văn)
379. Ở bài kinh thứ ba, câu “giữa người xứ Magadha” nghĩa
là: trong một xứ sở có tên như vậy. “Tại Nālakagāma” nghĩa là:
trong ngôi làng mang tên ấy, thuộc dòng họ của chính ngài, không
xa Rājagaha. “Sa-di Cunda ” (cundo samaṇuddeso): vị trưởng lão
này là em út của vị Thống Soái Chánh Pháp ( Ngài Sāriputta). Các
Tỳ khưu quen gọi ông là
“sa-di Cunda” từ thời chưa thọ cụ túc, nên đến khi đã là trưởng
lão họ vẫn gọi như thế. Do vậy nói là “sa-di Cunda”.
“Là thị giả” nghĩa là: làm các việc hộ trì như dâng nước rửa mặt, dâng tăm
xỉa răng; quét dọn sân tu viện; xoa bóp lưng; cầm giữ bát và y…
“Viên tịch” nghĩa là: chứng vô dư y Niết-bàn. “Vào thời điểm
nào?” Vào năm Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn.
Diễn tiến tuần tự (anupubbikathā)
Ở đây có câu chuyện theo thứ tự như sau:
Sau khi an cư xong, Đức Thế Tôn rời Beluvagāma, nghĩ: “Ta sẽ đi
Sāvatthī,” rồi theo chính con đường đã đến mà trở lại, lần lượt
đến Sāvatthī và vào Jetavana.
Vị Thống Soái Chánh Pháp sau khi hoàn tất bổn phận đối với Đức Thế Tôn thì
đi đến nơi nghỉ ban ngày. Tại đó, sau khi chỉ dạy bổn phận cho
các đệ tử, rồi khi họ đã lui ra, ngài quét dọn nơi nghỉ, trải
toạ cụ, rửa chân, ngồi kiết già và nhập phalasamāpatti (thiền
quả).
Khi đúng thời hạn xuất định, ngài khởi ý nghĩ: “Chư Phật thường viên tịch
Niết-bàn trước, hay các vị đại đệ tử viên tịch trước?” Rồi biết
rằng “đại đệ tử nhập trước,” ngài quan sát tuổi thọ còn lại và
biết: “Tuổi thọ của ta chỉ còn bảy ngày.” Ngài nghĩ: “Ta sẽ viên
tịch ở đâu?”
Ngài suy nghĩ: “Rāhula đã viên tịch ở cõi Tāvatiṃsa; Trưởng lão
Aññāsikoṇḍañña viên tịch ở hồ Chaddanta; vậy ta sẽ viên tịch ở
đâu?” Nghĩ nhiều lần, ngài hướng tâm đến mẹ mình: “Mẹ ta tuy là
mẹ của bảy vị A-la-hán nhưng đối với Phật–Pháp–Tăng chưa có niềm
tin sâu; liệu bà có đủ duyên hay không?” Thấy bà có duyên chứng
nhập đạo Dự lưu, ngài xét: “Ai thuyết pháp thì bà sẽ chứng?” Và
thấy rằng: “Chỉ nghe ta thuyết, bà mới chứng; không phải người
khác.”
Nếu ngài thờ ơ, người đời sẽ nói: “Trưởng lão Sāriputta là chỗ nương của
bao người; trong các thời thuyết pháp như bài Kinh Tâm Từ… có cả
trăm ngàn chư thiên chứng A-la-hán; số chư thiên chứng ba đạo
còn không thể kể; nhiều nơi khác cũng có vô số chứng đắc; lại có
tám vạn gia tộc sinh lên cõi trời nhờ kính tín trưởng lão. Thế
mà nay ngài không thể cứu mẹ khỏi tà kiến.” Vì vậy ngài quyết
định: “Ta sẽ giải thoát mẹ khỏi tà kiến rồi mới viên tịch ngay
tại nơi sinh của mình.” Rồi ngài nói: “Hôm nay ta sẽ xin phép
Đức Thế Tôn và lên đường,” và gọi trưởng lão Cunda: “Này hiền
hữu Cunda, hãy báo cho hội chúng năm trăm Tỳ khưu
của ta: ‘Này các hiền
hữu, hãy cầm bát y; Tôn giả Sāriputta
muốn đi Nālakagāma.’” Tôn
giả Cunda làm đúng như vậy.
Các Tỳ khưu dọn dẹp trú xứ, mang
bát y đi đến trưởng lão. Trưởng lão cũng dọn trú xứ, quét dọn
nơi nghỉ ban ngày, đứng ở cửa nhìn lại và nghĩ: “Đây là lần thấy
cuối; sẽ không trở lại nữa.” Rồi với năm trăm Tỳ khưu
vây quanh, ngài đến đảnh
lễ Đức Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, xin cho phép con. Đã đến
lúc con viên tịch; thọ hành của con đã buông bỏ.”
Chư Phật không nói “hãy viên tịch” vì sẽ bị cho là tán dương cái chết;
cũng không nói “đừng viên tịch” vì sẽ bị cho là tán dương luân
hồi; ngoại đạo sẽ bắt bẻ. Vì vậy Đức Thế Tôn không nói theo hai
cách ấy. Ngài chỉ hỏi: “Này Sāriputta, ông sẽ viên tịch ở đâu?”
Nghe vậy, trưởng lão đáp: “Bạch Thế Tôn, ở Nālakagāma xứ
Magadha, tại ngôi nhà nơi con sinh.” Đức Thế Tôn nói: “Này
Sāriputta, từ nay các đệ tử lớn nhỏ của Thầy sẽ khó được thấy
một vị Tỳ khưu như vậy;
hãy thuyết pháp cho họ.”
Trưởng lão hiểu rằng Đức Thế Tôn mong đợi một bài thuyết pháp có thần
thông làm phần dẫn, nên đảnh lễ rồi bay lên không trung cao bằng
một cây thốt nốt, hạ xuống đảnh lễ chân Đức Thế Tôn; rồi cao hai
cây, ba cây… cho đến bảy cây thốt nốt; hiện vô số thần thông và
thuyết pháp. Có lúc thuyết khi thân hiện, có lúc thuyết khi thân
ẩn; có lúc chỉ hiện nửa thân trên hoặc nửa thân dưới; có lúc
hiện sắc như trăng, như mặt trời, như núi, như biển; có lúc hiện
hình Chuyển luân vương, có lúc Đại vương Vessavaṇa, có lúc vua
trời Sakka, có lúc Đại Phạm thiên… rồi thuyết pháp. Cả thành tụ
hội.
Trưởng lão hạ xuống, đảnh lễ chân Đức Thế Tôn và đứng một bên. Đức Thế Tôn
hỏi: “Này Sāriputta, pháp thoại này tên gì?” “Bạch Thế Tôn, gọi
là ‘Sīhavikīḷita’ (Sư Tử Hý Lộng).” Đức Thế Tôn tán thán: “Đúng
vậy, Sāriputta, đúng là Sư Tử Hý Lộng.”
Trưởng lão đưa đôi tay đỏ như màu cánh kiến, nắm lấy đôi chân vàng ròng
như con rùa vàng của Đức Thế Tôn ở chỗ mắt cá và thưa:
“Bạch Thế Tôn, vì mục đích đảnh lễ đôi chân này mà con đã viên mãn
Ba-la-mật trải qua vô lượng kiếp hơn cả trăm ngàn đại kiếp; nay
nguyện ấy đã đạt đỉnh. Từ đây về sau sẽ không còn hội ngộ cùng
một chỗ theo cách tái sinh nữa; sự tin cậy (rằng còn gặp lại) đã
chấm dứt. Con sẽ tịch diệt Niết-bàn—không già, không chết, an
ổn, hạnh phúc, thanh lương, vô úy—nơi mà con đã bước vào qua vô
số trăm ngàn Đức Phật. Nếu có điều gì nơi thân hay lời của con
khiến Ngài không vừa ý, xin Ngài hoan hỷ tha thứ; đã đến lúc con
lên đường.”
Đức Thế Tôn đáp: “Ta tha thứ cho ông, Sāriputta. Thật ra không
có điều gì nơi thân hay lời của Thầy làm Ta không hài lòng. Này
Sāriputta, Thầy hãy đi khi thấy đúng thời.”
Ngay khi Đức Thế Tôn vừa cho phép, Sāriputta vừa đứng dậy đảnh lễ, thì đại
địa—dù đang nâng núi Tu-di, vòng núi và các dãy
Hy-mã-lạp-sơn—cũng như không chịu nổi sức nặng của “khối công
đức ấy,” rung động một lần đến tận mép nước; trống trời nổ vang;
mây lớn nổi lên mưa như hoa sen rơi.
Đức Thế Tôn đứng dậy, đi về phía Hương thất, đứng trên nền đá quý. Trưởng
lão đi nhiễu ba vòng, lễ bái bốn nơi rồi nói:
“Bạch Thế Tôn, từ trên một vô lượng đại kiếp hơn trăm ngàn đại
kiếp, con đã nằm dưới chân Đức Phật Anomadassī và phát nguyện
được thấy Ngài; nay nguyện ấy thành. Đã thấy Ngài lần đầu, đây
là lần cuối; sẽ không còn được thấy nữa.”
Rồi chắp tay rực sáng, vừa lùi vừa đảnh lễ cho đến khi ra khỏi
tầm nhìn và ra đi. Đại địa lại rung động như trước.
Đức Thế Tôn nói với các Tỳ khưu đứng
quanh: “Này các Tỳ khưu , hãy tiễn đưa người anh cả của các
Thầy.” Khi ấy, bốn hội chúng đều để Đức Phật lại một mình tại
Jetavana, cùng nhau đi tiễn biệt.
Dân Sāvatthī nghe tin: “Trưởng lão Sāriputta đã cáo biệt Đức Phật, muốn
viên tịch,” liền kéo nhau ra, tay cầm hương hoa, xõa tóc than
khóc: “Từ nay, ai sẽ là người có đại trí ngồi đây? Ai là Chủ
Soái Chánh Pháp?” Họ khóc than: “Chúng ta sẽ đến nương ai?
Trưởng lão đã bỏ Đức Thế Tôn lại với ai?” và đi theo.
Trưởng lão khuyên nhủ: “Đây là con đường không ai tránh khỏi.” Ngài bảo
Tăng chúng: “Các hiền hữu, hãy ở lại, đừng tắc trách đối với
Đấng Thập lực.” Rồi chỉ đi cùng đoàn của mình. Người dân vẫn
theo và than: “Xưa trưởng lão còn du hành rồi trở lại; nay ra đi
không trở lại.” Ngài cũng khuyên: “Hãy tinh cần, hỡi chư thiện
tín; các hành pháp vốn như vậy,” rồi khiến họ quay về.
Rồi Tôn giả Sāriputta đi từng nơi, mỗi nơi chỉ nghỉ một đêm; suốt bảy ngày
trên đường, ngài nhiếp hóa chúng sinh. Chiều hôm ấy đến
Nālakagāma, đứng dưới gốc cây nigrodha ở cổng làng.
Uparevata—cháu của trưởng lão—đi ra ngoài làng, thấy trưởng lão liền đảnh
lễ. Trưởng lão hỏi: “Trong nhà có bà (bà ngoại) không?” “Có,
bạch Ngài.” “Hãy về báo ta đã đến. Nếu hỏi ‘vì sao đến,’ hãy
nói: ‘Hôm nay Ngài sẽ ở trong làng một đêm; xin chuẩn bị phòng
nơi Ngài đã chào đời (jātovaraka) và chỗ ở cho năm trăm Tỳ khưu
.’”
Người cháu về báo: “Bà ơi, cậu con đã đến.” Bà hỏi: “Ở đâu?” “Ở cổng
làng.” “Chỉ một mình?” “Có năm trăm Tỳ khưu .” “Đến làm gì?”
Người cháu kể lại. Bà nghĩ: “Sao ông ấy chuẩn bị chỗ ở cho nhiều
người vậy? Có phải xuất gia lúc trẻ nhưng già muốn hoàn tục
chăng?” Nhưng vẫn cho sửa soạn phòng nơi Ngài đã chào đời và chỗ
ở cho năm trăm vị, thắp đuốc, rồi mời trưởng lão.
Trưởng lão cùng Tỳ khưu lên lầu,
vào phòng và ngồi.
Ngồi xong, ngài bảo Tỳ khưu : “Các ông về chỗ ở.” Ngay khi họ
đi, bệnh nặng khởi lên, thọ khổ gần kề cái chết. “Một thứ đi
vào, một thứ đi ra” (ý nói: ra vào nhiều lần vì bệnh). Bà mẹ
đứng ở cửa phòng mình, nghĩ: “Tình trạng con ta không ổn.”
Bốn Đại Thiên Vương quan sát “Chủ Soái Chánh Pháp đang ở đâu,” thấy ngài
nằm trên giường viên tịch ở phòng nơi đã chào đời tại
Nālakagāma, liền đến đảnh lễ. Trưởng lão hỏi: “Đến vì việc gì?”
“Chúng con sẽ hầu bệnh.” “Thôi được, ta có người hầu bệnh rồi;
các ngài đi đi.” Họ đi xong, Sakka đến; Sakka đi xong, Đại Phạm
thiên đến; ngài cũng cho đi như vậy.
Bà mẹ thấy chư thiên đến đi liền hỏi Ngài Cunda: “Này Cunda, chuyện gì
vậy?” Cunda kể. Bà vào cửa phòng hỏi: “Con, Cunda, việc gì?”
Cunda thưa đã có đại cư sĩ đến. Trưởng lão hỏi: “Sao bà đến
không đúng lúc?” Bà nói: “Con ơi, mẹ muốn được gặp.” Bà hỏi
tiếp: “Trước hết ai đến?” “Bốn Đại Thiên Vương.” Bà hỏi: “Con
lớn hơn bốn Đại Vương sao?” Ngài đáp: “Họ như người làm công
trong tu viện; từ lúc Bậc Đạo Sư
thọ thai, họ đã cầm gươm hộ vệ.”
“Sau đó ai đến?” “Sakka.” “Con lớn hơn vua trời sao?” “Ngài ấy như chú
sa-di giữ kho; khi Bậc Đạo Sư
từ Tāvatiṃsa xuống, Sakka cầm bát y đi theo.” “Sau đó ai
đến sáng rực như vậy?” “Đại cư sĩ, đó là Đại Phạm thiên, là thầy
và đấng đạo sư mà Mẹ thờ phượng.”
Bà hỏi: “Con còn lớn hơn cả Đại Phạm thiên sao?” “Đúng vậy;
người ta nói ngày Đức Phật đản sinh, có bốn Đại Phạm thiên dùng
lưới vàng đỡ bậc Đại Sĩ.”
Bà nghĩ: “Con ta đã có uy lực như vậy, huống gì uy lực của bậc đạo sư của
nó!” Khi đang nghĩ, hỷ năm màu khởi lên tràn khắp thân. Trưởng
lão biết tâm hỷ lạc của mẹ đã khởi, nghĩ: “Đây là lúc thuyết
pháp,” liền hỏi: “Đại cư sĩ đang nghĩ gì?” Bà đáp: “Con ta đã
vậy, còn bậc Đạo sư của con thì thế nào?”
Trưởng lão nói: “Ngày Bậc Đạo Sư đản sinh, ngày xuất gia, ngày giác ngộ,
và ngày chuyển pháp luân—mười ngàn thế giới đều chấn động. Không
ai sánh bằng Ngài về giới, định, tuệ, giải thoát, và tri kiến
giải thoát,” rồi thuyết pháp rộng về các đức Phật.
Kết thúc pháp thoại, bà mẹ chứng quả Dự lưu, nói: “Con Upatissa, sao con
làm vậy? Một pháp bất tử như thế mà con để mẹ chờ lâu!” Trưởng
lão nghĩ: “Vậy là đã trả xong món nợ nuôi dưỡng đối với mẹ
Rūpasārī,” rồi bảo: “Mẹ hãy ra ngoài.” Sau đó hỏi Cunda: “Giờ
nào rồi?” “Bạch Ngài, rạng sáng sắp đến.” “Hãy triệu tập Tăng
chúng.” Khi Tăng đã tụ, ngài bảo: “Cunda, hãy đỡ ta lên cho
ngồi.”
Ngài nói với các Tỳ khưu : “Bốn mươi bốn năm các Thầy đi theo ta; nếu điều
gì nơi thân hay lời của ta làm các Thầy không vừa ý, hãy tha
thứ.” Các Tỳ khưu thưa:
“Bạch Ngài, chúng con theo Ngài như bóng theo hình, không có
điều gì không vừa ý; xin chính Ngài tha thứ cho chúng con.”
Rồi trưởng lão kéo đại y che mặt, nằm nghiêng bên phải như Đức Thế Tôn,
lần lượt nhập chín bậc thiền theo chiều thuận rồi chiều nghịch,
rồi lại từ sơ thiền đến tứ thiền; từ tứ thiền xuất, ngay lập tức
viên tịch vô dư y Niết-bàn, làm rung động đại địa.
Bà mẹ nghĩ: “Con ta sao không nói gì?” liền đứng khi biết con đã viên
tịch, liền kêu lớn, ngã xuống chân giường than khóc đến khi mặt
trời mọc: “Trước kia mẹ không biết đức hạnh của con; nay bao
trăm, bao ngàn Tỳ khưu đến
nhà ta mà mẹ không được dịp thỉnh ngồi, cúng dường; không được
dịp dâng y; không được dịp xây trăm ngàn tự viện…”
Khi trời vừa sáng, bà cho gọi thợ vàng, mở kho vàng, cân vàng bằng cân lớn
và ra lệnh: “Hãy dựng năm trăm nhà lầu và năm trăm tháp hương
(agghika).” Sakka cũng gọi Vissakamma: “Chủ Soái Chánh Pháp đã
viên tịch; hãy tạo năm trăm nhà lầu và năm trăm tháp hương.” Như
vậy tổng cộng hai ngàn công trình: một ngàn do bà làm, một ngàn
do Vissakamma tạo.
Rồi ở giữa thành, họ dựng giảng đường lớn bằng gỗ cây sāra, đặt một đại
nhà lầu ở giữa, các nhà khác xung quanh. Họ mở lễ hội. Xen kẽ
giữa chư thiên là loài người, xen kẽ giữa loài người là chư
thiên.
Có một nữ hộ trì tên Revatī làm ba chum hoa vàng để cúng. Sakka cùng đoàn
nghệ nhân đông đảo xuống. Dân chúng nghe “Sakka xuống” liền lùi
lại. Nữ ấy vì mang nặng không kịp tránh, bị dẫm đạp và chết, tái
sinh lên Tāvatiṃsa trong cung điện vàng. Vừa sinh, thân nàng lớn
như trụ ngọc dài ba do-tuần, trang sức đầy đủ, có một ngàn thiên
nữ hầu. Họ đặt trước nàng một gương toàn thân. Nàng nhìn thấy
vinh quang và nghĩ: “Do nghiệp gì?” Rồi thấy: “Ta đã cúng trưởng
lão bằng ba chum hoa vàng nơi ngài viên tịch; bị người dẫm mà
chết, nên sinh lên đây.” Nàng nghĩ: “Ta sẽ kể quả báo này cho
loài người,” liền cùng cung điện hạ xuống.
Dân chúng thấy từ xa tưởng “hai mặt trời mọc,” rồi biết đó là cung điện.
Cung điện đến đứng lơ lửng trên đống củi hỏa táng. Thiên nữ
xuống đất, dân hỏi: “Bà là ai?” Nàng nói: “Ta là Revatī… hãy xem
phước báo của ta; các người cũng hãy bố thí làm phước,” rồi
nhiễu quanh đống củi, đảnh lễ và trở về.
Dân chúng cũng hành lễ bảy ngày, làm giàn hỏa với các thứ hương; giàn hỏa
trị giá gần một trăm viên ngọc. Họ đặt thân trưởng lão lên giàn,
đốt bằng bó cỏ thơm usīra. Suốt đêm tại bãi hỏa táng có pháp
thoại. Trưởng lão Anuruddha dập tắt giàn hỏa bằng nước thơm.
Trưởng lão Cunda gom xá-lợi vào rây lọc, nghĩ: “Ta không thể ở
đây; ta phải trình báo Đức Thế Tôn biết vị tướng quân chánh pháp
Sāriputta đã viên tịch,” liền cầm túi đựng xá-lợi và y bát của
trưởng lão, đi về Sāvatthī. Đi mỗi nơi chỉ ngủ một đêm, ngài đến
Sāvatthī. Ý nghĩa ấy được nói trong câu mở đầu: “Bấy giờ sa-di
Cunda…”
Sau đó: “Đến chỗ Tôn giả Ānanda” nghĩa là đến vị thầy tế độ của mình,
người giữ kho Pháp. Vì sao không đến thẳng Đức Thế Tôn? Vì tôn
kính cả Đức Phật và trưởng lão Ānanda. Ngài tắm ở hồ Jetavana,
thay y phục chỉnh tề, rồi nghĩ: “Chư Phật như chiếc lọng đá
lớn—rất trọng, như rắn hổ mang xòe cổ, sư tử, cọp, voi lớn… khó
đến gần; ta không thể tự đi thẳng đến Đức Thế Tôn mà tâu. Ta nên
đến ai?” Rồi nghĩ: “Thầy tế độ của ta là người giữ kho Pháp, là
pháp hữu thân thiết của
trưởng lão bào huynh ấy; ta sẽ đến gặp Ngài, rồi cùng đi
đến Đức Thế Tôn.” Vì vậy mà đến.
“Đây là y bát của ngài ấy” nghĩa là “đây là bát dùng riêng; đây là phần
xá-lợi.” Trong Pāḷi chỉ nói gọn “đây là y bát.” “Báo tin” nghĩa
là “gốc của câu chuyện,” vì gốc được gọi là “tin mang.” Có kệ
rằng:
“Dù ít nhưng người trí, nhờ cái ‘gốc’ ấy, người sáng suốt nâng
mình lên; như người thổi lò, làm ngọn lửa nhỏ bùng lên.”
“Để được thấy Đức Thế Tôn” nghĩa là để gặp Đức Thế Tôn. Không phải tôn giả
Cunda chưa từng gặp Phật: mỗi ngày Ngài đi hầu chùa đến mười tám
lần (chín lần ban ngày, chín lần ban đêm). Nhưng dù muốn đến
trăm lần, ngàn lần, ông không đến vô cớ; Ngài luôn có lý do rồi
mới đến. Hôm ấy ông muốn đi với “sự báo tin” ấy nên nói vậy.
Rồi trưởng lão Ānanda cũng báo: “đây là y bát của ngài ấy, và đây là phần
xá-lợi,” và trình bày riêng.
Đức Thế Tôn đưa tay nhận rây xá-lợi, đặt trên lòng bàn tay, rồi gọi các Tỳ
khưu :
“Vị Tỳ khưu ấy—hôm trước
đã hiện vô số thần thông rồi xin phép viên tịch—nay chỉ còn
xá-lợi màu như vỏ ốc. Vị ấy đã viên mãn Ba-la-mật qua vô lượng
kiếp hơn trăm ngàn đại kiếp; đã là người chuyển tiếp bánh xe
pháp do Ta chuyển; là bậc ngồi ghế thứ hai; là bậc thành tựu hội
chúng đại đệ tử; trừ Ta ra, trong mười ngàn thế giới không ai
sánh về tuệ… vị ấy là bậc đại tuệ, đa tuệ, hoan tuệ, tốc tuệ,
lợi tuệ, thấu suốt tuệ; thiểu dục, tri túc, viễn ly, không thù
tạc, tinh tấn; hay khuyên răn, hay quở trách ác; bỏ đại tài sản
do năm trăm đời; xuất gia; nhẫn như đất; như bò chúa sừng gãy;
khiêm hạ như con nhà Chiên-đà-la…”
Rồi Đức Thế Tôn dạy:
“Các Thầy hãy chiêm bái xá-lợi của bậc đại tuệ… của bậc ít muốn,
tri túc… của bậc quở trách điều ác…”
Rồi Đức Thế Tôn nói các kệ tán thán . Càng nghe khen, Tôn giả Ānanda càng
xúc động. Khi ấy Đức Thế Tôn với đôi mắt bi mẫn, nhìn tôn giả,
nghĩ “Ta sẽ an ủi,” rồi nói: “Này Ānanda, Sāriputta…” v.v.
Ở đó: “giới uẩn” (sīlakkhandha) là giới hữu vi và siêu thế; định và tuệ
cũng vậy. “Giải thoát” chỉ là giải thoát siêu thế. “Tri kiến
giải thoát” là tuệ quán xét (paccavekkhaṇañāṇa), thuộc thế tục.
“Người khuyên dạy” là người ban lời dạy. “otiṇṇa” nghĩa là khéo
đi sâu vào nhiều vấn đề. “Người chỉ dạy” là người làm sáng tỏ
nghĩa và lý khi thuyết pháp. “Người chỉ bày” là người trình bày
pháp theo uẩn, giới, xứ. “Người khuyến khích” là người khiến
người khác nắm lấy. “Người khích lệ” là người làm phát khởi tinh
tấn. “Người khiến hoan hỷ” là người làm vui mừng bởi các đức đã
đạt.
“Không mệt khi thuyết pháp” nghĩa là: bắt đầu thuyết rồi không thối lui vì
đau đầu, đau tim, đau bụng, đau lưng…; thuyết pháp không sợ hãi,
như sư tử lao tới, một hay hai con cũng vậy. Nghĩa của “người
nâng đỡ các bạn đồng phạm hạnh” đã giải rộng ở Khandhaka-vagga.
“Nhựa Pháp, tài sản Pháp” đều nói đến sự thọ dụng Pháp. “Sự giúp
đỡ bằng Pháp” là nâng đỡ bằng Pháp.
Đức Thế Tôn lại an ủi: “Này Ānanda, chẳng phải Ta đã tuyên bố rằng phải xa
lìa, chia lìa, đoạn lìa khỏi mọi điều thân ái sao? Làm sao có
được: ‘Cái gì sinh, thành, do duyên, chịu hoại mà đừng hoại’?
Điều ấy không thể.” “Thân của Như Lai cũng vậy: dù có viên mãn
Ba-la-mật, dù thành đạo, chuyển pháp luân, hiện song thông, lên
trời rồi xuống… cái thân sinh diệt ấy cũng không thể không hoại.
Dù khóc than cũng không thể có được điều ấy. Nó vẫn phải hoại.”
“Cũng như vậy” — Tăng đoàn giống như cây jambū lớn cao trăm do-tuần; vị
Chủ Soái Chánh Pháp như cành lớn dài năm mươi do-tuần ở phía
nam. Khi cành lớn gãy, không còn cành nào đủ sức thay thế bằng
cách lớn lên và trổ hoa quả ở vị trí ấy; cũng vậy khi trưởng lão
viên tịch, không có vị nào như Ngài Sāriputta đủ khả năng ngồi
ghế phải (dakkhiṇāsana) với trí tuệ đạt đỉnh mười sáu loại tuệ.
Do đó Tăng đoàn như cây mất cành lớn, nên nói là “mất cành lớn.”
Vì thế, bởi tất cả hữu vi là pháp hoại diệt, nên không thể cầu
“đừng hoại.”
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
II. Phẩm Nàlanda
13. III. Cunda (Tạp 24,39, Ðại 2,176b)
(S.v,161)
1) Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, khu vườn
của ông Cấp Cô Ðộc.
2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta trú ở Magadha, tại làng
Nàla, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Và Sa-di Cunda là thị giả
của Tôn giả Sàriputta.
3) Tôn giả nhập Niết-bàn vì bệnh ấy.
4) Rồi Sa-di Cunda cầm lấy y bát của Tôn giả Sàriputta đi
đến Sàvatthi, Thắng Lâm, tại khu vườn của ông Cấp Cô Ðộc, đi đến
Tôn giả Ananda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda, rồi ngồi
xuống một bên. .. Ngồi một bên, Sa-di Cunda nói với Tôn giả
Ananda:
-- Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung. Ðây là
y bát của vị ấy.
5) -- Này Hiền giả Cunda, đây là lý do để đến yết kiến Thế
Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn; sau khi
đến, chúng ta hãy báo tin này cho Thế Tôn.
-- Thưa vâng, Thượng tọa.
Sa-di Cunda vâng đáp Tôn giả Ananda.
6) Rồi Tôn giả Ananda và Sa-di Cunda đi đến Thế Tôn; sau khi
đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn
giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Sa-di Cunda này thưa như sau: "Bạch Thượng
tọa, Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung. Ðây là y và bát của vị
ấy". Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy (bàng
hoàng) (madhurakajato). Các phương hướng không hiện ra rõ ràng
đối với con. Pháp sẽ không được giảng cho con, khi con nghe tin
Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung.
7) -- Này Ananda, Sàriputta có đem theo giới uẩn khi mệnh
chung? Có đem theo định uẩn khi mệnh chung? Có đem theo tuệ uẩn
khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung? Có
đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung không?
-- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta không đem theo giới uẩn
khi mệnh chung, không đem theo định uẩn khi mệnh chung, không
đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát uẩn
khi mệnh chung, không đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh
chung. Nhưng bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta là vị giáo giới cho
con, là vị đã vượt qua (bộc lưu), là bậc giáo thọ, là vị khai
thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, là vị thuyết
pháp không biết mệt mỏi, là vị hộ trì cho các đồng Phạm hạnh.
Chúng con đều ức niệm rằng Tôn giả Sàriputta là tinh ba của pháp
(dhammojam), là tài sản của pháp (dhammabhogam), là hộ trì của
pháp.
8) -- Này Ananda, có phải trước đây Ta đã từng tuyên bố với
Ông rằng mọi pháp khả ái, khả ý đều có tánh chất khác biệt, có
tánh chất ly tán, có tánh chất đổi khác? Làm sao, này Ananda, ở
đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: "Mong rằng cái gì
được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại
có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như vậy không xảy ra.
9) Ví như, này Ananda, từ một cây lớn mọc thẳng, có lõi cây,
một cành cây lớn bị gãy đổ. Cũng vậy, này Ananda, từ nơi chúng
Tỷ-kheo đứng thẳng, có lõi cây, Sàriputta bị mệnh chung. Làm
sao, này Ananda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu
được: "Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là
pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như
vậy không xảy ra.
10) Do vậy, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính
mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì
khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ
nương tựa, chớ nương tựa một điều gì khác. Này Ananda, thế nào
là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa
chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp
làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa
một điều gì khác?
11) Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời...
trú, quán thọ trên các thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú,
quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp
phục tham ưu ở đời. Như vậy, này Ananda, Tỷ-kheo tự mình là ngọn
đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương
tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp
làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
12) Này Ananda, những ai hiện nay, hay sau khi Ta diệt độ,
tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính
mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn
đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều
gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong
hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.