BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 29 tháng 01, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 47. Tương Ưng Niệm Xứ -Phẩm Nàlandà- SN 47.14
Bài 601. KHI NHỊ VỊ THƯỢNG THỦ THINH VĂN VIÊN TỊCH
-
Kinh Ukkacelā (Ukkacelāsuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-601.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Trong lịch sử Tăng đoàn, khi hai trụ cột trí tuệ là Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Moggallāna đã viên tịch để lại một khoảng lặng . Sự “trống vắng” mà Đức Phật nhắc đến không phải là mất mát theo nghĩa thế tục, mà là sự nhận biết rất tỉnh thức về một biến đổi lớn trong nhân duyên. Tăng đoàn vẫn đầy đủ, giới luật vẫn nguyên vẹn, giáo pháp vẫn sáng tỏ, nhưng những nhánh lớn nhất của cây đại thụ đã rơi xuống. Chính vì thấy rõ bản chất vô thường ấy, Đức Phật không rơi vào sầu bi hay than khóc. Sự im lặng của Ngài là sự im lặng của trí tuệ đã vượt qua khổ đau. Hình ảnh cành lớn gãy khỏi cây lõi cứng nhắc nhở rằng ngay cả những gì cao quý nhất cũng không nằm ngoài định luật sinh diệt. Nhưng lõi cây vẫn còn, nghĩa là Chánh pháp vẫn đứng vững. Hai vị đại đệ tử không mất đi, mà đã hoàn tất trọn vẹn con đường của mình. Nỗi buồn, nếu có, thuộc về người còn ở lại, chưa buông được sự nương tựa vào hình tướng. Vì thế, lời dạy “hãy tự làm hải đảo cho chính mình” vang lên như một di huấn sống động. Không ai có thể đi thay con đường giải thoát cho ai, dù đó là bậc trí tuệ đệ nhất hay thần thông đệ nhất. Nương tựa tối hậu không phải là con người, mà là Pháp. Chính trong sự chia ly lớn lao này, thông điệp tự lực và tỉnh giác của đạo Phật lại được chiếu sáng mạnh mẽ nhất. Tăng đoàn mất hai bậc thượng thủ, nhưng người học đạo được trao lại một trách nhiệm trưởng thành hơn. Sự viên tịch của các Ngài không khép lại con đường, mà mở ra lời nhắc nhở nghiêm cẩn về tinh tấn. Top of Form

Kinh Văn

380. ekaṃ samayaṃ bhagavā vajjīsu viharati ukkacelāyaṃ  gaṅgāya nadiyā tīre mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṃ  aciraparinibbutesu sāriputtamoggallānesu. tena kho  pana samayena bhagavā bhikkhusaṅghaparivuto  ajjhokāse nisinno hoti.
atha kho bhagavā tuṇhībhūtaṃ bhikkhusaṅghaṃ anuviloketvā  bhikkhū āmantesi — “api myāyaṃ, bhikkhave, parisā suññā  viya khāyati parinibbutesu sāriputtamoggallānesu. asuññā me,  bhikkhave, parisā hoti, anapekkhā tassaṃ disāyaṃ hoti,  yassaṃ disāyaṃ sāriputtamoggallānā viharanti. ye hi te,  bhikkhave, ahesuṃ atītamaddhānaṃ arahanto sammāsambuddhā,  tesampi bhagavantānaṃ etapparamaṃyeva sāvakayugaṃ  {etaparamaṃyeva (sī. syā. kaṃ. pī.)} ahosi  seyyathāpi  mayhaṃ sāriputtamoggallānā. yepi te, bhikkhave, bhavissanti anāgatamaddhānaṃ arahanto sammāsambuddhā,  tesampi bhagavantānaṃ etapparamaṃyeva sāvakayugaṃ  bhavissati — seyyathāpi mayhaṃ sāriputtamoggallānā.  acchariyaṃ, bhikkhave, sāvakānaṃ! 
abbhutaṃ, bhikkhave, sāvakānaṃ! satthu ca nāma sāsanakarā bhavissanti ovādappaṭikarā, catunnañca parisānaṃ  piyā bhavissanti manāpā garubhāvanīyā ca! acchariyaṃ,  bhikkhave, tathāgatassa, abbhutaṃ, bhikkhave, tathāgatassa!  evarūpepi nāma sāvakayuge parinibbute natthi tathāgatassa  soko vā paridevo vā! taṃ kutettha, bhikkhave, labbhā!  yaṃ taṃ jātaṃ bhūtaṃ saṅkhataṃ palokadhammaṃ, taṃ vata  mā palujjīti — netaṃ ṭhānaṃ vijjati. seyyathāpi, bhikkhave, mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato ye mahantatarā khandhā te palujjeyyuṃ; evameva kho, bhikkhave, mahato bhikkhusaṅghassa tiṭṭhato sāravato sāriputtamoggallānā parinibbutā. 
taṃ kutettha, bhikkhave, labbhā! yaṃ taṃ jātaṃ bhūtaṃ  saṅkhataṃ palokadhammaṃ, taṃ vata mā palujjīti —  netaṃ ṭhānaṃ vijjati. tasmātiha, bhikkhave, attadīpā  viharatha attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā.
“kathañca, bhikkhave, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo, dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. 
evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo  anaññasaraṇo, dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo.  ye hi keci, bhikkhave, etarahi vā mamaccaye vā attadīpā  viharissanti attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā  dhammasaraṇā anaññasaraṇā; tamatagge mete, bhikkhave,  bhikkhū bhavissanti ye keci sikkhākāmā”ti. catutthaṃ.

Một thuở, Đức Thế Tôn đang ngự giữa dân Vajji tại Ukkacelā, bên bờ sông Hằng, cùng với một đại chúng Tỳ-khưu đông đảo, không bao lâu sau khi Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Moggallāna đã viên tịch Niết-bàn. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, giữa đại chúng Tỳ-khưu.

Rồi Đức Thế Tôn, sau khi quan sát đại chúng Tỳ-khưu đang im lặng, liền nói với các Tỳ-khưu như sau:

“Này các Tỳ-khưu, hội chúng này đối với Ta nay dường như trống vắng, kể từ khi Sāriputta và Moggallāna đã viên tịch Niết-bàn. Trước đây, hội chúng này không trống vắng đối với Ta, và Ta không hề bận tâm đến việc Sāriputta và Moggallāna đang trú ở phương nào.

Các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã xuất hiện trong quá khứ cũng từng có nhị vị đệ tử tối thắng như Ta đã có nơi Sāriputta và Moggallāna. Các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác sẽ xuất hiện trong tương lai cũng sẽ có nhị vị đệ tử tối thắng như Ta đã có nơi Sāriputta và Moggallāna.

Thật là kỳ diệu, này các Tỳ-khưu, nơi hàng đệ tử; thật là hy hữu nơi hàng đệ tử, rằng họ hành xử đúng theo lời dạy của bậc Đạo Sư, thuận theo lời giáo huấn của Ngài; rằng họ được bốn chúng thương mến và ưa thích, được bốn chúng kính trọng và tôn quý. Thật là kỳ diệu, này các Tỳ-khưu, nơi Như Lai; thật là hy hữu nơi Như Lai, rằng khi nhị vị đệ tử như thế đã viên tịch Niết-bàn, nơi Như Lai không hề có sầu bi hay than khóc.

Này các Tỳ-khưu, làm sao có thể đạt được điều này: ‘Những gì đã sinh, đã thành, do duyên hợp và chịu sự hoại diệt, lại không hoại diệt’? Điều ấy là không thể. Ví như nơi một cây lớn có lõi chắc, những cành to nhất bị gãy rụng; cũng vậy, này các Tỳ-khưu, trong đại chúng Tỳ-khưu có lõi chắc này, Sāriputta và Moggallāna đã viên tịch Niết-bàn. Này các Tỳ-khưu, làm sao có thể đạt được điều này: ‘Những gì đã sinh, đã thành, do duyên hợp và chịu sự hoại diệt, lại không hoại diệt’? Điều ấy là không thể.

Do vậy, này các Tỳ-khưu, hãy tự mình làm đảo tựa cho chính mình, hãy tự mình làm nơi trú ẩn cho chính mình, không tìm cầu nơi trú ẩn nào khác; hãy lấy Giáo pháp làm đảo tựa, lấy Giáo pháp làm nơi trú ẩn, không tìm cầu nơi trú ẩn nào khác. Và này Các Tỳ-khưu, làm thế nào một Tỳ-khưu tự mình làm đảo tựa cho chính mình, tự mình làm nơi trú ẩn cho chính mình, không tìm cầu nơi trú ẩn nào khác; lấy Giáo pháp làm đảo tựa, lấy Giáo pháp làm nơi trú ẩn, không tìm cầu nơi trú ẩn nào khác? Ở đây, này Các Tỳ-khưu, một Tỳ-khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, loại bỏ tham ưu  ở đời. Vị ấy sống quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, loại bỏ tham ưu phiền ở đời.

Này Các Tỳ-khưu, những Tỳ-khưu nào, dù là bây giờ hay sau khi Ta diệt độ, sống tự mình làm đảo tựa cho chính mình, tự mình làm nơi trú ẩn cho chính mình, không tìm cầu nơi trú ẩn nào khác; lấy Giáo pháp làm đảo tựa, lấy Giáo pháp làm nơi trú ẩn, không tìm cầu nơi trú ẩn nào khác — chính những Tỳ-khưu ấy đối với Ta, này Các Tỳ-khưu, là những vị tối thượng trong hàng ngũ những người thiết tha tu học.”

Chú Thích

Theo các bản Sớ giải  (đặc biệt là Sớ giải Saṃyutta Nikāya – Sāratthappakāsinī và các nguồn liên quan), Tôn giả Sāriputta viên tịch Niết-bàn vào ngày trăng tròn tháng Kattika (tháng 8 âm lịch, khoảng tháng 10-11 dương lịch), còn Tôn giả Moggallāna viên tịch Niết-bàn sau đó đúng nửa tháng, vào ngày trăng non cùng tháng Kattika. Điều này được ghi nhận nhất quán trong truyền thống:

  • Tôn giả Sāriputta viên tịch vào ngày trăng tròn (full-moon day) tháng Kattika, tại nhà mẹ ở làng Nālaka (Nālakagāma), nước Magadha.
  • Tôn giả Moggallāna viên tịch vào ngày trăng non (new-moon day) tháng Kattika, tức 15 ngày sau, tại Kālasilā trên núi Isigili gần Rājagaha.

Khoảng cách nửa tháng này được các chú giải xác nhận rõ ràng, và sự kiện xảy ra vào năm Đức Phật viên tịch Niết-bàn (khoảng nửa năm trước Parinibbāna của Đức Phật vào tháng Vesākha – tháng 4-5). Hai vị đại đệ tử viên tịch trước Đức Phật khoảng 6 tháng, để lại khoảng trống lớn trong Tăng đoàn, như Đức Phật đã nói ở kinh Ukkacelā (SN 47.14): đại chúng trở nên “trống rỗng” sau khi mất hai bậc tối thượng thinh văn ấy.

Sớ Giải

380-381. catutthe aciraparinibbutesu sāriputtamoggallānesūti naciraparinibbutesu dvīsu aggasāvakesu. tesañhi dhammasenāpati kattikamāsapuṇṇamāya parinibbuto, mahāmoggallāno tato aḍḍhamāsaṃ atikkamma amāvasuposathe. satthā dvīsu aggasāvakesu parinibbutesu mahābhikkhusaṅghaparivāro mahāmaṇḍale cārikaṃ caramāno anupubbena ukkacelanagaraṃ patvā tattha piṇḍāya caritvā gaṅgāpiṭṭhe rajatapaṭṭavaṇṇavālikāpuline vihāsi. tena vuttaṃ “aciraparinibbutesu sāriputtamoggallānesū”ti.
ye mahantatarā khandhā te palujjeyyunti idhāpi yojanasatubbedho mahājamburukkho viya bhikkhusaṅgho, tassa dakkhiṇato ca uttarato ca gatā paṇṇāsayojanikā dve mahākhandhā viya dve aggasāvakāti. sesaṃ purimanayeneva yojetabbaṃ. pañcame diṭṭhīti kammassakadiṭṭhi.

380–381. Ở bài kinh thứ tư: “khi hai vị Sāriputta và Moggallāna vừa mới viên tịch” tức là khi hai vị đại đệ tử thượng thủ vừa mới nhập Niết-bàn không bao lâu. Thật vậy, vị Chủ soái chánh pháp Dhammasenāpati (Tôn giả Sāriputta) đã viên tịch vào ngày rằm tháng Kattika, còn Tôn giả Mahāmoggallāna thì viên tịch sau đó nửa tháng, vào ngày sóc (ngày không trăng).

Sau khi cả hai vị đại đệ tử thượng thủ đã viên tịch, Đức Thế Tôn cùng với đại chúng Tỳ-khưu đông đảo du hành trên lộ trình rộng lớn. Ngài tuần tự đi đến thành Ukkacelā, tại đây sau khi khất thực, Ngài trú lại trên bãi cát ven sông Hằng, có màu trắng như tấm bạc.

Do vậy mới nói: “khi Sāriputta và Moggallāna vừa mới viên tịch.”

Câu “những cành lớn hơn bị gãy rời” ở đây cũng nên được hiểu như trước: Tăng đoàn ví như cây đại jambū cao đến trăm do-tuần; hai vị đại đệ tử thượng thủ ví như hai cành lớn, mỗi cành dài năm mươi do-tuần, vươn ra về phía nam và phía bắc của cây ấy. Phần còn lại nên được nối kết và hiểu theo cùng lối giải thích như trước.

Ở bài thứ năm, “diṭṭhi” (quan kiến) được hiểu là kammassakatā-diṭṭhi — quan điểm cho rằng mỗi chúng sinh là chủ nhân của nghiệp mình, thừa tự nghiệp mình.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

II. Phẩm Nàlanda

14. IV. Celam (Tạp 24, 40, Ðại 2,177a) (S.v,163)

1) Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Vajjii, tại Ukkacelà, trên bờ sông Hằng, với đại chúng Tỷ-kheo, sau khi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Moggalàna mệnh chung không bao lâu.

2) Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, xung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn, sau khi nhìn quanh chúng Tỷ-kheo im lặng, liền nói với các Tỷ-kheo:

3) -- Này các Tỷ-kheo, chúng này của Ta được xem hình như trống không. Nay Sàriputta và Moggalàna đã mệnh chung, này các Tỷ-kheo, chúng của Ta thành trống không. Phương hướng nào Sàriputta và Moggalàna trú, phương hướng ấy không còn có ước vọng gì (anapekkhà).

4) Này các Tỷ-kheo, các bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, các vị Thế Tôn ấy đã có một cặp đệ tử tối thắng như Ta có Sàriputta và Moggalàna. Này các Tỷ-kheo, các bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nào trong đời vị lai, những bậc Thế Tôn ấy sẽ có một cặp đệ tử tối thắng như Ta có Sàriputta và Moggalàna.

5) Thật là vi diệu thay về các đệ tử, này các Tỷ-kheo! Thật hy hữu thay về các đệ tử, này các Tỷ-kheo! Họ thực hành những lời dạy của đức Bổn sư. Họ làm trách nhiệm giáo giới. Họ được bốn chúng ái kính, khả ý, khả kính, quý mến. Thật vi diệu thay, này các Tỷ-kheo, về Như Lai! Thật hy hữu thay, này các Tỷ-kheo, về Như Lai! Trong khi cặp đệ tử như vậy mệnh chung, Như Lai không có sầu buồn, hay không có than khóc. Làm sao, này Ananda, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: "Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như vậy không xảy ra.

6) Ví như, này các Tỷ-kheo, từ một cây lớn mọc thẳng, có lõi cây, những cành cây lớn hơn bị gãy đỗ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, từ nơi đại chúng Tỷ-kheo đứng thẳng, có lõi cây, Sàriputta và Moggalàna bị mệnh chung. Làm sao, này các Tỷ-kheo, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: "Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như vậy không thể xảy ra.

7) Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình... (như trên số 10, kinh trước)...

8) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân... không nương tựa một ai khác.

9) Này các Tỷ-kheo, những ai hiện nay, hay sau khi Ta diệt độ... nếu những vị ấy thiết tha học hỏi.