MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 47. Tương Ưng Niệm Xứ
-Phẩm Nàlandà- SN 47.15, 16, 17, 18
Bài 602. BỐN BÀI KINH MỘT CON ĐƯỜNG
-
Kinh Bāhiya (Bāhiyasuttaṃ),
Kinh Uttiya (Uttiyasuttaṃ),
Kinh Thánh Thiện (Ariyasuttaṃ),
Kinh Phạm Thiên (Brahmasuttaṃ).
Bốn bài kinh ở đây tuy ngắn gọn về hình thức, nhưng mở ra một chân trời
giáo pháp sâu thẳm về con đường độc đạo của sự tu tập Tứ Niệm
Xứ. Đức Phật không trình bày nhiều phương tiện rẽ nhánh, mà chỉ
thẳng một lối đi duy nhất đưa đến thanh tịnh và giải thoát. Từ
các kinh Bāhiya, Uttiya cho đến lời của Phạm Thiên Sahampati,
tất cả đều gặp nhau ở điểm này: Tứ Niệm Xứ là nhất đạo. Con
đường ấy không thuộc riêng cho một giai cấp, một thời đại hay
một hình thức xuất gia nào. Chư Phật trong quá khứ đã đi qua con
đường này để vượt dòng sinh tử. Các bậc Thánh đệ tử trong hiện
tại cũng đi qua con đường ấy để đoạn tận khổ đau.
Kinh Văn
Kinh Bāhiya
(Bāhiyasuttaṃ)
381. sāvatthinidānaṃ. atha kho
āyasmā bāhiyo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho
āyasmā bāhiyo bhagavantaṃ etadavoca — “sādhu me, bhante, bhagavā
saṃkhittena dhammaṃ desetu, yamahaṃ bhagavato dhammaṃ sutvā eko
vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
“tasmātiha tvaṃ, bāhiya, ādimeva visodhehi kusalesu dhammesu. ko
cādi kusalānaṃ dhammānaṃ? sīlañca suvisuddhaṃ, diṭṭhi ca ujukā.
yato ca kho te, bāhiya, sīlañca suvisuddhaṃ bhavissati, diṭṭhi
ca ujukā, tato tvaṃ, bāhiya, sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya
cattāro satipaṭṭhāne bhāveyyāsi”.
“katame cattāro? idha, tvaṃ, bāhiya, kāye kāyānupassī viharāhi
ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ;
vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī
viharāhi ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke
abhijjhādomanassaṃ. yato kho tvaṃ, bāhiya, sīlaṃ nissāya sīle
patiṭṭhāya ime cattāro satipaṭṭhāne evaṃ bhāvessasi, tato
tuyhaṃ, bāhiya, yā ratti vā divaso vā āgamissati, vuddhiyeva
pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihānī”ti.
atha kho āyasmā bāhiyo bhagavato bhāsitaṃ abhinanditvā
anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā
pakkāmi. atha kho āyasmā bāhiyo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī
pahitatto viharanto nacirasseva — yassatthāya kulaputtā
sammadeva agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti, tadanuttaraṃ —
brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā
sacchikatvā upasampajja vihāsi. “khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā”ti
abbhaññāsi. aññataro ca panāyasmā bāhiyo arahataṃ ahosīti.
pañcamaṃ.
Nhân duyên tại Sāvatthī.
Bấy giờ Tôn giả Bāhiya đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi
xuống một bên và thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, sẽ là điều tốt đẹp nếu Thế Tôn dạy cho con Pháp
một cách vắn tắt, để sau khi nghe Pháp từ Thế Tôn, con có thể
sống độc cư, viễn ly, tinh cần, nhiệt tâm và dõng mãnh.”
“Này Bāhiya, vậy thì hãy bắt đầu với sự thanh tịnh của các thiện
pháp. Và thế nào là bắt đầu với sự thanh tịnh của các thiện
pháp? Đó là giới được khéo làm cho thanh tịnh và tri kiến được
chơn chánh. Rồi này Bāhiya, khi giới của Thầy đã được khéo làm
cho thanh tịnh và tri kiến được chân chánh, nương trên giới, an
trú trên giới, hãy
tu tập bốn niệm xứ.
“Bốn niệm xứ là gì? Ở đây, này Bāhiya, hãy an trú quán thân trên
thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.
Hãy an trú quán thọ trên các thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp
trên các pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu
ở đời.
“Khi nào, này Bāhiya, nương trên giới, an trú trên giới, Thầy tu
tập bốn niệm xứ như vậy, thì dù ngày hay đêm đến, chỉ có thể
mong đợi sự tăng trưởng các pháp thiện, chứ không có sự suy
giảm.”
Rồi Tôn giả Bāhiya hoan hỷ và tín thọ lời Thế Tôn dạy, đứng dậy
khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu Ngài bên phải rồi ra
đi. Sau đó, sống độc cư, viễn ly, tinh cần, nhiệt tâm và kiên
quyết, Tôn giả Bāhiya, ngay trong đời sống hiện tại này, tự mình
với thắng trí trực tiếp chứng ngộ và an trú trong mục đích tối
thượng của đời sống phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện nam
tử chân chánh từ bỏ đời sống tại gia, xuất gia sống không gia
đình. Vị ấy tự mình biết rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành,
việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái hiện hữu này
nữa.” Và Tôn giả Bāhiya đã trở thành một vị A-la-hán.
Kinh
Uttiya (Uttiyasuttaṃ)
382. sāvatthinidānaṃ. atha kho
āyasmā uttiyo yena bhagavā tenupasaṅkami ... pe ... ekamantaṃ
nisinno kho āyasmā uttiyo bhagavantaṃ etadavoca — “sādhu me,
bhante, bhagavā saṃkhittena dhammaṃ desetu, yamahaṃ bhagavato
dhammaṃ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto
vihareyyan”ti. “tasmātiha tvaṃ, uttiya, ādimeva visodhehi
kusalesu dhammesu. ko cādi kusalānaṃ dhammānaṃ? sīlañca
suvisuddhaṃ, diṭṭhi ca ujukā. yato ca kho te, uttiya, sīlañca
suvisuddhaṃ bhavissati, diṭṭhi ca ujukā, tato tvaṃ, uttiya,
sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya cattāro satipaṭṭhāne bhāveyyāsi”.
“katame cattāro? idha tvaṃ, uttiya, kāye kāyānupassī viharāhi
ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ;
vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī
viharāhi ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke
abhijjhādomanassaṃ. yato kho tvaṃ, uttiya, sīlaṃ nissāya sīle
patiṭṭhāya ime cattāro satipaṭṭhāne evaṃ bhāvessasi, tato tvaṃ,
uttiya, gamissasi maccudheyyassa pāran”ti.
atha kho āyasmā uttiyo bhagavato bhāsitaṃ abhinanditvā
anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā
pakkāmi. atha kho āyasmā uttiyo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī
pahitatto viharanto nacirasseva — yassatthāya kulaputtā
sammadeva agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti, tadanuttaraṃ —
brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā
sacchikatvā upasampajja vihāsi. “khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā”ti
abbhaññāsi. aññataro ca panāyasmā uttiyo arahataṃ ahosīti.
chaṭṭhaṃ.
Nhân duyên tại Sāvatthī.
Bấy giờ Tôn giả Bāhiya đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi
xuống một bên và thưa rằng:
… (tất cả giống như bài kinh trước, cho đến đoạn:) …
“Khi nào, này Uttiya, nương trên giới, an trú trên giới, Thầy tu
tập bốn niệm xứ như vậy, ông sẽ vượt qua cảnh giới của Tử thần.”
Rồi Tôn giả Uttiya, sau khi hoan hỷ và tán thán lời Thế Tôn dạy,
đứng dậy khỏi chỗ ngồi … (như trong bài kinh trước) … Và Tôn giả
Uttiya đã trở thành một vị A-la-hán.
Kinh
Thánh Thiện (Ariyasuttaṃ)
383. “cattārome, bhikkhave,
satipaṭṭhānā bhāvitā bahulīkatā ariyā niyyānikā niyyanti
takkarassa sammā dukkhakkhayāya. katame cattāro? idha,
bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno
satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu ... pe ...
citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno
satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. ime kho, bhikkhave,
cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā bahulīkatā ariyā niyyānikā niyyanti
takkarassa sammā dukkhakkhayāyā”ti. sattamaṃ.
“Này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ này, khi được tu tập và được làm
cho sung mãn, là thánh thiện và đưa đến giải thoát; chúng dẫn
người thực hành chúng đi đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau. Thế
nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo an trú quán thân trên
thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời.
Vị ấy an trú quán thọ trên các thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp
trên các pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu
ở đời.”
“Này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ này, khi được tu tập và được làm
cho sung mãn, là thánh thiện và đưa đến giải thoát; chúng dẫn
người thực hành chúng đi đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau.”
Kinh
Phạm Thiên (Brahmā)
384. ekaṃ samayaṃ bhagavā
uruvelāyaṃ viharati najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhe
paṭhamābhisambuddho. atha kho bhagavato rahogatassa
paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi — “ekāyano ayaṃ
maggo sattānaṃ visuddhiyā sokaparidevānaṃ samatikkamāya
dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa
sacchikiriyāya, yadidaṃ — cattāro satipaṭṭhānā”.
“katame cattāro? kāye vā bhikkhu kāyānupassī vihareyya ātāpī
sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vā
bhikkhu ... pe ... citte vā bhikkhu ... pe ... dhammesu vā
bhikkhu dhammānupassī vihareyya ātāpī sampajāno satimā, vineyya
loke abhijjhādomanassaṃ. ekāyano ayaṃ maggo sattānaṃ visuddhiyā
sokaparidevānaṃ samatikkamāya dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya
ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṃ — cattāro
satipaṭṭhānā”ti.
atha kho brahmā sahampati bhagavato cetasā
cetoparivitakkamaññāya — seyyathāpi nāma balavā puriso
samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya,
evameva — brahmaloke antarahito bhagavato purato pāturahosi.
atha kho brahmā sahampati ekaṃsaṃ uttarāsaṅgaṃ karitvā yena
bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā bhagavantaṃ etadavoca — “evametaṃ,
bhagavā, evametaṃ, sugata! ekāyano ayaṃ, bhante, maggo sattānaṃ
visuddhiyā sokaparidevānaṃ samatikkamāya dukkhadomanassānaṃ
atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya,
yadidaṃ — cattāro satipaṭṭhānā”.
“katame cattāro? kāye vā, bhante, bhikkhu kāyānupassī vihareyya
ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ;
vedanāsu vā, bhante, bhikkhu ... pe ... citte vā, bhante,
bhikkhu ... pe ... dhammesu vā, bhante, bhikkhu dhammānupassī
vihareyya ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke
abhijjhādomanassaṃ. ekāyano ayaṃ, bhante, maggo sattānaṃ
visuddhiyā sokaparidevānaṃ samatikkamāya dukkhadomanassānaṃ
atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya,
yadidaṃ — cattāro satipaṭṭhānā”ti. idamavoca brahmā sahampati.
idaṃ vatvā athāparaṃ etadavoca — “ekāyanaṃ jātikhayantadassī,
maggaṃ pajānāti hitānukampī.
etena maggena tariṃsu pubbe, tarissanti ye ca taranti oghan”ti.
aṭṭhamaṃ.
Một thuở, Đức Thế Tôn ngự tại Uruvelā, bên bờ sông Nerañjarā,
dưới gốc cây đa của người chăn dê, ngay sau khi Ngài vừa chứng
đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Khi ấy, trong lúc Thế Tôn
đang độc cư, viễn ly, một suy tư khởi lên trong tâm Ngài như
sau:
“Đây là con đường độc nhất đưa đến sự thanh tịnh của chúng
sinh, đưa đến sự vượt qua sầu và bi, đưa đến sự đoạn diệt khổ và
ưu, đưa đến sự thành tựu chánh đạo, đưa đến sự chứng ngộ
Niết-bàn, tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
Ở đây, một Tỷ-kheo an trú quán thân trên thân, tinh cần,
tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Vị ấy an trú quán
thọ trên các thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp,
tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Đây
chính là con đường độc nhất đưa đến sự thanh tịnh của chúng
sinh… tức là bốn niệm xứ.”
Rồi Phạm Thiên Sahampati, với tâm mình biết được suy tư trong
tâm Thế Tôn, nhanh như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co
lại hay co cánh tay đang duỗi ra, liền biến mất khỏi cõi Phạm
thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn. Ngài đắp y thượng qua một
bên vai, chắp tay cung kính hướng về Thế Tôn và bạch rằng:
“Quả thật là như vậy, bạch Thế Tôn! Quả thật là như vậy,
bạch Thiện Thệ! Bạch Tôn giả, đây chính là con đường độc nhất
đưa đến sự thanh tịnh của chúng sinh… (tất cả như trên) … tức là
bốn niệm xứ.” [168]
Đó là điều Phạm Thiên Sahampati đã nói. Sau khi nói như vậy, vị
ấy lại nói thêm:
Thấy sự đoạn sanh hữu
Biết con đường duy nhất
(Tất cả) Đấng Đại Bi
Đã từng vượt bộc lưu,
Sẽ vượt thoát bộc lưu,
Nay cũng vượt bộc lưu
Chú Thích
Bốn bài kinh trên mặc dù duyên sự rất khác biệt nhưng đều xoay chung quanh
sự tu tập tứ niệm xứ với vài chi tiết khác biệt nhỏ nên gom
chung thành một bài học.
Tôn giả Bāhiya trong bài kinh nầy còn được biết tên Bāhika không phải là
Bāhiya Dārucīriya (Bāhiya mặc y phục bằng vỏ cây) vốn được nhắc
nhiều (…).
Tôn giả Uttiya là con trai của một vị Bà-la-môn ở Sāvatthī. Khi đến tuổi
trưởng thành, ngài từ bỏ đời sống thế tục, đi tìm “Bất tử”
(amata), và trở thành một du sĩ ngoại đạo (Paribbājaka). Một
ngày nọ, trong chuyến du hành, ngài đến nơi Đức Phật đang thuyết
pháp và xin gia nhập Tăng đoàn. Tuy nhiên, do giới hạnh chưa
được thanh tịnh, ngài không thể đạt được mục tiêu của mình. Thấy
các Tỷ-kheo khác đã chứng đạt mục đích, ngài thỉnh cầu Đức Phật
dạy cho một bài pháp vắn tắt. Đức Phật đã giảng cho ngài một
pháp ngắn gọn, và ngài dùng pháp ấy làm đề mục thiền quán. Trong
khi hành thiền, ngài lâm bệnh; nhưng với sự lo lắng và khẩn
thiết ấy, ngài đã dốc toàn bộ nỗ lực tinh tấn và chứng đắc
A-la-hán quả
Kinh Phạm Thiên ghi lại sự kiện xầy ra vào tuần lễ thứ năm sau khi Đức
Phật thành đạo.
Sớ Giải
381. pañcame diṭṭhīti kammassakadiṭṭhi.
Ở bài kinh thứ năm, “diṭṭhi” (quan kiến) được hiểu là kammassakatā-diṭṭhi
— tri kiến hiểu mỗi chúng sinh có nghiệp riêng, thừa tự nghiệp
mình.
382. chaṭṭhe maccudheyyassa pāranti tebhūmakavaṭṭassa
pārabhūtaṃ, nibbānaṃ.
“Trong (bài kinh) thứ sáu, ‘bờ bên kia của cảnh giới Tử thần’ chính là
Niết-bàn, vượt khỏi vòng xoay của ba cõi.”
Không có bản sớ giải riêng cho bài kinh thứ bảy tức Kinh
Thánh Thiện (Ariyasuttaṃ) (SN 47.17)
384. aṭṭhame kāye vā bhikkhūti
tasmiṃ kāle bhikkhuyeva natthi, evaṃ santepi yo satipaṭṭhāne
bhāveti, so kilesabhindanena bhikkhuyevāti dassento evamāha.
ekāyananti ekamaggaṃ. jātikkhayantadassīti jātiyā khayoti ca
antoti ca nibbānaṃ, taṃ passatīti attho. maggaṃ pajānātīti
ekāyanasaṅkhātaṃ ekamaggabhūtaṃ maggaṃ pajānāti. ekāyanamaggo
vuccati pubbabhāgasatipaṭṭhānamaggo, taṃ pajānātīti attho.
384. “Trong (bài kinh) thứ tám, khi nói ‘vị bhikkhu (tỳ khưu), sống quán
thân…’ thì vào thời điểm ấy thật sự không có Tỳ khưu nào hiện
diện. Tuy vậy, Đức Phật nói như thế nhằm chỉ rõ rằng: bất kỳ ai
tu tập Tứ Niệm Xứ, người ấy — do năng lực phá vỡ các phiền não —
cũng chính là Tỳ khưu. (trong trường hợp nầy bhikkhu có nghĩa là
“hành giả”)
‘Ekāyana’ nghĩa là con đường duy nhất (độc đạo).
‘Jātikkhayantadassī’ nghĩa là: vị thấy được sự đoạn tận của
sinh; bởi vì Niết-bàn vừa là sự diệt của sinh (jātikkhaya), vừa
là sự chấm dứt tối hậu (anta), và vị ấy thấy được Niết-bàn ấy.
‘Maggaṃ pajānāti’ nghĩa là: vị ấy liễu tri con đường — tức là liễu tri con
đường duy nhất (ekāyana), con đường mang tính nhất đạo.
Con đường duy nhất (ekāyana-magga) ấy được gọi là con đường Tứ Niệm Xứ
thuộc phần chuẩn bị (pubbabhāga); liễu tri con đường ấy chính là
ý nghĩa ở đây.”
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
II. Phẩm Nàlanda
15. V. Bàhiya, hay
Bàhika (Tạp 24,24, Ðại 2,175a) (S.v,165)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi Tôn giả Bàhiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến... Ngồi
một bên, Tôn giả Bàhiya bạch Thế Tôn:
-- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt
cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình,
an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
-- Như vậy, này Bàhiya, hãy làm cho thanh tịnh các pháp căn
bản trong các thiện pháp. Thế nào là các pháp căn bản trong các
thiện pháp? -- Giới khéo thanh tịnh và tri kiến chánh trực.
3) Và này Bàhiya, khi nào Ông có giới khéo thanh tịnh, và
tri kiến chánh trực; rồi này Bàhiya, y cứ vào giới, an trú vào
giới, Ông hãy tu tập bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
4) Ở đây, này Bàhiya, Ông hãy trú, quán thân trên thân,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Hãy
trú, quán thọ trên các thọ... Hãy trú, quán tâm trên tâm... Hãy
trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm,
nhiếp phục tham ưu ở đời. Khi nào, này Bàhiya, y cứ vào giới, an
trú vào giới, Ông tu tập như vậy bốn niệm xứ này. Do vậy, này
Bàhiya, ban đêm hay bàn ngày, chờ đợi là các thiện pháp tăng
trưởng, không phải tổn giảm.
5) Rồi Tôn giả Bàhiya hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, đảnh
lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
6) Rồi Tôn giả Bàhiya sống một mình, an tịnh, không phóng
dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục đích mà
người thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống
không gia đình: Chính là vô thượng Phạm hạnh, ngay trong hiện
tại, vị ấy tự mình chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an
trú. Vị ấy rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc
nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
7) Rồi Tôn giả Bàhiya trở thành một vị A-la-hán nữa.
16. VI. Uttiya (Tạp 24,22, Ðại 2,174c)
(S.v,166)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2-4) Rồi Tôn giả Uttiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến...
--. .. Do vậy, này Uttiya, Ông sẽ vượt khỏi giới vức của tử
ma.
5-7) Rồi Tôn giả Uttiya trở thành một vị A-la-hán nữa.
17. VII. Bậc Thánh (Tạp 24,23, Ðại 2,176a)
(S.v,166)
1) Ở Sàvatthi...
2) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn niệm xứ này được tu tập, được
làm cho sung mãn, là những Thánh dẫn đạo, dắt dẫn những ai thực
hành theo, đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Thế nào là bốn?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời...
trú, quán thọ trên các thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú,
quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp
phục tham ưu ở đời.
4) Này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ này được tu tập, được làm
cho sung mãn, là những Thánh dẫn đạo, dắt dẫn những ai thực hành
theo, đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau.
18. VIII. Phạm Thiên (Tạp 44,12, Ðại 2,322a; 24.3,171a; 410b; 494a) (S.v,167)
1) Một thời Thế Tôn trú ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà,
tại cây bàng ajapàla, sau khi mới giác ngộ.
2) Trong khi Thế Tôn độc cư Thiền tịnh, tâm niệm tư tưởng
như sau được khởi lên: "Ðây là con đường độc nhất đưa đến thanh
tịnh cho các chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ đau,
chứng đạt chánh lý (nàya), chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm
xứ". Thế nào là bốn?
3) -- Này Tỷ-kheo, hãy trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... trú, quán thọ
trên các thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán pháp trên
các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ở
đời. Ðây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho các chúng
sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý,
chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm xứ.
4) Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm của mình biết được tâm ý
Thế Tôn, ví như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại
cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên
giới, hiện ra trước mặt Thế Tôn. Rồi Phạm thiên Sahampati đắp
thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế
Tôn:
5) -- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch
Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh
tịnh cho các chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng
đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là
bốn? Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Tỷ-kheo trú,
quán thọ trên các cảm thọ... Tỷ-kheo trú, quán tâm trên tâm...
Tỷ-kheo trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Bạch Thế Tôn, đây là con
đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho các chúng sanh, vượt qua
sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn.
Tức là bốn niệm xứ.
6) Phạm thiên Sahampati thuyết như vậy. Nói như vậy xong,
Phạm thiên Sahampati lại nói thêm:
Thấy con đường độc nhất,
Ðưa đến đoạn tận sanh.
Bậc lân mẫn chúng sanh,
Biết được con đường ấy.
Chính với con đường này,
Trước đã từng vượt qua,
Tương lai sẽ vượt qua,
Nay vượt khỏi bộc lưu.