|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật ngày 04 tháng 07, 2021 GIÁO TRÌNH THẮNG PHÁP ABHIDHAMMA
HƯỚNG DẪN BÀI HỌC Có hai sự thật: (1) Sự thật theo thường thức gọi là tục đế (samutisacca). (2) Sự thật theo bản thể gọi là chân đế (paramatthasacca).
Tục đế (sammutisacca)
Trong sinh hoạt của cuộc sống, bất cứ sự vật gì cũng gán một
cái tên để gọi cho biết như tên người, tên quốc độ, tên loài
hoa, tên loài vật, tên sự kiện, kể cả đặt tên gọi cho pháp
thực tính như tâm thiện, tâm bất thiện, cảnh sắc, cảnh thinh
…v.v… gọi là danh chế định (nāmapaññatti). Một sự định đặt khác, là đặt ra tính cách của sự vật để hình dung, để được hiểu như thời giờ, mùa tiết, hình thể, phương hướng, dấu hiệu …v.v… Đây gọi là nghĩa chế định (atthapaññatti). A. Danh chế định (nāmapaññatti) là sự định đặt danh từ, tên gọi cho sự vật.Có 6 loại danh chế định, là: 1. Danh chơn chế định (vijjamānapaññatti) đặt tên gọi cái có thật theo siêu lý, như sắc, thọ, tưởng, hành, thức …v.v…2. Phi danh chơn chế định (avijjamānapaññatti) đặt tên gọi cái không thật có theo siêu lý, như đất, đá, sông, núi …v.v…3. Danh chơn phi danh chơn chế định (vijjamānena avijjamānapaññatti) đặt tên gọi gồm hai tính chất thực và giả. Thí dụ: maggapuggalo (người đạo) _ Magga (thánh đạo) là thực; puggala (người) là giả.4. Phi danh chơn danh chơn chế định (avijjamānena vijjamānapaññatti) đặt tên gọi gồm hai tính chất “Giả và Thực”. Thí dụ: Itthīsaddo (tiếng nữ)_ Itthī (nữ) là giả; Saddo (tiếng cảnh thinh) là thực.5. Danh chơn danh chơn chế định ( vijjamanena vijjamānapaññatti) đặt tên gồm hai tính chất “Thực và Thực” Thí dụ: cakkhuviññāṇaṃ (nhãn thức)_cakkhu (nhãn, thần kinh nhãn) là thực; viññāṇaṃ (thức, thức uẩn) cũng là thực.6. Phi danh chơn phi danh chơn chế định (avijjamānena avijjamānapaññatti) đặt tên gọi gồm hai tính chất “Giả và Giả”. Thí dụ: Rājaputto (hoàng tử, con vua) _ Rāja (hoàng, vua) là giả; putto (con, con trai) cũng là giả.B. Nghĩa chế định (atthapaññatti) là sự định đặt cái vóc dáng, cái tính thể của sự vật để hiểu.
Có 7 loại nghĩa chế định, là: 1. Hình thức chế định (saṇṭhānāpaññatti) là sự chế định theo hình thể sự vật, như vuông, tròn dài, ngắn, cao, thấp, lớn, nhỏ …v.v…2. Hiệp thành chế định (samūhapaññatti) là sự chế định theo cách kết hợp của sự vật, như nhà, xe, làng, rừng …v.v…3. Chúng sanh chế định (sattapaññatti) sự chế định theo năm uẩn hiện khởi, như con người, con thú, thiên nhân, phạm thiên …v.v…4. Phương hướng chế định (disāpaññatti) sự chế định theo chuyển dịch của quả đất, như hướng đông, hướng tây, hướng nam, hướng bắc …v.v…5. Thời gian chế định (kālapaññatti) sự chế định theo vận hành của mặt trời, mặt trăng, như ban ngày, ban đêm, buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối …v.v…6. Không gian chế định (ākāsapaññatti) sự chế định theo khoảng trống, không xúc chạm, như hầm, hố, lỗ, hang, giếng, ao, sông, hồ …v.v…7. Ấn tướng chế định (nimittapaññatti) sự chế định theo ký hiệu, dấu hiệu, như ký tự, bảng hiệu, biển báo, đề mục tu thiền …v.v…
Danh chế định và và nghĩa chế định là sự định đặt tên gọi và
tướng nghĩa sự vật, định đặt thế nào thì gọi và hiểu cho
đúng thế ấy, nên gọi là tục đế, sự thật của qui định
Chân đế (paramatthasacca)
Sự thật thứ hai gọi là sự thật bản thể. Danh từ
paramatthasacca, chiết tự có 3 từ: parama (tuyệt đối, đệ
nhất, tột cùng); Attha (nghĩa lý, ý nghĩa); Sacca (đế, sự
thật). Paramatthasacca có nhiều cách dịch: siêu lý đế, đệ
nhất nghĩa đế, chân đế …v.v… Tóm lại là sự thật theo nghĩa
tuyệt đối, bản thể thật không thể nói khác được.
Có bốn pháp chân đế: 1. Tâm (citta)2. Tâm sở (cetasika)3. Sắc (rūpa)4. Níp_bàn (nibbāna)
1/
Tâm
(citta)
Tâm là pháp thực tính có tướng trạng biết cảnh (ārammaṇavijānanalakkhaṇaṃ);
có
nhiệm vụ dẫn đầu, hướng đạo tâm sở cùng biết cảnh (pubbhaṅgamarasaṃ);
có biểu hiện là tiếp nối sanh diệt (sandahanapaccuppaṭṭhāṇaṃ);
Nhân
cần thiết là danh và sắc.
Tâm có tướng trạng biết cảnh, vì tâm là năng tri cảnh (ārammaṇaṃ
cintetī ’ti cittaṃ).
Tâm
có nhiệm vụ hướng đạo, dẫn đầu các tâm sở, vì nhờ tâm mà các
pháp tương ưng như thọ, tưởng, hành _ biết cảnh (cintenti
sampayuttadhammā
etenā ’ti cittaṃ)
Tâm
có biểu hiện là tiếp nối sanh diệt, vì tâm diển tiến thành
lộ trình (cittavīthi)
nối
tiếp nhau mãi thành đời sống tư tưởng.
Tâm có nhân cần thiết là danh sắc, tức là có danh uẩn tâm sở
(thọ, tưởng, hành) và sắc nghiệp 6 vật làm chổ trú.
Lại nữa, cần phải hiểu Tâm là pháp thực tín tạo ra sự đa
dạng loài hữu tình và vật vô tri, như câu
cittī koroti ’ti cittaṃ.
2/ Tâm sở (cetasika)
Tâm sở là pháp thực tính tương ưng với tâm, là thuộc tánh
của tâm; vì tâm là thức uẩn và tâm sở là thọ uẩn, tưởng uẩn,
hành uẩn. Bốn danh uẩn này luôn luôn đồng sanh (ekuppādā),
đồng diệt
(ekanirodhā),
đồng biết cảnh
(ekārammaṇā)
và đồng nương vật
(ekavatthukā).
Gọi là đồng sanh tức là khi tâm sanh khởi thì các tâm sở
tương ưng cũng sanh khởi.
Gọi là đồng diệt, tức là khi tâm ấy diệt mất thì các tâm sở
tương ưng cũng diệt mất.
Gọi là đồng biết cảnh, tức là khi tâm sanh biết cảnh nào thì
các tâm sở tương ưng cũng biết cảnh đó.
Gọi là đồng nương vật, tức là nhãn thức trú nhãn vật thì các
tâm sở tương ưng với nhãn thức cũng nương trú nhãn vật … ý
giới và ý thức giới trú ý vật thì các tâm sở tương ưng ý
giới và ý thức giới cũng nương trú ý vật.
Cõi
vô sắc, tâm không nương vật thì các tâm sở tương ưng cũng
không nương vật.
Có những câu pāli
chú
giải như sau:
Cetasi bhavaṃ cetasikaṃ, Thuộc
tánh của tâm gọi là tâm sở.
Cetasi
niyuttaṃ cetasikaṃ, tương
ưng với tâm gọi là tâm sở.
Tóm lại, tâm sở có đặc tính là nương đỡ tâm (cittanissitalakkhaṇaṃ).
3/
Sắc
(rūpa)
Đây là sắc siêu lý (rūpaparamattha)
hay sắc
pháp (rūpadhamma)
để không nhầm lẫn với cảnh sắc (sắc, thinh …v.v…)
Sắc pháp là pháp thực tính có tướng trạng biến hoại, đổi
dạng (ruppanalakkhaṇaṃ)
Sắc
pháp là thành phần vật chất bên trong thân và ngoài thân.
Sắc trong thân như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân …v.v… Sắc ngoài
thân như cỏ cây, đất, đá, kim loại …v.v… Tất cả sắc pháp ấy
đều có tính chất biến đổi do yếu tố xung khắc như gió, nắng,
nóng, lạnh, thời tiết, dưỡng tố …v.v… Như có câu pāli
chú
giải:
Sītuṇhādivirodhipaccayehi ruppatī ’ti rūpaṃ (biến
đổi do những yếu tố xung khắc như nóng, lạnh …v.v… gọi là
sắc pháp).
4/ Níp bàn (nibbāna)
Níp
bàn là pháp chơn đế có trạng thái tịch tịnh (santilakkhaṇaṃ),
có vị bất tử (accutarasaṃ),
một
thực tại vượt ngoài thế giới hiện tượng (animittapaccupaṭṭhāṇaṃ).
Níp bàn không còn bị phiền não khuấy động, nên gọi là trạng
thái tịch tịnh bình yên.
Níp bàn không còn ngủ uẩn sanh khởi, không sanh thì không
diệt, nên gọi là bất tử.
Níp bàn là pháp vô vi, không còn bị tạo tác, không có duyên
trợ sanh, không có hiện tượng sanh diệt nên gọi là một thực
tại vượt ngoài thế giới hiện tượng. Ngũ uẩn là thế giới hiện
tượng vì ngũ uẩn là hữu vi.
Giải tự danh từ nibbāna:
Chữ vāna:
sự
đan kết, bện thắt _ có pāli
giải
tự “vināti
saṃsibbatī ’ti vānaṃ, đan
kết, gọi là dệt; ái dệt hay ái bện, nói chung là chỉ cho
tham ái.
Và, “vānato
nikkhantaṃ ’ti nibbānaṃ”, thoát
khỏi ái tham, gọi là níp bàn.
Tiếng “níp bàn” là đọc âm, từ nibbāna;
Đọc âm từ nirvāna
thì
là “niết bàn”. Nibbāna
là
ngôn ngữ pāli;
Nirvāna
là
ngôn ngữ
saṇskrit.
Hai từ
này đồng nghĩa.
Tâm, tâm sở, sắc pháp, níp bàn là bốn pháp chân đế hay đệ
nhất nghĩa đế hay Siêu lý.
Đức Phật khi thuyết pháp thuộc kinh tạng và luật tạng thì
Ngài dùng ngôn ngữ tục đế, ngôn ngữ thường thức, để chúng
sanh dể nhận hiểu; khi Ngài thuyết vi diệu pháp thì Ngài
dùng ngôn ngữ pháp chơn đế, ngoại trừ bộ puggalapaññatti
phần
thứ 6.
Do vậy, ở đây sẽ bàn sâu về Bốn Pháp Chân đế và những gì có
liên quan.
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu
@@@@@ I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |