Đức Phật dạy có bốn dưỡng tố hay
thức ăn cho sự sống. Đoàn thực thực phẩm như cơm, bánh nuôi
thân; xúc thực là sự xúc tác của căn, cảnh và thức tạo nên
cảm thọ; tư niệm thực là sở hành tạo tác nuôi dưỡng sự tồn
tại của kiếp trầm luân; thức thực là tác động của tâm thức
đối với danh sắc. Trong bài kệ nầy vị thiên nêu lên câu hỏi
tầm thường về hưởng thụ ẩm thực. Đức Thế Tôn trả lời bằng kệ
ngôn nói về tư niệm thực hiền thiện. Câu trả lời thoạt nghe
như không liên quan tới câu hỏi nhưng kỳ thực là một cái
nhìn cao rộng của bậc Đại Giác.

Evaṃ
me sutaṃ :
Như vầy tôi nghe.
ekaṃ samayaṃ Bhagavā sāvatthiyaṃ
viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho aññatarā
devatā abhikkantāya
rattiyā
abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena
Bhagavā tenupasaṅkami upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ aṭṭhāsi.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthī (Xá-vệ),
Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô
Ðộc). Rồi một vị Thiên, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc
thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā
bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi :
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên
bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
(Vị
Thiên)
''Annamevābhinandanti, ubhaye devamānusā.
Atha ko nāma so yakkho, yaṃ annaṃ nābhinandatīti..
''Trời, Người, cả hai loài,
Ðều ưa thích ăn uống,
Vị Dạ-xoa tên gì,
Lại không thích ăn uống?
Bản hiệu đính:
Chư thiên và nhân loại
Đều thích thú ẩm thực
Thần thánh nào ở đời
Lại không thích ăn uống?(Thế
Tôn):
''Ye naṃ dadanti saddhāya, vippasannena cetasā.
Tameva annaṃ bhajati, asmiṃ loke paramhi ca..
''Tasmā vineyya maccheraṃ, dajjā dānaṃ malābhibhū.
Puññāni paralokasmiṃ, patiṭṭhā honti pāṇinanti..
''Ai cho với lòng tin,
Với tâm tư thanh tịnh,
Ðược phần món ăn ấy,
Ðời này và đời sau.
''Vậy hãy ngừa xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Hữu tình vững an trú,
Công đức trong đời sau.
Bản hiệu đính:
Ai cho với niềm tin,
Với tâm tư trong sáng
Được hưởng phần thọ thực
Đời nầy và đời sau
Hãy từ bỏ keo kiết
Bố thí, nhiếp cấu uế
Phước là chỗ nương tựa
Cho chúng sanh đời sau.

Tasmā vineyya maccheraṁ, dajjā dānaṁ malābhibh
> (bố thí được hiểu là) từ bỏ bỏn sẻn, vượt qua uế nhiễm của
phiền não.
patiṭṭhā
= nâng đỡ, làm chỗ nương cũng là một trong những định nghĩa
của chữ puññā (phước báu)

Yakkha thường đọc
âm và dạ xoa được hiểu như quỹ dữ. Trong kinh Phạm ngữ
Yakkha thường chỉ cho những phi nhân có uy lực lớn. Ngay cả
thiên chủ Đế Thích đôi lúc cũng được gọi là yakkha. Từ ngữ
nầy trong ngôn ngữ của chư thiên chỉ cho ‘bậc kiệt xuất”.