|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư ngày 14 tháng 07, 2021 GIÁO TRÌNH Trung Bộ Kinh-Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.
Trung Bộ Kinh
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH HƯỚNG DẪN BÀI HỌC Bài 151. Kinh Khất Thực Thanh Tịnh (Piṇḍapātapārisuddhi Sutta) -Khất Sĩ Đúng Nghĩa, phân đoạn 689 đến 690.
Khất thực hay trì bình sự nuôi mạng chân chánh của đời sống
sa môn. Tìm thực phẩm nuôi mạng thanh tịnh vô khuyết phạm
cũng là một thử thách cho người tu tập. Bài kinh nầy ghi lại
pháp thoại của Bậc Đại Giác về cái nhìn dung nhiếp giữa ba
điểm: đời sống thực tại, huân tu đạo giải thoát và tánh
không. Tánh không là đề tài thường gây nhiều ngộ nhận thậm
chí trong nhiều trường hợp còn dùng như một triết lý phủ bác
tất cả hành trình tu tập mang tánh tiệm tiến. Bài kinh nầy
làm sáng tỏ đề tài quan trọng đó.
689. Ngay cả một bậc đại thánh đệ tử khi an trú với không
tánh vẫn có sự thể hiện khác thường
Tôn giả Sāriputta sau giờ thiền định độc cư đến diện kiến
Đức Thế Tôn. Mặc dù bình thường vốn là một bậc viên mãn giải
thoát, trí tuệ siêu việt nhưng sau giờ nhập định với không
tánh vẫn toát ra một sự thanh tịnh trong sáng phi phàm ở
ngoại hình:
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc
lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivāpa). Rồi Tôn
giả Sāriputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư
đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi dến đảnh lễ Thế
Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả
Sāriputta đang ngồi một bên:
-- Này Sāriputta, các căn của Ông rất sáng suốt, sắc da
của Ông thanh tịnh trong sáng. Này Sāriputta, Ông nay đang
phần lớn an trú với loại an trú nào?
-- Bạch Thế Tôn, con nay đang phần lớn an trú với Không
trú.
690. Tánh không không phải là hư vô và càng không phải là sự
phủ nhận tất cả thiện pháp
Với Tôn giả Sāriputta, một đại đệ tử đệ nhất trí tuệ và
chứng trú không tánh, Đức Phật không cần phải hướng dẫn
phương cách tu tập. Tuy vậy Đức Phật vẫn thuyết pháp như sự
trao truyền lý thuyết nền tảng của giáo pháp, một sự thiết
lập chỉ có chư Phật toàn giác mới làm được. Theo Sớ giải thì
sự an trú với không tánh chỉ có những bậc đại sỹ
(mahāpurisa) mới thể nhập được và những bậc đại sỹ chỉ cho
Phật Toàn giác, Phật độc giác và các bậc đại thinh văn giác.
Những vị nầy không chỉ giác ngộ đơn thuần mà là trãi nghiệm
đầy đủ các giai đoạn tu tập và quán triệt từ phần một của
hành trình:
-- Lành thay, lành thay! Này Sāriputta, Ông nay đang phần
lớn an trú với sự an trú của bậc Ðại nhân. Này
Sāriputta, sự an trú của bậc Ðại nhân tức là không
tánh. Do vậy, này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo ước mong
rằng: "Mong rằng tôi nay phần lớn an trú với sự an trú
không tánh", thời này các Tỷ-kheo, Tỷ- kheo ấy cần
phải suy tư như sau: "Trên con đường ta đã đi vào làng
để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực, và trên
con đường từ làng ta đi khất thực trở về, tại chỗ
ấy, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên ở
nơi ta dục, tham, sân si, hay hận tâm không?"
Này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo sau khi tư duy biết rằng:
"Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại
trú xứ ta đã đi khất thực và trên con đường từ làng ta
đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận
thức, có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si hay hận
tâm", thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn
đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy. Nhưng này
Sāriputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như
sau: "Trên con đường ta đã đi... ta đi khất thực trở
về, đối với các sắc do mắt nhận thức, không có khởi
lên nơi dục, tham, sân, si hay hận tâm", thời này
Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan,
ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như
sau: "Trên con đường ta đã đi... ta đi khất thực trở
về, đối với các tiếng do tai nhận thức,.. đối với
các hương do mũi nhận thức,... đối với cácvị do
lưỡi nhận thức,... đối với các xúc do thân nhận
thức,... đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên
dục, tham, sân, si hay hận tâm không?"
Này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư biết được
như sau: "Trên con đường ta đã đi... , ta đi khất thực
trở về, đối với các tiếng do tai nhận thức,... đối
với các hương do mũi nhận thức,... đối với cácvị do
lưỡi nhận thức,... đối với các xúc do thân nhận
thức,... đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên
nơi ta dục, tham, sân, si, hay hận tâm", thời này
Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận các ác
bất thiện pháp ấy. Nhưng này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo
trong khi suy tư được biết như sau: "Trên con đường
ta đã đi..., ta đi khất thực trở về, đối với các
tiếng do tai nhận thức,... đối với các hương do mũi
nhận thức,... đối với cácvị do lưỡi nhận thức,...
đối với các xúc do thân nhận thức,... đối với các pháp
do ý nhận thức, không có khởi lên nơi ta dục, tham,
sân, si hay hận tâm", thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy
phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các
thiện pháp.
Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như
sau: "Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng chưa? Này
các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, trong khi suy tư được biết
như sau: "Ta chưa đoạn tận năm dục trưởng dưỡng",
thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận
năm dục trưởng dưỡng. Nhưng nếu, này Sāriputta,
Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Ta đã
đoạn tận năm dục trưởng dưỡng", thời này Sāriputta,
Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu
học trong các thiện pháp.
Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như
sau: "Ta đã đoạn tận năm triền cái chưa?" Nếu, này
Sāriputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như
sau: "Ta chưa đoạn tận năm triền cái", thời này
Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm
triền cái. Nhưng nếu, này Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi
suy tư được biết như sau: "Ta đã đoạn tận năm triền
cái ", thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với
hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: "Ta
có liễu tri năm thủ uẩn chưa?" Này Sāriputta, nếu
trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: "Ta chưa
có liễu tri năm thủ uẩn", thời này Sāriputta, Tỷ- kheo
ấy cần phải tinh tán liễu tri năm thủ uẩn. Nhưng
nếu, này Sāriputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo ấy được
biết như sau: "Ta đã liễu tri năm thủ uẩn", thời này
Sāriputta, vị Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân
hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như
sau: "Ta đã tu tập bốn niệm xứ chưa?" Này Sāriputta,
nếu trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết: "Ta chưa tu
tập bốn niệm xứ", thời này Sāriputta, vị Tỷ-kheo cần
phải tinh tấn tu tập bốn niệm xứ. Nhưng nếu, này
Sāriputta, trong khi suy tư Tỷ-kheo được biết như sau:
"Ta đã tu tập bốn niệm xứ ", thời này Sāriputta,
Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm
tu học trong các thiện pháp.
Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: "Ta
đã tu tập bốn chánh cần chưa? "... "Ta đã tu tập bốn
như ý túc chưa?"... "Ta đã tu tập năm căn chưa?"...
"Ta đã tu tập năm lực chưa?"... "Ta đã tu tập bảy giác
chi chưa?"... Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải
suy tư như sau: "Ta đã tu tập Thánh đạo Tám ngành
chưa?" Nếu Tỷ-kheo, này Sāriputta, trong khi suy tư
được biết như sau: "Ta chưa tu tập Thánh đạo Tám
ngành, " thời này Sāriputta Tỷ-kheo ấy cần phải tinh
tấn tu tập Thánh đạo Tám ngành. Nhưng nếu, này
Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau:
"Ta đã tu tập Thánh đạo Tám ngành, " thời này Sāriputta,
Tỷ-kheo ấy cần phải an trú trong hỷ và hân hoan, ngày
đêm tu học trong các thiện pháp.
Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: "Ta
đã tu tập Chỉ và Quán chưa? " Nếu Tỷ-kheo, này
Sāriputta, trong khi suy tư được biết như sau: "Ta
chưa tu tập Chỉ và Quán ", thời này Sāriputta, Tỷ- kheo
ấy cần phải tinh tấn tu tập Chỉ và Quán. Nhưng nếu,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết
như sau: "Ta đã tu tập Chỉ và Quán ", thời này
Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân
hoan, ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như
sau: "Ta đã chứng ngộ minh và giải thoát chưa? " Nếu
Tỷ-kheo, này Sāriputta, trong khi suy tư được biết như
sau: "Ta chưa chứng ngộ minh và giải thoát", thời này
Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập minh và
giải thoát.
Nhưng nếu, này Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư
được biết như sau: "Ta đã chứng ngộ minh và giải
thoát ", thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú
với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
Này Sāriputta, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời
quá khứ đã làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả
những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh
bằng cách suy tư, suy tư như vậy.
Này Sāriputta, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời
gian tương lai sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh,
tất cả những vị ấy sẽ làm cho khất thực được thanh
tịnh, bằng cách suy tư, suy tư như vậy.
Và này Sāriputta, những Sa-môn, Bà-la-môn nào trong thơi
hiện tại, làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả
những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh,
bằng cách suy tư, suy tư như vậy.
Vậy này Sāriputta, các Ông cần phải học tập như sau:
"Sau khi suy tư, suy tư, chúng ta sẽ làm cho khất thực
được thanh tịnh". Này Sāriputta, các Ông phải tu tập
như vậy.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Sāriputta hoan
hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Phân đoạn & chú thích: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo-
|