|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư ngày 21 tháng 07, 2021 GIÁO TRÌNH Trung Bộ Kinh-Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.
Trung Bộ Kinh
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH HƯỚNG DẪN BÀI HỌC Bài 152. Kinh Căn Tu Tập (Indriyabhāvanā Sutta) -Trọng điểm của sự tu tập, phân đoạn 691 đến 695.
Chữ indriya dịch là căn ở đây chỉ cho các giác quan như
nhãn căn, nhĩ căn…. Bà la môn Uttara đến diện kiến Đức Phật.
Khi được hỏi thầy của Uttara dạy thế nào về sự tu tập các
căn thì vị nầy trả lời là không thấy, không nghe…. Sau đó
Đức Phật đã dạy về sự tu tập đối với các căn trong Phật
Pháp. Pháp thoại chứa
đựng sự phân tích chi tiết về sự quán chiếu chánh niệm đối
với các sáu căn. Đây là bài kinh cuối cùng của Trung Bộ và
chứa đựng nhiều hướng dẫn về pháp hành.
691. Chỉ đơn thuần đóng kín các căn môn không phải là phương
cách tu tập
Đôi khi người ta cũng đồng ý là các giác quan là cửa
ngõ của phiền não hệ luỵ nhưng không phải vì vậy mà đưa ra
phương cách tốt để tự chế:
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn ở Kajangalā, tại Mukheluvana.
Rồi thanh niên Bà-la-môn Uttara, đệ tử của Pāsāriya đi
đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những
lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào
đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Thế
Tôn nói với thanh niên Bà-la-môn Uttara, đệ tử của
Pāsāriya đang ngồi một bên:
-- Này Uttara, Bà-la-môn Pāsāriya có thuyết về căn
tu tập cho các đệ tử không?
-- Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Pasariya có thuyết
về căn tu tập cho các đệ tử.
-- Nhưng này Uttara, Bà-la-môn Pāsāriya thuyết về
căn tu tập cho các đệ tử như thế nào?
-- Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, không nên thấy sắc
với mắt, không nên nghe tiếng với tai. Như vậy, thưa
Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Pāsāriya thuyết căn tu tập cho
các đệ tử.
-- Nếu là như vậy, này Uttara, theo như lời nói
của Bà-la-môn Pāsāriya, người mù sẽ là người có căn
tu tập, người điếc sẽ là người có căn tu tập. Này
Uttara, người mù không thấy sắc với mắt, người điếc
không nghe tiếng với tai.
Khi được nói vậy, thanh niên Bà-la-môn Uttara đệ
tử của Pāsāriya ngồi im lặng, hổ thẹn, thụt vai, mặt
cúi gầm xuống, trầm ngâm, không nói năng gì.
692. Muốn nhiếp hộ các căn phải hiểu rõ các căn
Một viên tướng giỏi giữa thành không đơn giản là khoá
kín các cổng ra vào mà còn phải hiểu nhiều về chiến lược,
chiến thuật phòng thủ:
Rồi Thế Tôn, sau khi biết được Uttara, đệ tử
của Pāsāriya im lặng, hổ thẹn, thụt vai, mặt cúi gầm
xuống, trầm ngâm, không nói năng gì, liền gọi Tôn giả
Ānanda và nói:
-- Này Ānanda, Bà-la-môn Pāsāriya thuyết cho các đệ
tử căn tu tập một cách khác; nhưng trong giới luật
các bậc Thánh, vô thượng căn tu tập khác như vậy.
-- Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời ! Bạch Thiện
Thệ nay đã đến thời để Thế Tôn thuyết vô thượng căn
tu tập trong giới luật bậc Thánh. Sau khi nghe Thế Tôn,
các vị Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
-- Vậy này Ānanda, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ
giảng.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ānanda vâng
đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Này Ānanda, thế nào là vô thượng căn tu tập
trong giới luật bậc Thánh? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-
kheo, mắt thấy sắc, khởi lên khả ý, khởi lên bất khả
ý, khởi lên khả ý bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau:
"Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên,
khả ý bất khả ý này khởi lên. Cái này khởi lên, vì là
hữu vị nên thô. (Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là
thù diệu, tức là xả". Cho nên, dầu cho cái gì khởi lên
là khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, tất cả
đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Này
Ānanda, như một người có mắt, sau khi mở mắt, lại
nhắm mắt lại, hay sau khi nhắm mắt, lại mở mắt ra;
cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau
chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi
lên, khả ý bất khả ý hay khả ý bất khả ý, (tất cả)
đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Trong
giới luật bậc Thánh, này Ānanda, như vậy gọi là vô
thượng căn tu tập đối với các sắc do mắt nhận
thức.
Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo tai nghe tiếng khởi
lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất
khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: "Khả ý này khởi lên
nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả ý này
khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô.
(Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là
xả". Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả
ý, hay khả ý bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong
vị ấy), và xả tồn tại. Này Ananda, như một người
lực sĩ có thể búng tay một cách dễ dàng; cũng vậy,
như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy
là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất
khả ý hay khả ý bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt
(trong vị ấy) và xả tồn tại. Trong giới luật bậc
Thánh, này Ānanda, như vậy gọi là vô thượng căn tu
tập đối với các tiếng do tai nhận thức.
Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo do mũi ngửi hương
khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý
bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: "Khả ý này khởi
lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả này
khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô.
(Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là thù diệu,
tức là xả". Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý,
bất khả ý hay khả ý bất khả ý, tất cả đều đoạn
diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại. Này Ānanda, như
những giọt nước mưa chảy trượt đi, không có đọng
lại trên một lá sen hơi chúc xuống; cũng vậy, như
vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là
sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất
khả ý hay khả ý bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt
(trong vị ấy), và xả tồn tại. Trong giới luật bậc
Thánh, này Ānanda, như vậy gọi là vô thượng căn tu
tập đối với các hương do mũi nhận thức.
Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo lưỡi nếm vị khởi
lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất
khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: "Khả ý này khởi lên
nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả ý này
khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô.
(Nhưng) cái này là an tinh, cái này là thù diệu, tức là
xả". Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả
ý, hay khả ý bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong
vị ấy) và xả tồn tại. Này Ānanda, như một người
lực sĩ có thể nhổ ra một cách dễ dàng cục đờm đọng
lại trên đầu lưỡi; cũng vậy, như vậy là tốc độ,
như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối
với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý
bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy) và
xả tồn tại. Trong giới luật bậc Thánh, này Ānanda,
như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các vị
do lưỡi nhận thức.
Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo thân cảm xúc khởi lên
khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý.
Vị ấy tuệ tri như sau: "Khả ý này khởi lên nơi ta,
bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả ý này khởi lên.
Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. (Nhưng) cái này
là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả". Cho nên
dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý
bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và
xả tồn tại. Này Ānanda, ví như một người có thể co
duỗi cánh tay được co lại của mình, hay co lại cánh
tay duỗi ra của mình; cũng vậy, như vậy là tốc độ,
như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối
với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý
bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy) và
xả tồn tại. Trong giới luật bậc Thánh, này Ānanda,
như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các xúc
do thân nhận thức.
Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo, ý nhận thức các pháp
khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý. Khởi lên khả ý
bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: "khả ý này khởi
lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả ý
này khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô.
(Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là
xả". Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả
ý hay khả ý bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong
vị ấy), và xả tồn tại. Này Ānanda, như một người
cho nhỏ hai ba giọt nước trong một cái chậu bằng sắt
đun nóng mỗi ngày, này Ānanda, các giọt nước rơi rất
chậm nhưng chúng bị tiêu diệt, biến đi rất mau, cũng
vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng,
như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên khả
ý, bất khả ý hay khả ý bất khả ý, (tất cả) đều đoạn
diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại. Trong giới luật
bậc Thánh, này Ānanda, như vậy gọi là vô thượng căn
tu tập đối với các pháp do ý nhận thức.
Như vậy, này Ānanda, là vô thượng căn tu tập
trong giới luật bậc Thánh.
693. Sự tu tập các căn của bậc thánh hữu học
Các bậc thánh sơ quả, nhị quả, tam quả tuy không còn bị
sa đoạ bởi căn cảnh nhưng vẫn còn thích, không thích trong
một số trường hợp (…) dù vậy các ngài có tàm quý và nhàm
chán đối với sự giao động của tâm:
Và này Ānanda, thế nào là đạo lộ của vị hữu học?
Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo mắt thấy sắc khởi lên khả
ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý. Vì
rằng có khả ý khởi lên, có bất khả ý khởi lên, có khả
ý bất khả ý khởi lên, vị ấy ưu não, tàm quý, ghét bỏ.
Sau khi tai nghe tiếng..., mũi ngửi hương..., lưỡi
nếm vị..., thân cảm xúc..., sau khi ý nhận thức pháp,
vị ấy khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên
khả ý bất khả ý. Vì rằng có khả ý khởi lên, có bất
khả ý khởi lên, có khả ý bất khả ý khởi lên, vị ấy
ưu não, tàm quý, ghét bỏ. Như vậy, này Ānanda là đạo
lộ của vị hữu học.
694. Một vị đã tu tập viên mãn (A la hán) đối với các căn
môn
Theo
Patiṣambhidāmagga (Vô Ngại Giải Đạo)
giải thích sự phân
biệt cảnh khả ý, không khả ý của các bậc lậu tận A la hán có
năm trường hợp gọi là năng lực siêu nhiên của bậc thánh (ariya iddhi):
1. Phân biệt khả ý, không khả ý khi khởi sanh từ
tâm (mong cho chúng sanh được những điều khả ý).
2. Phân biệt khả ý, không khả ý khi quán sát tánh vô
thường (như khi thấy chúng sanh lúc trẻ đẹp, lúc già nua).
3. Quán sát vui khổ để thấy sự nhất thể của cảm thọ.
4. Quán sát sự sanh diệt của hiện tượng tương phản
nhưng cùng bản chất.
5. Quán sát vui khổ, khả ý và bất khả ý để thể nhập
không tánh. Tất cả những cảm nhận nầy hết sức tế nhị và tuỳ
tâm chứ không do chi phối bởi căn cảnh.
Và này Ānanda, thế nào là bậc Thánh, các căn được
tu tập? Ở đây, này Ānanda, sau khi mắt thấy sắc, vị
Tỷ-kheo khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên
khả ý bất khả ý. Nếu vị ấy khởi lên ước muốn:
"Mong rằng tôi an trú với tưởng không yếm ly đối với
(sự vật) yếm ly", thời ở đây, vị ấy an trú với
tưởng không yếm ly. Nếu vị ấy khởi lên ước muốn:
"Mong rằng tôi an trú với tưởng yếm ly đối với (sự
vật) không yếm ly", thời ở đây, vị ấy an trú với
tưởng yếm ly. Nếu vị ấy khởi lên ước muốn; "Mong
rằng tôi an trú với tưởng không yếm ly đối với (sự
vật) yếm ly và (sự vật) không yếm ly", thời ở đây,
vị ấy an trú với tưởng không yếm ly. Nếu vị ấy
khởi lên ước muốn: "Mong rằng tôi an trú với tưởng
yếm ly", đối với (sự vật) không yếm ly và (sự vật)
yếm ly", thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng yếm ly.
Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: "Mong rằng tôi sau khi
từ bỏ cả hai yếm ly và không yếm ly, an trú xả, chánh
niệm, tỉnh giác ", thời ở đây, vị ấy an trú xả chánh
niệm, tỉnh giác.
Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo sau khi tai nghe
tiếng..., mũi ngửi hương..., lưỡi nếm vị..., thân
cảm xúc..., ý nhận thức pháp, vị Tỷ-kheo khởi lên khả
ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý. Nếu
vị ấy khởi lên ước muốn: "Mong rằng tôi an trú với
tưởng không yếm ly đối với (sự vật) yếm ly", thời
ở đây, vị ấy an trú với tưởng không yếm ly. Nếu vị
ấy khởi lên ước muốn: "Mong rằng ta an trú với
tưởng yếm ly (đối với sự vật) không yếm ly", thời
ở đây, vị ấy an trú với tưởng yếm ly. Nếu vị ấy
khởi lên ước muốn: "Mong rằng tôi an trú với tưởng
không yếm ly (đối với sự vật) yếm ly và (sự vật)
không yếm ly", thời ở đây, vị ấy sống an trú với
tưởng không yếm ly. Nếu vị ấy khởi lên ước muốn:
"Mong rằng tôi an trú với tưởng yếm ly (đối với sự
vật) không yếm ly và sự vật yếm ly", thời ở đây, vị
ấy an trú với tưởng yếm ly. Nếu vị ấy khởi lên
ước muốn: "Mong rằng tôi, sau khi từ bỏ cả hai yếm
ly và không yếm ly, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác",
thời ở đây, vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
Như vậy, này Ānanda, là bậc Thánh, các căn được
tu tập.
695. Đức Phật giảng
dạy cặn kẽ giáo pháp với mục đích duy nhất: vì lợi ích cho
các đệ tử.
Đức Thế Tôn không để lại kho tàng giáo pháp to lớn vì
ưa chuộng triết lý hay vì muốn thu thập đông đảo tín đồ mà
duy nhất vì tâm đại từ, đại bi với chúng sanh:
Như vậy, này Ānanda, Ta đã giảng vô thượng căn tu
tập trong giới luật bậc Thánh, đã giảng đạo lộ của
bậc hữu học, đã giảng bậc Thánh, các căn được tu
tập. Này Ānanda, những gì một bậc Ðạo sư phải làm, vì
lòng từ mẫn, mưu cầu hạnh phúc cho các đệ tử, những
điều ấy Ta đã làm cho các Ông. Này Ānanda, đây là những
gốc cây, đây là những chỗ trống. Này Ānanda, hãy Thiền
tư, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là
những lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan
hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Phân đoạn & chú thích: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo-
|