BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 02 tháng 07, 2022

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG VII. TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN ,(S.i,166)- PHẨM THỨ NHẤT.

Bài 8. Kinh Aggika (Aggikasuttaṃ) -THẤY VẬY KHÔNG PHẢI VẬY.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png  

 

 

 

Ở đời có nhiều thứ trùng tên nhưng rất khác. Tam minh trong Bà la môn giáo không giồng với tam minh trong Phật Pháp. Cúng phẩm cũng vậy. Đồ cúng thần  linh không giống với thực phẩm cúng dường Phật và chư tăng. Một người có chủ ý đem thực phẩm cúng tế rồi lấy đó cúng Phật hay cúng chư tăng là điều đi ngược lại nguyên tắc của chư Phật.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena aggikabhāradvājassa brāhmaṇassa sappinā pāyaso sannihito hoti – ‘‘aggiṃ juhissāmi, aggihuttaṃ paricarissāmī’’ti.

Tôi được nghe như vầy

Thuở ấy Đức Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), chùa Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivāpa (khu vực cho sóc ăn trong chùa).

Bấy giờ, cơm đề hồ và sữa đông được chuẩn bị cho bà la môn Aggika Bhāradvāja vốn có chủ ý: “ta sẽ cúng thần lửa, ta sẽ thực hiện nghi thức bái hoả”

Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṃ piṇḍāya pāvisi. Rājagahe sapadānaṃ piṇḍāya caramāno yena aggikabhāradvājassa brāhmaṇassa nivesanaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Addasā kho aggikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ piṇḍāya ṭhitaṃ. Disvāna bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

‘‘Tīhi vijjāhi sampanno, jātimā sutavā bahū;
Vijjācaraṇasampanno, somaṃ bhuñjeyya pāyasa’’nti.

Vào buổi sáng Đức Thế Tôn đắp y, cầm y kép và bình bát đi vào Rājagaha để khất thực. Trong lúc đi khất thực theo cách tuần tự ở Rājagaha, Đức Thế Tôn đi ngang trú xứ của bà la môn Aggika Bhāradvāja và đứng trước nhà.

Bà la môn Aggika Bhāradvāja thấy Thế Tôn đi khất thực liền nói với Đức Thế Tôn bằng kệ ngôn

Người đầy đủ ba minh
Thiện sanh và đa văn
Tri, hành đồng viên mãn
Có thể thọ món nầy

(Thế Tôn)

‘‘Bahumpi palapaṃ jappaṃ, na jaccā hoti brāhmaṇo;
Antokasambu saṃkiliṭṭho, kuhanāparivārito.
‘‘Pubbenivāsaṃ yo vedī, saggāpāyañca passati;
Atho jātikkhayaṃ patto, abhiññāvosito muni.
‘‘Etāhi tīhi vijjāhi, tevijjo hoti brāhmaṇo;
Vijjācaraṇasampanno, somaṃ bhuñjeyya pāyasa’’nti.
Không phải do thọ sanh

Hay trì niệm kinh chú
Mà trở thành “phạm chí”
Nếu hủ hoá, ô nhiễm
Sống dựa trên giả dối
Ai biết được đời trước
Biết cảnh giới khổ vui
Đoạn tận sự tái sanh
Mâu ni chứng ba minh
Vị ấy bậc tam minh
Là bậc Minh Hạnh Túc
Đáng thọ thực phẩm nầy
Này hỡi Bà la môn

(Bà la môn Aggika Bhāradvāja)

‘‘Bhuñjatu bhavaṃ gotamo. Brāhmaṇo bhava’’nti.

- Mong Tôn giả thọ lãnh thực phẩm này. Tôn giả Gotama đích thực là Phạm chí.

(Thế Tôn):

‘‘Gāthābhigītaṃ me abhojaneyyaṃ,
Sampassataṃ brāhmaṇa nesa dhammo;
Gāthābhigītaṃ panudanti buddhā,
Dhamme sati brāhmaṇa vuttiresā.
‘‘Aññena ca kevalinaṃ mahesiṃ,
Khīṇāsavaṃ kukkuccavūpasantaṃ;
Annena pānena upaṭṭhahassu,
Khettañhi taṃ puññapekkhassa hotī’’ti.

Ta không dùng cúng phẩm
Hỡi phạm chí, ấy là
Nguyên tắc bậc kiến giả
Không thọ dụng tế phẩm
Là thường pháp chư Phật
Này hỡi bà la môn
Hãy cúng thực phẩm khác
Bậc kiến giả, Thắng giả
Bậc đoạn lậu, Bất hối
Ruộng phước cho người trồng

Evaṃ vutte, aggikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘abhikkantaṃ, bho gotama... pe... aññataro ca panāyasmā aggikabhāradvājo arahataṃ ahosī’’ti.

Ðược nghe vậy, bà la môn Aggika  Bhāradvāja bạch Đức Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Diệu Pháp được Tôn giả Gotama hiển bày như người dựng đứng những gì bị ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, hay đem đèn sáng vào chỗ tăm tối để những ai có mắt thấy được. Con xin nương tựa Đức Thế Tôn Gotama, xin nương tựa Pháp, xin nương tựa tỳ khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia với Đức Thế Tôn, và được thọ đại giới.

Bà la môn Aggika  Bhāradvāja được xuất gia và thọ đại giới từ Đức Thế Tôn.

Thọ giới không lâu, Tôn giả Aggika  Bhāradvāja sống độc cư, viễn ly, cần mẫn, không xao lãng, quyết tâm và tự thân chứng ngộ chánh trí ngay trong kiếp hiện tại. Đây chính là cứu cánh mà những thiện gia nam tử đi tu sống không gia đình hướng tới. Vị ấy chính mình biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa".

Và Tôn giả Aggika  Bhāradvāja trở thành một vị A-la-hán nữa..

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

‘‘Tīhi vijjāhi sampanno =

 jātimā sutavā bahū =

Vijjācaraṇasampanno =

somaṃ bhuñjeyya pāyasa’’nti =

‘‘Bahumpi palapaṃ jappaṃ =

na jaccā hoti brāhmaṇo =

Antokasambu saṃkiliṭṭho =

Kuhanāparivārito =

‘‘Pubbenivāsaṃ yo vedī =

saggāpāyañca passati =

Atho jātikkhayaṃ patto =

abhiññāvosito muni =

‘‘Etāhi tīhi vijjāhi =

tevijjo hoti brāhmaṇo =

Vijjācaraṇasampanno =

somaṃ bhuñjeyya pāyasa’’nti =

‘‘Gāthābhigītaṃ me abhojaneyyaṃ =

Sampassataṃ brāhmaṇa nesa dhammo =

Gāthābhigītaṃ panudanti buddhā =

Dhamme sati brāhmaṇa vuttiresā =

‘‘Aññena ca kevalinaṃ mahesiṃ =

Khīṇāsavaṃ kukkuccavūpasantaṃ =

Annena pānena upaṭṭhahassu =

Khettañhi taṃ puññapekkhassa hotī’’ti =

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Tên Aggika có nghĩa là người thờ lửa/

Tam minh – Tevijjā – trong ý nghĩ của ông bà la môn là sự tinh thông Tam Phệ Đà (veda). Đức Phật dùng chữ tam minh để chỉ túc mạng minh, sanh tử minh, và lậu tận minh.

Chữ Gāthābhigītaṃ chỉ cho đồ cúng. Khi thực phẩm hiến lễ thì được tán tụng với kinh văn. Cúng xong thì đem bố thí hoặc thọ dụng. Chư Phật không thọ dụng đồ cúng như vậy.

 

Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-