|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 03 tháng 07, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ III. Phẩm Tâm _ Kệ số 1&2
Duyên sự: Hai
bài kệ nầy được đức Phật thuyết khi Ngài trú tại núi Cālikā
ở xứ Cālikā, do câu chuyện đại đức Meghiya, thị giả của đức
Thế Tôn lúc tôn giả Ānanda chưa là thị giả. Một
buổi sáng nọ, tỳ kheo Meghiya muốn đi vào làng Jantu khất
thực một mình đã xin phép đức Phật. Đức Phật chấp thuận. Tỳ
kheo Meghiya một mình đi vào làng Jantu khất thực. Sau bữa
ăn, vị ấy kinh hành trên bờ sông Kimikālā thấy một rừng xoài
yên tĩnh ngoạn mục, mới nghĩ rằng: “khu rừng xoài nầy hữu
tình, thật thích hợp để hành thiền”. Rồi tỳ kheo Meghiya trở
về gặp đức Phật xin phép: “Bạch Thế Tôn, ở kia con thấy có
khu rừng xoài yên tĩnh ngoạn mục, con muốn đến khu rừng xoài
ấy để tinh tấn hành thiền. Xin Thế Tôn cho phép con”. Đức
Phật nói với tỳ kheo Meghiya: “Hãy thong thả, chờ đợi đến
khi có vị tỳ kheo khác làm thị giả cho ta rồi ngươi hãy đi.
Nay ta chỉ có một mình. Mặc dù
đức Thế Tôn ngăn như vậy nhưng tỳ kheo Meghiya vẫn nài nỉ
xin Ngài cho phép: “Bạch Thế Tôn, đối với Thế Tôn đã hoàn
tất việc nên làm, không có gì cần phải làm thêm nữa. Nhưng
đối với con, phạm hạnh chưa thành mãn, vẫn còn việc cần phải
làm thêm. Xin Thế Tôn cho phép con đi đến rừng xoài kia để
tinh tấn tu hành. “Đức Thế Tôn cũng khuyên ngăn Meghiya”. Đến
lần thứ ba, tỳ kheo vẫn nài xin đức Thế Tôn cho phép đi đến
rừng xoài để tinh tấn thiền định. Đức Thế Tôn bảo: “Nếu
ngươi đã nói để tinh tấn thiền định, thì ta còn nói được gì
nữa, vậy ngươi hãy đi và làm những gì ngươi thích”. Tỳ
kheo Meghiya bỏ y bát đức Thế Tôn xuống, để đức Thế Tôn ở
lại một mình không có thị giả. Rồi ra đi đến nơi rừng xoài. Tỳ
kheo Meghiya đi sâu vào rừng xoài và trú trong rừng xoài ấy
ngồi dưới một gốc cây. Nhưng tâm của tỳ kheo Meghiya luôn bị
phân tán, không an trú đề mục được, phần lớn ba bất thiện
tầm sanh khởi. Tỳ
kheo Meghiya bèn trở về đảnh lễ bậc Đạo Sư và sám hối lỗi
lầm đã cãi lời đức Phật. Đức Phật đã khiển trách: “Ngươi đã
quá nông nổi, ta ngăn cản ba lần mà ngươi vẫn cãi lời và bỏ
ta lại một mình không có thị giả”, rồi đức Phật dạy Meghiya
những pháp làm cho tâm được thuần thục. Dạy xong, đức Phật
đã nói lên hai bài kệ pháp cú: “Phandanaṃ capalaṃ cittaṃ,
tâm chập chờn dao động ..v.v..”. Khi
dứt bài kệ tỳ kheo Meghiya an trú quả Dự lưu.
Chánh văn: (dhp
33)
Phadanaṃ capalaṃ cittaṃ (dhp
34)
Vārijo’ va thale khitto
Thích văn:
phadanaṃ
[chủ cách số ít của danh từ trung tính
phandana] sự
chao đảo, chập chờn.
capalaṃ
[chủ
cách số ít trung tính của tính của tính từ
capala] rung
động, dao động.
cittaṃ
[chủ
cách số ít của danh từ trung tính
citta] tâm, tư
tưởng.
durakkhaṃ
[chủ
cách số ít trung tính của tính từ hợp thể
durakkha
(du + rakkha)] khó hộ trì, khó gìn giữ.
dunnivārayaṃ
[chủ
cách số ít trung tính của tính từ hợp thể
dunnivāraya (du
+ nivāraya)] khó ngăn cản, khó ngăn chận, khó kềm chế.
ujuṃ
[đối cách số ít của tính từ
uju] ngay thẳng.
karoti
[thì
hiện tại ngôi III số ít, động từ
karoti
(kar + o)] làm, uốn nắn.
medhāvī
[chủ cách số ít của danh từ nam tính
medhāvī]
người trí, bậc trí tuệ.
usukāro’ va
[hợp
âm (usukāro iva)]
usukāro
[chủ cách số
ít của danh từ hợp thể nam tính
usukāra
(usu + kāra)].
iva
[bất biến từ] ví như, như là.
tejanaṃ
[đối
cách số ít của danh từ trung tính
tejana]
cây tên, mũi tên.
vārijo’ va
[hợp
âm (vārijo iva)]
vārijo
[chủ cách số ít của danh từ hợp thể
vārija (vāri +
ja do căn jan)] sanh trong nước, con cá.
thale
[định
sở cách số ít của danh từ trung tính
thala] trên đất
liền, trên mặt đất, trên cạn.
khitto
[chủ cách số ít của khitta quá khứ phân từ của động từ
khipati]
bị quăng đi, bị ném đi, bị thảy lên.
okamokata
[okamokato (oka_m_oka + to)_hình
thức xuất xứ cách với
(to)] từ
vùng nước, khỏi vùng nước, ra khỏi môi trường nước.
ubbhato
[chủ cách số ít của ubbhata quá khứ phân từ của động từ
ubbharati]
kéo lên, vớt lên.
pariphandati’daṃ
[hợp
âm (pariphandati idaṃ)]
pariphandati
[động từ
hiện tại ngôi III số ít (pari +
căn phand + a)] giãy giụa, vùng vẫy.
idaṃ
[chủ
cách số ít trung tính của đại từ ima] nầy, cái nầy.
idaṃ cittaṃ:
tâm
nầy.
māradheyyaṃ
[đối
cách số ít của danh từ hợp thể trung tính
māradheyya
(māra + dheyya)] ma giới, cảnh giới của ma, lãnh vực
của ma.
pahātave
[động từ
nguyên mẫu (pa + căn hā +
tave/tuṃ] để từ bỏ, để đoạn lìa.
Việt văn: (pc 33)
Chuyển văn:
Phandanaṃ capalaṃ durakkhaṃ dunnivārayaṃ cittaṃ medhāvī ujuṃ
karoti usukāro iva tejanaṃ (karoti). Tâm
vốn chập chờn, dao động , khó canh phòng, khó ngăn chận _
người trí luyện tâm ngay thẳng như người làm tên uốn nắn mũi
tên.
Okamokato ubbhato thale khitto vārijo iva idaṃ cittaṃ
pariphandati māradheyyaṃ pahātave. Như cá
bị vớt khỏi môi trường nước và vứt lên trên bãi cạn, tâm nầy
cũng vùng vẫy khi cố từ bỏ cảnh giới ma.
Lý giải: Hai
bài kệ nầy được thuyết liên quan với nhau. Ở bài kệ trước
đức Phật mô tả đặc tính của tâm: chập chờn, dao động, khó
canh phòng, khó ngăn chận. Rồi Ngài dạy, người trí uốn nắn
tâm cho ngay thẳng như người vót tên uốn nắn mũi tên cho
thẳng để tên bắn đi không bị lệch mục tiêu. Ở bài kệ sau, vì pahātave dùng ngữ pháp là vị biến cách nguyên
mẫu (pa + hā + tuṃ/tave) nghĩa là “để từ bỏ”, thế thì nối
tiếp ý nghĩa bài kệ trước: Medhāvī ujuṃ karoti māradheyyaṃ
pahātave _ bậc trí nắm tâm ngay để từ bỏ ma giới. Thế nhưng,
được cảnh báo là tâm nầy vốn thích thú trong môi trường năm
dục lạc (pañcakāmaguṇālayābhirataṃcittaṃ) gọi là ma
giới, nên khi hành giả kéo tâm ra khỏi ma giới ấy và đặt tâm
lên đề mục quán (vipassanākammaṭṭhānekhittaṃ) thì
tâm sẽ vùng vẫy không thể trụ yên, ví như con cá khi bị vớt
ra khỏi môi trường nước, vứt lên bãi cạn, nó sẽ vùng vẫy
không nằm yên. Tuy vậy, vị hành giả có trí không bỏ cuộc, vẫn phải uốn nắn
tâm ngay thẳng để đoạn trừ phiền não luân hồi. Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |